*
* *
- Dãn cách ra, đừng có dúm vào
nhau, chết cả lũ. Mọi người nghe này, pháo bắn thẳng không như pháo bắn cầu
vồng, nghe thấy tiếng rít là xong đời. Vừa đi vừa nhìn lên dãy núi bên kia sông
Lô, thấy chớp lửa phải nằm ngay xuống, nghe chưa. – C trưởng dặn đơn vị khi rẽ xuống
đường sát cạnh sông Lô.
Tuấn “trắng” chỉ về phía trước:
- Sắp tới chỗ xe tăng cháy rồi,
cẩn thận.
- Nhanh lên, trống thế này chúng
nó nhìn thấy đấy! - Mọi người giục nhau chạy.
Quấn áo mưa bất tiện, không chạy
nhanh được và khó quan sát, cả Cường và Huy đều cởi bỏ, nhét vào khe đá. Bên
kia đường, thấp thoáng qua những bụi vầu cụt ngọn là dòng nước sông Lô đỏ
quạch. Tiếng nước sông va vào đá rào rào như tiếng mưa. Bờ bên kia là dãy núi trải
dài theo triền sông, cao sừng sững như bức tường thành. Chỗ nào là ổ ba bẩy ly,
chỗ nào chúng đặt mười hai ly bẩy trên sườn núi dốc đứng ấy?
Chạy! Qua đoạn hào nông, Huy kéo
Hoàng chạy nhanh tới nấp sau tảng đá. Huy đảo mắt quan sát dọc theo triền núi.
Những khoảng đất đỏ nham nhở hay những khoảng trắng toát đá là con mắt bọn chó
ấy rình mò lính mình hành quân vào để cắn trộm.
Ré..éo! Cành! Một quả đạn cối sáu
nổ gần.
Xe tăng cháy kia! Huy lại kéo
Hoàng chạy tới nấp vào phía sau chiếc xe tăng cháy.
Thở đã! Huy tựa lưng vào bánh
xích xe tăng, hít một hơi dài căng lồng ngực lấy lại bình tĩnh. Đường thì nhỏ
hẹp, núi thì cao, không hiểu sao lại điều xe tăng đánh lên?
Cành! Cành! Những quả đạn chắc ba
bẩy ly bắn vào vách đá nổ giòn. Mảnh vụn của đá rơi rào rào. Bây giờ Huy buộc
phải lao về phía tiếng nổ ấy. Chạy nhanh chưa chắc đã thoát. Biết nó bắn lúc
nào để chạy. Đạn tránh người chứ người tránh sao được đạn. Huy hít tiếp một hơi
dài, lấy bình tĩnh, chuẩn bị tư thế chạy.
Ré..éo! Phành! Quầng lửa bùng lên
chỗ đường hào cách Huy vài chục mét. Ánh lửa đỏ như màu máu.
C trưởng Tước chạy tới cạnh Huy,
hỏi:
- Thằng nào vừa chạy tới chỗ ấy
đấy?
Huy trả lời:
- B hai. Chắc không sao, em thấy chúng
nó qua đoạn ấy rồi.
C trưởng hô:
- Chạy! Chúng mày!
Cả ba anh em bật dậy chạy. May,
không có đường đạn nào đuổi theo.
Chạy đứt hơi. Lồng ngực thắt lại,
đau nhói, xây xẩm mặt. Huy trượt chân ngã quỵ gối xuống lòng hào. Thở hổn hển.
- Không nhìn à! Dẫm mẹ nó vào
chân tôi rồi.
Có tiếng người quát Huy. Đứa nào
thế, tao mệt hoa mắt không nhìn thấy gì. Huy muốn nói mà không nói được.
- Dừng lại à?
- Có phải Hoàng “dở” không? – Nhận
ra tiếng Hoàng, Huy vừa thở vừa hỏi.
- Không nhìn thấy gì à?
- Hoa hết cả mắt mũi, cắm đầu vào
chạy. – Huy trả lời.
- Anh vừa dẫm vào chân thằng
Tuấn.
- Thế à. Đứt hơi, tối tăm mặt
mũi. Nó đâu? Có sao không?
Hoàng chưa kịp trả lời thì có
tiếng hô:
- Nó bắn đấy!
Huy nằm ép người xuống.
Cành! Cành! Cành! Ba tiếng nổ
bùng lên gần lắm. Tiếng nổ thúc Huy ép chặt vào thành hào. Đất rơi lả tả xuống
người.
- Chạy! - Có tiếng hô chạy.
Huy nhẩy lên khỏi hào, chạy theo
bóng người phía trước. Chạy! Dốc, trơn, Huy trượt ngã dập mông xuống đất. Lập
tức vùng dậy, chạy tiếp. Người bỗng chao đảo như ngồi trên sóng. Sao thế này?
Huy quỵ ngã vì bị chao đảo. Huy quờ tay bám được vào sợi dây, tự kéo mình đứng
dậy. Chạy! Có tiếng nước chảy bên dưới. Bóng người phía trước chạy khuất vào bờ
đá. Huy chạy bổ theo, vấp vào đá, Huy nằm ép mình xuống. Thở đã.
Có tiếng người nói bình tĩnh,
ngay cạnh:
- An toàn rồi quê ơi! Lần đầu qua
ngã ba Thanh Thủy hả.
- Mặt chảy máu kìa. Dính mảnh
phải không?
Bàn tay của ai đó xoay mặt Huy
lên nhìn. Huy hỏi:
- Mặt tôi bị sao à?
- Chắc đập mặt vào đá. Có đau
không?
Huy lấy ngón tay day vào gò má,
nơi người lính kia vừa chỉ. Bây giờ mới thấy đau. Huy không biết mặt mình va
vào đá lúc nào. Huy hỏi người lính ấy:
- Hang Dơi phải không?
- Ừ.
- Có những ai chạy vào cùng tôi,
quê? – Huy lo lắng hỏi.
- Có mấy người theo, vào trong
rồi.
C trưởng Tước nấp sau tảng đá
phía trên gọi:
- Lên đây, Huy!
Huy bám vào các mom đá trèo lên.
Hoàng “dở” chạy vào lúc nào đã
yên vị bên cạnh C trưởng. Huy hỏi Hoàng “dở”:
- Mày chạy trước tao à? Thằng
Tuấn vào chưa?
- Nó đang nấp bên kia suối.
- Đâu? – Huy hỏi, nhô đầu qua mỏm
đá, tìm bên kia suối.
Thì ra khi nãy Huy chạy qua cầu
khỉ bắc qua con suối. Nước suối trong vắt. Không biết đây có phải cuối nguồn
con suối trận trước Huy lội qua.
Kia rồi! Đầu Tuấn “trắng” nhô lên
rồi thụp xuống sau tảng đá. Nó quan sát. Chạy đi! Huy nhổm người lên vẫy. Chắc
gì nó nhìn thấy. Lúc nãy Huy cũng có nhìn thấy gì đâu. Cắm đầu chạy. Đường dưới
chân không thấy. Hướng phía trước là đâu không rõ. Vậy mà Huy đã chạy thoát
khỏi những đường đạn săn lùng mình. Đã trải qua một trận đánh ác liệt, đã biết
phải bình tĩnh thế nào trong lúc đạn pháo dày đặc quây lấy mình, vậy mà lần này
chưa vào trận, mới có vài quả đạn rơi gần Huy đã mất bình tĩnh.
Tiếng nổ bỗng lặng bặt. Huy đứng
hẳn dậy huơ tay vẫy Tuấn “trắng”, gọi to:
- Chạy đi!
Có lẽ Tuấn đã nghe thấy tiếng
gọi, nhẩy lên thành hào, chạy.
Chân mày sao mà chạy tập tễnh
thế. Huy nhổm người lên, lo lắng nhìn bước chạy của Tuấn. Chạy qua được cái dốc
nhỏ có lẽ lúc nãy Huy bị trượt ngã. Những tảng đá cuội trơn lắm, mày để ý vào.
Tới được cầu khỉ rồi. Nhanh lên! Cầu đung đưa, Tuấn bám tay vào sợi dây lan
can, lần từng bước. Chạy đi chứ! Còn mấy mét nữa thôi. Qua cầu đi.
Xọe … ẹt! Pành!
Cột nước tung lên. Trắng xóa che
mờ mắt Huy. Nước rào rào rơi trở lại dòng suối.
Một khối đen rơi xuống suối cùng
màn nước trắng.
- Tuấn ơi!
Huy hét lên, nhẩy qua tảng đá lao
ra khỏi hang.
Xọe … ẹt! Pành!
Một cột nước nữa dựng lên. Nước
bắn cả lên người Huy.
Vọt qua tảng đá nữa, Huy lội ào xuống
suối. Huy nhao người túm được Tuấn. Kéo. Lôi.
Cường chạy lại tiếp sức.
An toàn rồi.
Huy lay người Tuấn, gọi:
- Tuấn ơi!
C trưởng đập vào vai Huy, rầu rầu
nói:
- Nó bị rồi. Để nó nằm xuống.
Huy đặt Tuấn nằm xuống. Quả cối
nổ gần lại hất từ dưới lên khiến cơ thể Tuấn “trắng” nát bươm như miếng vải xé
tua rua.
C trưởng giục:
- Đi tiếp thôi, Huy! Để nó nằm
đấy, chốc nữa vận tải đưa xuống.
Huy nhìn lại Tuấn “trắng” lần
cuối. Tội quá, người nó vắt cong trên tảng đá.
- Các quê ơi! Đặt nó nằm lại hội
tôi với!
*
* *
Nếu Huy không gọi có lẽ lúc ấy nó
chưa chạy! Sao mình lại mất bình tĩnh thế chứ. Trận trước có lúc nào Huy thấy
run đâu, vậy mà lúc qua ngã ba, mỗi lần nghe tiếng nổ toàn thân Huy tự dưng co
dúm lại.
Nó tập tễnh là tại Huy dẫm vào
chân nó! Chỉ nhanh tích tắc nữa thôi là nó thoát.
Cư ngồi xích lại gần Huy, thủ
thỉ, chia sẻ nỗi buồn:
- Tại số cả anh Huy nhỉ, biết lúc
mô nó thả cối mà chạy. Cả đại đội qua cầu không dính ai. Nó chạy cuối lại bị.
Mà có nằm xuống, giữa cầu cũng chẳng tránh được quá.
- Ừ. Chẳng hiểu sao lúc ở cứ mọi
người cứ nhắc đi nhắc lại câu, đạn tránh người chứ người tránh sao được đạn.
Huy cố lảng tránh dằn vặt tại
mình mà Tuấn bị dính.
- Tại số anh Huy hỉ? Nếu bố mẹ nó
không bắt lên…
Huy không trả lời, thầm trách Cư
sao lại nói vậy. Cư biết mình lỡ lời, nói lời xin lỗi:
- Xin lỗi, là em vuột mồm nói vậy
thôi quá.
Tiếng thét đau đớn của một thương
binh bỗng bật lên phía cuối hang. Âm thanh dội vào vòm đá thành những tiếng u u
chạy quẩn quanh không thoát ra được khỏi ngoài hang. Tiếng thét bị đêm đen đặc
chặn lại, xói vào lòng những đồng đội nằm chờ ngày mai vào trận.
Cư lẩm bẩm nói một mình:
- Thét gọi mẹ đau đớn thế ni có
lẽ không qua được.
Huy đẩy củi vào cho lửa bốc to
hơn. Tiếng nổ oành oành liên hồi, đan xen, giằng xé, nhầy nhụa phía ngoài cửa
hang.
Bác sĩ quân y từ trong bóng tối
đi ra, ngồi xuống cạnh Huy, hơ tay lên đống lửa.
Cư hỏi:
- Anh hét gọi mẹ vừa rồi có nặng
không bác sĩ?
Bác sĩ không trả lời, lặng lẽ đẩy
thanh củi vào cho cháy to hơn.
Huy giục Cư:
- Đi ngủ thôi mày!
- Em không ngủ được – Cư nói: Cứ
nhắm mắt vào lại thấy thằng Tuấn “trắng”. Ngày xưa, em đọc hay nghe ai ấy nói
câu “xương trắng phơi chốn sa trường”, lúc chiều nhìn thằng Tuấn bị tuốt hết
thịt, trơ xương trắng hếu. Xương trắng từng đoạn y như khúc sắn tước vỏ.
Bác sĩ quân y lẳng lặng đứng dậy
đi vào vùng tối của hang.
Huy nói:
- Tao bế nó lên, ôm nó mà sao
chẳng nhìn thấy người nó thế nào. Tao cũng không ngủ được. Cứ nhắm mắt vào lại
thấy nó ngay cạnh nói, em xin lại tiền, em phải viền thôi.
- Em thấy anh khóc quá. Mờ mắt
rồi còn nhìn thấy chi.
- Ừ.
Mấy quả đạn cối nổ ngay trước cửa
hang, chớp lửa lòa lòa như ánh đèn sân khấu. Cả Huy và Cư không giật mình vì
tiếng nổ dữ dội, vì những luồng khí giãn nở thúc vào. Những đồng đội của Huy
cũng không vì quả đạn nổ gần mà tỉnh giấc. Tiếng nổ triền miên, có ngừng lúc
nào đâu mà giật mình.
Lẫn trong tiếng nổ có tiếng tí
tách của những giọt nước trên trần hang nhỏ xuống.
Bác sĩ quân y lại từ trong bóng
tối đi ra, ngồi xuống cạnh Huy, hơ tay lên bếp lửa. Bác sĩ nhìn ra cửa hang, lo
lắng nói:
- Vận tải lên muộn thế!
Chưa để Cư và Huy bắt lời, bác sĩ
lại nói như chỉ để mình nghe:
- Hôm nay pháo bắn nhiều thế.
Bác sĩ vừa nói xong thì có người
từ cửa hang đi vào. Mấy người lính trên người áo K82 bên trong, bên ngoài áo
trấn thủ, đầu đội mũ bông nhưng lại mặc quần đùi. Người thì cõng ba lô người
thì mang theo đòn tre khênh võng. Bác sĩ hỏi:
- Hôm nay vận tải lên muộn thế?
Mặc thế này không rét à?
- Pháo bắn nhiều quá, mới đến
Phong Lan mấy đứa dính pháo phải cõng quay ra. - Mấy người lính nói.
- Quần đùi thì mới đi được, khênh
cáng vướng lắm.
- Nhiều thương binh không thủ
trưởng? - Một người lính vận tải hỏi.
Bác sĩ trả lời:
- Nhiều đấy. Còn ai lên nữa
không, từng đây các cậu cáng thế nào hết.
Một vài đống lửa được đốt lên. Mọi
người lục tục gọi nhau dậy. Thương binh tỉnh giấc, đau đớn kêu rên.
Mấy người lính vận tải ngồi xuống
cạnh đống lửa, quài tay ra sau lưng xoa nắn. Huy hỏi:
- Đau lưng à?
- Cõng cối tám hai, cánh đuôi
chọc vào lưng đau quá.
- Lưng tao chảy máu hay sao, thấy
nhầy nhầy. – Nói rồi người lính vận tải ấy đưa tay ra trước lửa soi: - Máu thật
chúng mày ạ. Sót thế!
- Đã bảo tìm miếng lót độn vào
lưng áo. - Một người nói.
- Rơi bố nó lúc nào không biết.
Bác sĩ nói:
- Lấy cồn sát trùng bôi vào,
nhiễm trùng bỏ mẹ.
Người lính ấy nói:
- Người em miễn dịch rồi. Thủ
trưởng nhớ tháng trước giao cho em ba lô đựng mảnh tử sĩ không. Em đã bảo lưng
em dính mảnh chưa liền da. Thủ trưởng bảo em cố. Ba lô thủng, xác tử sĩ phân
hủy chảy hết vào lưng. Thế mà vết thương lại lành ngay mới lạ chứ.
Huy muốn góp chuyện cùng người
chiến sĩ vận tải nhưng thấy nghèn nghẹn mỗi khi định cất lời. Rằng hôm mò mẫm tìm
tử sĩ, cơ thể Huy có đếm cũng không thể đếm xuể vết trầy xước. Vết ở cổ tay bị
đá cào dài hơn chục phân, toác thịt. Lúc đầu cũng sót ê người, sau rồi chẳng
biết hết sót lúc nào. Và cũng chẳng nghĩ tới chuyện nhiễm trùng. Và rồi cũng
chẳng biết những vết xước lành miệng từ lúc nào.
Cư nói:
- Sinh lão bệnh tử. Có số anh
nhỉ?
Mọi người lặng lẽ hơ tay lên bếp
lửa.
Lúc sau mấy người lính vận tải
đứng dậy, chuẩn bị võng cáng chuyển thương binh xuống trước.
Những người lính vận tải đi sâu
vào trong hang. Đâu là cuối hang. Đêm qua đến muộn Huy chưa biết địa hình trong
hang thế nào. Những người lính vận tải kia quen rồi, tối như bưng mà đi chẳng
cần lần dò đường. Lúc sau, hơn chục chiếc cáng được khiêng ra. Những người trên
cáng không thấy động đậy gì nhỉ, Huy căng mắt nhìn, thắc mắc. Tử sĩ hả thủ
trưởng, Huy muốn hỏi câu ấy.
Ngoài cửa hang chỉ còn reo réo
tiếng rít gió của những quả đạn bắn xa. Tiếng nổ ùng ùng vọng về như tiếng sấm
chuyển mùa.
Sáng rồi! Huy muốn reo lên khi
phát hiện một khoảng sáng nhờ nhờ xuất hiện trước cửa hang. Khoảng sáng như tấm
tấm màn giăng kín, che chắn cho những cơ thể đang oằn oại gắng chịu cái đau. Tử thần đang đe dọa cướp đi sinh mạng người lính đang chầu chực bên ngoài. Khoảng
sáng khiến tâm thức Huy chuyển động. Huy hít một hơi thật sâu, thở thật nhẹ để
lấy lại cân bằng, để tan đi những u uất của đêm qua. C trưởng Tước đi lại, ngồi
xuống hơ tay lên bếp lửa, nói giọng rung rung vì lạnh:
- Đá lạnh thấu tới tủy. Mò mẫm
mãi, tìm trúng chỗ giọt nước, dịch đâu vẫn thấy nước bắn vào mặt. Dịch mãi. Có
khi đêm vừa rồi nằm ôm tử sĩ, mãi chẳng thấy ấm.
Cư nói:
- Đại trưởng nói ghê quá!
- Rồi sau này lên chốt mày sẽ
thấy, thế chưa là gì, phải không Huy. - Đại trưởng quay sang vỗ vai Huy, nói -
Mày cứ trầm ngâm như triết gia. Đi học sĩ quan chính trị đi. Khi nào xuống
chốt, có lớp học tao bảo.
Huy rầu rầu nói:
- Không thấy Hoàng “dở” nằm chỗ
nào. Hôm nọ dưới cứ, em bảo nó tính xem xây nhà em hết bao nhiêu gạch cát.
Lương thượng úy của anh mỗi tháng gửi về cho vợ được bao nhiêu.
- Bao nhiêu thì mày biết rồi. Như
ông Và, E trưởng đảo ngũ ấy. Cùng bản với
tao quá. Lương thiếu tá mà không đủ xây nhà. - Đại trưởng nói.
- Thế mà anh khuyên em học sĩ
quan.
- Mỗi người một lý tưởng sống. –
Cư nói chêm vào.
Huy bảo:
- Thằng này mới là triết gia.
Trông người bé bé, bẩn bẩn thế này, nói thì nhiều lúc như ngây như ngô, vậy mà
thỉnh thoảng có câu triết lý như sách.
- Biết còn sống trận này không mà
mơ sĩ quan. Em cũng mơ đi học sĩ quan lắm. Nhưng mỗi tội dốt, văn hóa lớp sáu
bỏ dở kì hai.
Huy chỉ tay ra phía giữa hang,
nói điều mình vừa phát hiện ra:
- Suối chảy giữa hang kìa. Bây
giờ mới nhìn thấy. Thảo nào, đêm cứ nghe tiếng nước chẩy rì rào, tưởng ở ngoài
hang.
Bác sĩ bảo:
- Đây là hang làng Lò.
Đại trưởng Tước nói:
- Hôm nọ tôi đi thực địa vào đây nghỉ rồi, lính tráng hôm qua mới vào,
tối muộn.
Huy đứng dậy quan sát toàn bộ
hang. Cách Huy chục mét, có bờ cát xoải xuống. Giữa là con suối. Con suối từ
trong lòng đá cuối hang chảy ra. Phía bờ bên kia cũng có bờ cát, cũng những hốc
đá như bên này, cũng những dãy sạp ghép bằng tre nứa. Tiếng tí tách nước chảy
trong đêm rõ ràng Huy nghe thấy nhưng cứ nghĩ suối phải ở đâu đó ngoài cửa
hang. Ánh sáng từ cửa hang rộng tràn vào
nhờ nhờ như cháo loãng loang dần lên các mom đá.
Hang
còn một tầng nữa. Có
ánh lửa từ trên cao hắt xuống. Những bóng người đi lại trên đó.
Bác sĩ giải thích cho Huy và mọi
người ngồi quanh:
- Hang này hai tầng.
Tầng dưới chủ yếu là trạm phẫu tiền phương và hậu cần. Tầng trên là những đơn
vị vận tải, cơm nước đưa vào chốt, hay những đơn vị chờ vào làm nhiệm vụ. Ngoài kia là thung lũng tử thần.
Huy
hào hứng quan sát khắp hang, nói:
-
Có khi cả trung đoàn nằm không hết, thủ trưởng nhỉ. Rộng thế! Em đi chùa Hương,
lên động Hương Tích rồi, không rộng và đẹp như thế này.
-
Quê tôi Hà Tây – Bác sĩ nói: - Động Hương Tích ở trên đỉnh núi cao, là nơi phật
ở, còn chỗ này dưới thấp chỉ để cho chúng sinh chịu khổ đau trú ẩn.
-
Dạ! – Huy thấy tủi trước câu nó của bác sĩ.
Mùi thuốc sát trùng hăng hắc, hồi đêm đã bị mùi ẩm ướt trong hang lấn át, ban
ngày trở nên sực nức. Cay cay sống mũi.
Những người lính nước da tái thâm vì mưa lạnh, vì không gian âm u, lầm lũi lên
đường làm nhiệm vụ.
Hoàng “dở” mang ra chiếc bánh
chưng bóc sẵn, đặt xuống trước mặt mọi người, nói:
- Nhà bếp phát đấy, ăn đi, xong
rồi tập hợp toàn C.
Đói. Từ trưa qua đến giờ Huy chưa
ăn gì. Bánh chưng còn nóng, bốc khói nghi ngút, mùi đỗ thơm lừng, mùi thịt mỡ ngậy.
Huy dửng dưng, đứng dậy đi ra cửa hang.
Những quả đạn cối lại bắt đầu rơi
đều đều xuống trước cửa hang. Tiếng nổ vọng trong hang âm âm như đang đuổi nhau
trong lòng đá. Huy nhìn ra ngoài thung lũng qua khe đá. Thung lũng tử thần, cái
tên ai đặt cho mà đúng thế. Huy không biết dùng từ gì để tả. Bởi cuộc đời Huy
đi đâu đã nhiều, đâu đã gặp nhiều cảnh hoang tàn như nơi này để rồi so sánh.
Sương mù hôm nay mỏng, chỉ có một dải trắng bám quẩn vào chân dãy núi bên kia
như một tấm ni lông bao quanh. Thung lũng trở thành một cái chảo chứa đựng một
thứ hỗn hợp giữa bùn đất nhão và đá băm nhỏ.
Một lính vận tải đi ngang qua Huy
nói:
- Giống chảo thắng cố, phải lố,
quê.
Anh ta là người dân tộc, biết món
thắng cố thế nào nên so sánh vậy. Huy hỏi:
- Thắng cố thế nào, quê?
Anh ta đi qua không nghe thấy Huy
hỏi vì tiếng cối nổ pành pành đinh tai nhức óc, hay anh ta phải vội đi.
Thắng cố hay nậm pịa, Huy chỉ
nghe kể chứ chưa mục sở thị. Nghe nói phải lên Quản Bạ, đi chợ phiên chủ nhật
mới có. Khi nào xuống chốt, thế nào Huy cũng phải đi lên đó, tìm hiểu về người
dân tộc đi chợ phiên ăn thắng cố thế nào. Huy nhắm mắt lại, ao ước. Bỗng một
tia sáng dọi vào mắt khiến ước mơ của Huy tan biến. Ánh sáng dọi qua khe đá. Ánh sáng từ chớp lửa của quả đạn cối rơi gần. Bụi
đất trên trần hang rơi lả tả xuống người Huy. Trước mắt Huy, chảo “thắng cố” đã
bị nhào trộn khác trước. Những tảng đá dịch chuyển. Những bãi đất sàu bọt đen.
Sự biến hình nhanh chóng của thung lũng tử thần. Thân cọ vỡ toác gần cửa hang
nay bay đi đâu, chỉ còn những rằm nhỏ như những chiếc tăm găm vào bờ đất. Lổng
chổng những cột gỗ của nhà dân trước kia đã bị pháo cối chặt thành khúc nhỏ.
Huy nhìn qua khe đá. Những người
lính cáng thương binh vừa đi ra, bám sát theo rìa núi, hối hả chạy để tránh
loạt cối vừa nổ. Những chiếc võng trên vai họ chao lắc. Đôi chân trần của họ
xoạc ra lấy lại thăng bằng. Còn cả một khoảng trống mênh mông của thung lũng họ
phải vượt qua để thoát khỏi nanh vuốt của tử thần. Không biết đạn cối sẽ rơi
lúc nào, chỗ nào. Số mệnh của những người lính chênh vênh như những tảng đá bên
cạnh vực thẳm.
*
* *
Huy biết, tại sao những người
lính vận tải gặp hôm đầu tiên vào hang Làng Lò, giữa đêm hôm lạnh giá lại chỉ
mặc quần đùi. Mặc quần đùi sẽ bị đá cào rách da rách thịt, sẽ bị rét buốt thấu
xương nhưng vẫn còn hơn quần bị móc vào mom đá, vào cành cây. Một là ngã xuống
vực, hai là chạy không nhanh thì tránh sao khỏi lưỡi hái tử thần quăng ra từ
các đường đạn luôn nhắm vào mình. Trận trước, Huy đã cởi bỏ quần dài để dễ vận
động hơn. Điều gì thuận tiện nhất để cứu sinh mệnh của mình thì cứ làm. Nhất là
vào lúc này, phải bám vào thang dây để leo qua đỉnh hang Làng Lò. Muốn lên bậc
trên tay phải bám níu vào dây, chân phải xoạc hết cỡ đạp vào đá mới đu lên
được. Huy cởi quần dài vắt lên cổ. Cối có rơi chỉ xuống cửa hang, mảnh chắc
không văng vào chỗ này. Những lúc đi qua đây, chỉ có giầy là cần thiết. Nếu
chân trần, cạnh đá sắc như dao sẽ ban cho một phát ngọt ngào.
Hay là…! Huy đã nghe nhiều chuyện
tự thương để khỏi phải ra trận. Chuyện thời nào cũng có. Huy nghe kể, có đứa
ngồi trong hầm, thò chân ra ngoài rồi ném lựu đạn cầu cho bi găm vào chân. Nhớ,
chỉ dùng lựu đạn cầu vỏ nhựa, bên trong mảnh nhỏ bằng đầu đũa xe đạp, chứ ném
lựu đạn quả na thì cụt chân. Còn nhiều chuyện tự thương khác nữa chợt nhớ ra
nên cái ý nghĩ hay là…. bật lên khi chân Huy đạp vào cạnh sắc của đá xẻ toác đế
giầy.
Cái ý nghĩ hay là bị hơi thở của
cái mệt thổi bay từ khi nào. Huy như con thằn lằn trườn trên vách đá. Theo sau
là Hoàng “dở”. Từ hôm Tuấn “trắng” dính cối, Hoàng gầy rộc, da trắng xanh như
một cây chít. Cây chít phất phơ, ngả nghiêng trên sườn đồi. Đôi mắt nó không
trắng như mảnh vỏ ngao úp vào nữa mà có những tia vằn đỏ do thức đêm nhiều. Nó
phải đấu tranh tư tưởng ghê lắm, bởi đã có lúc Huy nghe trong lời nói bâng quơ
của Hoàng có từ “viền”. Huy hỏi lại, nó chối ngay. Mấy ngày ở trong hang, Hoàng
tránh gặp Huy. Nó hay ra ngoài cửa hang, nhìn thung lũng qua khe đá.
- Nhìn thấy gì, mày? – Huy hỏi.
Hoàng trả lời tỉnh bơ:
- Chả thấy gì cả.
Giờ thì Hoàng “dở” luôn bám sát
phía sau. Bàn tay bám đá của nó chẩy máu. Mũ cối sụp che kín mặt nhưng Huy vẫn
thấy đôi mắt nó vằn những tia đỏ, môi mím chặt. Nó đang gắng sức theo kịp Huy.
Không biết trong ý nghĩ của nó có từ hay là… giống ý nghĩ của Huy.
Tới đỉnh rồi, nghỉ đã. Không ai giục
ai, tự thả mình dựa lưng vào bờ đá, nghỉ. Cường vừa thở gấp vừa nói:
- Bọn vận tải khỏe thế nhỉ, ngày
nào cũng mấy chuyến lên đây.
Cư leo lên đến nơi, trật mũ cối
cầm tay quạt, hỏi Cường:
- Còn xa nữa không B trưởng?
- Không xa. Này! Anh em chú ý,
vượt qua đoạn này dễ bị bắn tỉa lắm đấy, đi cẩn thận.
Để minh chứng cho cảnh báo của
Cường, hai phát đạn bắn tỉa đập vào đá nổ cheo chéo, cách chỉ chục mét.
Hôm nay mưa tạnh, trời quang, đơn
vị vận động vào lúc này nguy hiểm quá. Trước mắt Huy, bãi đá trắng toát. Đùn
qua các kẽ đá là dòng đất đỏ như máu rỉ qua lớp da sần sùi của con vật. Những
thân cây bị đá vùi xuống đâu mất, không thấy dấu tích của màu xanh. Pháo cối
băm trụi rừng cây, đá cũng bị băm nhỏ. Mũi đá lổng chổng, lô nhô nhọn như những
mũi chông.
- Đi thôi! – B trưởng giục. - Sương mù đến rồi đấy.
Sương mù từ trong các khe núi đùn
ra, giăng trắng thung lũng. Trung đội bắt đầu lấn dần về phía trước, theo những
đường hào xếp bằng đá đã được các đơn vị trước dựng lên. Lom khom. Bò. Nhẩy.
Tiếng rít reo réo, riu ríu của những quả đạn bắn xa bay qua. Tiếng gào rú xé
nát bầu trời của quả đạn bắn gần.
Đâu là trận địa của mình, đâu là
trận địa của địch? Mỗi khi dựa lưng vào tảng đá lớn nghỉ lấy sức thì Huy lại
quan sát xung quanh cảnh giác.
- Thẳng lưng mà đi cho đỡ mỏi,
quê. Chỗ này vô tư đi.
Mấy người lính vận tải lưng đeo
can nước, vai vác cáng đi ngang qua, giục Huy. Họ quen địa hình rồi, đi theo sẽ
an toàn. Huy đứng dậy định đi theo nhưng Cường gọi lại:
- Đi đằng này mà, Huy!
Họ lên trận địa khác. Trung đội
của Huy vận động theo đường hào rẽ sang hướng khác. Nhiệm vụ của đơn vị Huy là
xây dựng tiếp tuyến hào lấn dũi. Đường hào càng tiến gần vào những điểm cao của
địch càng tốt. Đây là cách đánh lẫn dũi, cán bộ tác chiến sư đoàn quán triệt
nhiệm vụ. Giống như chiến thuật đánh đồi A1 ở Điện Biên Phủ năm 1954, quân ta
đào những đường hào lấn dũi bao vây, lấn dần về phía địch. Cách đánh này chậm
nhưng chắc và đỡ gây thương vong cho bộ đội. Rút kinh nghiệm cho trận đánh
trước, ta không đủ hỏa lực để áp chế hỏa lực địch, địa hình lại không thuận lợi,
bộ đội đã phải phơi lưng hứng chịu các loại đạn đổ xuống dẫn tới thương vong
quá nhiều mà không giành lại được điểm cao.
Xung quanh chỉ có đá bị băm
trắng. Mưa ẩm mấy tháng mà đá không kịp mọc rêu, cây không kịp mọc mầm xanh.
Đi thôi! Ở đây chờ hết tiếng réo
của cối pháo bắn gần mới đi thì đợi đến khi ra quân. Huy và Cường có lẽ cùng ý
nghĩ nên cùng đứng bật dậy, đeo lại chiếc ba lô đựng khẩu phần ăn ba ngày,
khoác lại khẩu AK, khom người theo bờ đá đi tiếp. Trên các triền núi, những cột
khói đen thi nhau mọc lên. Sóng xung động của tiếng nổ như lưỡi dao phạt ngang
những dải sương mù.
Roe…ẹot!
Huy nhao người nằm xuống khe đá.
Pành!
Dưới bụng đá dịch chuyển. Trên
lưng vụn đá rơi lả tả.
Quả đạn cối rơi cách chỗ Huy chục
mét.
Không còn quả đạn nào bắn tiếp
vào đội hình trung đội, Huy đứng dậy định chạy vào bờ đá gần. Nhưng. Thằng nào
bị sao kia! Nó ôm ngực, đổ gục xuống. Người co quắp, quằn quại đau đớn. Thằng
Cư!
- Cư! – Huy chạy lên xoay người
Cư lại: - Bị vào đâu?!
Mọi người chạy lại. Cường quát:
- Tản ra! Đi lên trước đi!
Cư nằm bất động, người trắng xanh
lẫn vào màu đá. Trên ngực Cư, máu chảy không nhiều, chỉ loang kín túi áo ngực.
Cường cởi áo, nâng người Cư lên. Huy lấy cuộn băng cá nhân băng vào quấn chặt
quanh ngực, bịt kín lỗ nhỏ giữa ngực Cư.
Vừa lúc có nhóm vận tải lên.
VĨ
THANH
Cư không chết. Nó bị thương. Cái mảnh cối nhỏ tí chui vào ngực trái của
nó và nằm ngay vành ngoài cơ tim và cộng với sức ép của đạn cối đã khiến nó trở
thành con người khác. Không nơi nào dám mổ lấy cái mảnh cối vì các bác sĩ sợ
lấy ra nó sẽ chết vì thủng màng tim.
Ngày ở đoàn an
dưỡng, nó như thằng mất trí, các bác sĩ, y tá hỏi gì nó cũng chỉ lắc đầu, mồm ú
ớ nói không rõ câu. Các bác sĩ đưa nó về đơn vị cũ,
hy vọng gặp lại đồng đội nó sẽ nhớ lại, và trở lại như xưa. Mọi người xúm lại,
kể cho nó nghe chuyện cũ, hỏi nó có nhớ không. Nét mặt nó ngây ngô như đứa trẻ
chưa biết nói.
Huy hỏi:
- Mày nhớ tao không?
Nó lắc đầu.
- Thế có nhớ anh Cường không? – Huy hỏi tiếp.
Không biết có luồng ánh sáng nào đó chạy qua trí nhớ của nó mà
ánh mắt nó rạng lên giây lát, miệng nhoẻn cười.
Mấy ngày ở đơn vị nó cứ đi vòng quanh sân, tay xách cạp quần cho
khỏi tụt, bắt đầu nói được mấy câu mọi người hay hỏi Mày là ai ấy nhỉ. Không nhớ đâu quá.
Quê nó mãi Thanh Hóa, từ ngày ra quân đến nay Huy chưa gặp lại.
Cũng là chuyện bị đạn cối găm vào ngực. Thằng Miên C một, quê
Bình Trị Thiên, bị dính trọn một quả cối sáu vào ngực. Nó tự bắn nó. Chuyện là,
nó không phải ở A hỏa lực nhưng buổi trưa hôm ấy, đi thăm đồng hương mới lên về
qua hầm cối nó bảo, tao thả thử một quả. Nó đứng trước hướng bắn của nòng nên
quả đạn găm đúng ngực trái. Quả đạn bị giữ lại, xuyên từ trước ra sau ngực
nhưng không nổ vì chưa đủ vòng quay.
Một năm sau nó trở lại đơn vị, vạch áo khoe bộ ngực teo tóp vì vết
khâu nhưng rượu mừng hết nửa chai, giọng vẫn không bị méo, xong rồi nhảy qua
các tảng đá leo núi sang thăm đồng hương trông như con dê.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét