Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

TRUYỆN NGẮN: PHỐ NHỎ

(Phố Hải Phòng)

Mưa tạnh đã lâu, nước không kịp thoát còn ngập trắng đường phố. Những ngôi nhà dầm chân dưới nước như một đường phố Vơnidơ mới xuất hiện nơi đây, nhưng chẳng cổ kính chút nào bởi những kiến trúc chưa có tên, chẳng thơ mộng chút nào bởi những bè rác trôi nổi dật dờ. Thỉnh thoảng có ô tô chạy qua, nước dào lên vỗ vào chân tường oàm oạp. Những con sóng tức tối ném những sản phẩm thải ra của con người lên hiên nhà. Lập tức, không ngần ngại gì con người ném trở lại.
Cái phố nhỏ này xưa kia vốn dĩ hiền lành, những dãy nhà xây theo kiểu kiến trúc nhà tập thể lưng quay ra đường, im lìm đứng tựa vào nhau không ganh đua, không gen tị. Cho đến nay, dưới cơ chế mở, tất cả đều bung ra chiếm lĩnh “thị trường”. Tất cả đều đồng loạt ngoảnh mặt lại bám sát vào mặt đường. Đã có không ít ngôi nhà vặn vẹo vươn lên bằng những kiến trúc nhặt nhặnh khắp trên thế giới mỗi nơi một tí tô đắp vào để khoe khoang ta đây kiến thức phong phú. Những nhà hàng, khách sạn mini hằn học nhìn nhau không muốn ai hơn mình, cái xây sau bao giờ cũng phải cố cho cao hơn cái trước. Những chủ nhân của ngôi nhà mình sở hữu đều muốn vươn cao hơn nữa, muốn xuyên thủng cái không gian nặng nề của buổi sáng ảm đạm vì mưa gió này. Người ta đặc biệt hãnh diện khi được khen nhà mình cao hơn nhà khác.
Các hàng ăn uống nhỏ phục vụ đa số người dân ở đây cũng vào cuộc, chen chân nhau chiếm vỉa hè, đẩy người đi bộ xuống lòng đường. Những cái cọc chống liêu xiêu như những chàng Átlax gầy còm đang cố chống đỡ bầu trời là những mảnh nilông muôn màu để che chắn cho những người ăn kẻ uống lê la khắp hè đường. Còn xót lại vài ngôi nhà cũ kĩ xưa, nay như càng thấp bé lại do dòng nước ngày càng dâng cao.
Mới có năm giờ sáng, đường phố đã cựa mình tỉnh giấc, tiếng cửa sắt mở ken két như mẹ đĩ đêm qua không được yên giấc, tiếng xô chậu va vào nhau xoang xoảng bực tức, những đụn khói than tổ ong run rẩy bay lên tìm chỗ ẩn nấp trong tán lá. Màu xanh của hàng cây trở nên nhợt nhạt trong ánh sáng mờ đục của buổi sớm, cành lá tướp táp vì bị trận mưa đêm qua hành hạ. Trên đường tất bật người qua lại, người ta gò lưng đạp xe để mau chóng đi cất hàng sớm cho kịp buổi chợ, tiếng bánh xe xé nước xè xè.
Thuân đẩy tủ kính trưng bầy mấy đôi giầy mặt da đã mốc trắng và dụng cụ sửa chữa đóng mới giầy dép sát tận mép nước. Công việc này không đòi hỏi phải thức khuya dậy sớm nhưng cả đêm qua Thuân dằn vặt, day dứt nằm nghe tiếng mưa, tiếng gió chạy rào rào trên mái tôn. Thuân muốn gặp ai đó hiểu mình để nói vài lời cho nhẹ lòng. Những vạt rác dập dình dưới chân, Thuân hất đi nhưng không lâu nó lại trở lại cọ vào chân buồn buồn. Điều dằn vặt của Thuân không chỉ hôm nay mới có mà đã hình thành từ lâu, đó là việc bán ngôi nhà nhỏ như cái cái chuồng chó nhưng có giá ở mặt đường này đi để mua lấy một ngôi nhà rộng rãi, có mảnh vườn nho nhỏ ở ngoại thành, còn dư chút nào thì để làm vốn kiếm sống. Về vùng ven thì làm gì được đây? Cái nghề đóng giầy mạt hạng mà Thuân học mót được, cái nghề mà mọi người cho rằng chỉ kiếm được đồng tiền thừa của khách, vào thời buổi này lại kiếm ăn được mà nhàn hạ. Dân tình bây giờ lịch sự hơn, không chỉ bằng bộ cánh đẹp mà cả đôi giầy dưới chân. Cho dù trời có nóng rộp nhựa trên đường thì cũng phải giầy tất đàng hoàng, cho dù đường có ngập ngụa nước như hôm nay thì cũng đầy đủ giầy tất, ai ra mồ hôi chân nhiều thì đã có xăngđan. Mà xăngđan bây giờ có ra gì đâu, nếu không khâu lại chỉ đi ít ngày là tung hết quai. Các ông thợ giầy có thêm việc làm. Năm nghìn một đôi khâu lại, hôm qua Thuân nhận gần hai chục đôi, anh mong cái nhà máy giầy dép nào đó cứ làm ăn thế này mãi. Người ăn uống qua lại đây nườm nượp. Họ có hai lý do để về đây bù khú với nhau, đó là: Cái phố nhỏ này xa nơi cơ quan xí nghiệp, tránh phải gặp mặt các xếp cũng đỡ được một khoản tiền không nhỏ nhưng lý do quan trọng hơn là thịt chó ở đây đặc bịêt thui rơm thật sự chứ không phải bôi kẹo đắng và bia ở đây cũng ngon hơn. Trời nóng quá, đến cái ghế ngồi cũng như phải bỏng khiến cho không ít khách phải tụt giầy ra ngồi chồm hỗm trên ghế, đầu gối quá tai và tiện thể ném đôi giầy cho Thuân đánh xi lại cho đôi chân thêm phần sang trọng. Thuân làm không hết việc.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

TRUYỆN NGẮN: GIẤC MƠ VỀ NHỮNG CHIẾC LÁ KHÔ

(Lá khô)

Mảnh trăng như chiếc khánh ngọc treo trên khoảng trũng yên ngựa giữa hai quả đồi. Tạo hoá thật khéo, hai quả đồi tròn trịa như cặp vú căng mẩy của người con gái tràn đầy sinh lực. Có lẽ vì quá yêu nên trời mới ban tặng cho đất mảnh trăng đẹp dường kia!
Tôi, một chàng trai chưa vợ, thậm chí chưa dám luồn tay qua lần áo để đụng chạm vào da thịt người yêu. Tôi, một kẻ nhút nhát trong giao tiếp, nhất là đối với những cô gái trẻ đẹp. Thà rằng, nếu được, tôi sẵn sàng lên tuyến trước còn hơn là phải đi gặp những đơn vị nữ thanh niên xung phong. y vậy, giờ đây, đang lúc ngồi bên người yêu, đang có việc hệ trọng liên quan tới hạnh phúc hai người mà tôi lại khéo tưởng tượng ra vậy. Thậm chí, tôi còn hình dung, khi tối mình đã vượt qua đúng vào chỗ mảnh trăng đang treo kia, vậy là đã được trườn trên bộ ngực của người thiếu nữ. Hình ảnh mà tôi tưởng tượng quả thực chỉ là mượn lại trong đoạn văn, câu thơ nào đó mà một con mọt sách, một sinh viên văn khoa năm thứ ba là tôi đã đọc.
Tôi dụi mặt vào gáy người yêu. Da thịt người con gái ngai ngái, nồng nồng, ấm. Mùi bồ kết rừng trên búi tóc của cô ấy sực nức, tê tê cánh mũi. Thoang thoảng mùi hôi của đất mục. Và hơi nước từ con suối đang chẩy dưới chân chúng tôi đã hoà trộn tất cả những hương vị đó vào nhau đem lại cho tôi cảm giác ngây ngây của nhục dục.
-Mấy giờ rồi, anh? - Tiếng người yêu như được tách ra từ tiếng róc rách của con suối, lãng đãng chảy vào đánh thức tôi thoát khỏi mộng tưởng.
-Khuya rồi, trăng mười tám đã lên tới lưng trời rồi. - Tôi nói mà không ngẩng lên, hơi thở phả từ gáy người yêu nóng hổi.
Bị hơi thở của tôi sau gáy kích thích, cô ấy nghiêng đầu đặt một nụ hôn trớt qua vành tai tôi. Nụ hôn đầu tiên trong buổi tối hôm nay. Tôi là kẻ thụ động, lần nào cô ấy cũng là người chủ động hôn trước như một động thái hà hơi cho tôi đủ dũng khí của một anh đàn ông. Và sau rồi, cô ấy sẽ được chết chìm trong trận lũ lụt nụ hôn của tôi. Tôi có được người yêu cũng là do cô ấy chủ động, nếu không thì tôi, một thiếu uý trợ lý chính trị sư đoàn, hai sáu tuổi sẽ chẳng biết đến bao giờ mới được cầm tay người con gái.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

TRUYỆN NGẮN: ÔNG PHIỆN

                                          (Công nhân Cảng Hải Phòng hay Nhà văn?)
                                               
Đã hơn ba mươi năm, chưa ai thấy ông Phiện đi làm bằng xe đạp. Từ nhà tới xí nghiệp gần bốn cây số, ông bước thủng thẳng như người đi dạo. Không ít lần các đồng nghiệp đi cùng đường mời ông lên xe, ông chỉ nhệch miệng cười thay cho lời cám ơn rồi xua tay cho họ đi trước. y vậy mà chưa chắc người kia đã tới xí nghiệp trước, bởi họ đã là công nhân bốc vác cảng tránh sao khỏi tụ tập quán xá. Thời gian với ông Phiện luôn chính xác như chiếc máy đo.
Không phải quá túng bấn mà ông không sắm được chiếc xe đạp. Thời xưa nói vậy còn nghe được, nay lương khá, chiếc xe đạp cũ của Nhật có đáng là bao. Cũng không phải ông không biết đi xe. Có công có việc ông vẫn đi chiếc xe còn mới, đồ i - nốc sáng bóng. Chiếc xe ấy dành cho con trai ông đi học đỡ mệt. Ông phân bua: “Đi bộ quen rồi, đâu có thể lười chẩy thây như mấy thằng trẻ ranh ở tổ này”. Mấy đứa trẻ lắc đầu: “ Chiụ bố già, sống ki bo thế để vợ con nó phá à. Sống phải biết hưởng thụ”. chúng còn dám dạy khôn ông già! Ông nhăn mũi, xịt miếng nước bọt qua kẽ răng: “Đời còn dài con ạ!”
Đời còn dài, còn nhiều thay đổi. Hơn ba mươi năm trước, ông là chàng trai mảnh dẻ, cơ bắp đuồn đuỗn ẩn mãi đâu dưới lớp da đen xạm, nhưng không lười và ngang ngạnh như mấy đứa trẻ bây giờ. Công việc bốc vác bấy giờ thực sự là bốc bằng tay, vác bằng vai, đâu có cơ giới hóa như bây giờ để lấy cớ chây ì. Những bao gạo nặng một tạ tì xiết xuống vai, xuống cổ trong sáu tiếng liền khiến cho lớp da đỏ rộp như phải bỏng, những cạnh hòm khứa sâu xuống bắp vai thành vết lõm cả ngày không đầy lên được, những cuộn giấy nặng ba tạ, vần xa hàng trăm mét muốn xé toạc cơ lưng, chưa một lần ông than phiền. Nghề nghiệp đã cô đọng, hun đúc cơ thể ông những cơ bắp nổi cuộn như sóng, đặc biệt là những u chai ở hai vai, sau gáy nổi gồ lên như bướu, dáng đi ậm ịch, khuỳnh khuỳnh như chú gấu. Bọn trẻ đùa, nắn nắn những u chai trên người ông với thái độ cợt nhả khiến ông nổi cáu: “Còn đời các con đấy!”. Ông xịt miếng nước bọt qua kẽ răng. Nói vậy thôi, đời chúng đâu phải vất vả như đời ông, công việc bây giờ nhàn tênh.

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

TRUYỆN NGẮN: CON THUYỀN VÀNG

                                                                  
                                                          (Bến cảng hoàng hôn)


Mặt trời sậm đỏ buông lửng sau lưng những chiếc cần trục đứng sắp hàng thong dong trên cầu cảng. Mặt sông Cấm đong đưa đón nhận những tia nắng cuối cùng của ngày để rồi sẽ thổi bùng lên trần gian ánh vàng rực rỡ. Tiếng còi tầu ngân lên, hợp âm trầm bổng đưa đẩy nhau loang kín không gian.
Dạo này, vào những ngày con nước chiều, ông Huy cũng ngóng trông tiếng còi tầu cất lên như tiếng chuông báo giờ, ngừng hết mọi việc ngóng nhìn ra phía cửa sông. Con tầu bất ngờ hiện ra như một khối mây khổng lồ, lãng đãng lướt trên mái phố xám màu rêu phong, trên những hàng cây trải tấm thảm xanh ngút ngát.
Bức tranh siêu thực của tự nhiên! Ước gì có thể đóng khung lại để ông lưu giữ, ngắm nhìn suốt cả ngày khỏi phải luyến tiếc khi chiều qua nhanh. Ông mải miết theo dõi từng chuyển động của chiều. Bức tranh nói với ông điều gì? Không thể lý giải nổi.
- Con thuyền vàng đấy ông ạ!
Có tiếng nói trong trẻo cất lên từ phía sau, ông quay lại nhìn quanh tìm người. Không có ai. Ông nhìn qua bờ rào bằng những bụi tre tăm sang vườn nhà bên. Bà Huệ ôm một bó hoa huệ trắng ngần đi khuất vào trong nhà, một bên hông bị lệch khiến người bà như cây cong đổ xiêu. Chẳng lẽ đó là lời của bà Huệ? Bà ấy chẳng có nét nào giống với cô gái ngày xưa. Bức tranh chiều nói với ông điều này sao?!
Thời trẻ, Huy cùng gia đình sống bên kia sông. Tốt nghiệp tú tài trong tình cảnh thành phố đang là nơi tập kết cuối cùng của thực dân Pháp trước khi rời khỏi đất nước, Huy chưa muốn xin việc làm, hàng ngày quanh quẩn trong khuôn viên gia đình với việc chăm tỉa những luống hoa hoặc lần tìm những câu thơ học trò dọc theo bờ sông. Buổi chiều ấy, sau trận mưa, nắng lắch mình qua đám mây còn dây dớt lại phết những mảng vàng tươi sáng thật phóng khoáng xuống vòm xanh của vườn cây. Đất trời bừng lên rộn rạo. Những cánh huệ được gột rửa trong vắt, hương hoa rón rén đi vào trong chiều. Với chiếc cuốc nhỏ trên tay, Huy cần mẫn bên luống hoa.
- Cậu chủ ơi! Cho tôi xin nhành huệ, vườn hoa đẹp quá!

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

TRUYỆN NGẮN: NGƯỜI GẶP VẬN MAY

(Câu lạc bộ văn học trẻ Hải Phòng)

-Cái cân làng xuống! Xuống nữa!
-Chín cái chẵn rồi, chẳng nhẽ... đánh lẻ.
-Bán chẵn!
-Mở bát!
-Chẵn! Mười cái chẵn! Cờ bạc như bịp!
Gần hai chục con bạc sát phạt nhau. Gần hai chục con bạc “cò con”, tiền bạc là những đồng lương còm. Chẳng ai xa lạ, công nhân cùng tổ với nhau cả. Tất cả xúm quanh cái đĩa nhỏ, trên úp cái chén và bên trong là bốn mảnh vỏ hạt dưa. Đang trong giờ nghỉ trưa. Trời nóng quá. Cái nắng nung chảy nhựa trên đường, sắt thép tưởng chừng cũng phải oằn lại, hầm hập nóng. Gần hai mươi con người tự nguyện giam mình trong căn phòng mười năm mét vuông, cửa đóng kín vì sợ bảo vệ, quạt không dám bật vì bay tiền. Người vòng trong thì ngồi xổm nhấp nhổm, kẻ vòng ngoài thì cúi lom khom cắm đầu vào. Mồ hôi người đứng trên nhỏ giọt xuống người ngồi dưới, mồ hôi người ngồi dưới nhỏ giọt xuống những tờ giấy bạc nhàu nát. Cả đàn bà cũng tham gia, tóc bết mồ hôi. Đàn ông thì trần trùng trục, người gầy khô, da sạm nắng. Tất cả đều dán mắt vào vận may nằm bên trong cái chén con con. Tất cả đều muốn thành tiên tri để đoán được những mảnh vỏ hạt dưa kia úp theo chiều nào. Những mảnh vỏ hạt dưa đã được thổi linh hồn vào!
Còn tôi, cái nóng trong gian phòng đang dần hút hết sinh khí trong người.

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

TIỂU THUYẾT "THỦY SINH" (Phần cuối)



                                                               (Vầng sáng hy vọng)


-IV-
Tầu bây giờ mới tới cửa Dứa, hai tiếng nữa cập cầu, lại còn làm thủ tục nhập cảnh, phải hơn ba tiếng nữa mới làm hàng được. Biết thế nhưng Phương vẫn thúc tài đánh xe vào chờ. Hơn hai chục đầu xe Mỹ chở công ten nơ xếp chật cầu cảng, chặn kín mọi ngả đường sang khu vực khác. Thằng Đảm đừng có thách, thử xem xe của chúng mày có chạy được không. Phương mệt mỏi, ngả người trên ghế lái tranh thủ ngủ một lúc. Đêm qua thức trắng, lại mấy loại rượu đổ vào dạ dày, chân tay bải hoải như có kiến bò buồn bên trong. Nhưng vẫn không hết bực. Nó mới tìm được chủ chạy đường dài, được mấy tầu đã dám nói thách, thời buổi cạnh tranh mạnh thằng nào thằng ấy làm. Thấy Phương làm ngơ, nó định qua mặt phá bỏ hợp đồng chắc. Cả tháng mới dỉn dỉn được mấy chuyến hàng, đói mờ mắt tính làm liều. Đúng như Phương dự đoán, thứ hàng nội thương chỉ như đồ hàng xáo, chụp giật được vài năm tưởng đã đứng trên thiên hạ. Bà Cư may mà giữ được tí vốn liếng kiếm gian hàng ở chợ quần áo không thì chỉ có nước đi buôn đồng nát.
Chiếc Inova đen bóng rì rì nổ máy để chạy điều hoà. Tiếng còi hơi của đám xe “din”, xe “bò ma” đồng thanh thét lên tức tối như muốn xé toang bức mành bạc trắng của nắng trưa hè. Gào to nữa lên, sẽ không chiếc xe nào của Phương nhúc nhích tách ra nhường đường. Có giỏi thì đụng vào. Phương giám đốc công ty vận tải Anh Hào, với hơn hai mươi đầu xe Mỹ chứ không còn là thằng lái xe “din” ngày xưa nữa mà mày dám qua mặt. Cái tên Anh Hào chính do anh Luật thứ trưởng đặt cho, thằng nào dám động vào!

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

TIỂU THUYẾT "THỦY SINH" (Phần III)

(gia đình đánh cá trên sông Cấm)

- III -
- Bẩy giờ chưa?
- Kém năm.
Đoàn xe chờ vào cảng lấy hàng nhất loạt nổ máy. Tiếng rú ga lấy hơi rầm rầm như  thể biển đang đổ tràn những trận sóng lừng tới tận con phố nhỏ nơi cổng cảng này. Những chiếc lá mỏng mảnh của hàng phượng vĩ trên hè đường bị âm thanh va đập khiến nó rung lên bần bật. Những đôi mắt của đám lái xe mở thô lố như mắt cá nhìn căng qua mặt kính, chờ đợi sẵn sàng nhất loạt lao thẳng lên phía trước.
Thanh ba ri e được chậm rãi nhấc lên bằng đôi tay chán chường của nhân viên bảo vệ. Chiếc “bò ma” đứng lốt đầu rú ga lao vọt tới khiến nhân viên bảo vệ giật mình, vội vàng kéo thanh chắn lên cao, gào miệng chửi theo:
- Đ. mẹ cái thằng không chim, muốn đi tù à!
Ngày nào cũng chửi, không cái thằng “không chim” ấy thì cũng là những thằng khác lao xe lên tranh vào lấy hàng trước có thể cán bẹp xương. Chửi vậy thôi, chết thì thiệt thân chứ đã chắc gì chúng nó phải đi tù. Thế vẫn còn là may, chưa đứa nào tự ý nhấc thanh chắn để vào, nếu không sẽ bị kỷ luật, sẽ mất chân “đứng cổng xé vé” nhàn hạ này. Nhân viên bảo vệ quay lại chòi hậm hực, cứ cho chúng vào thoải mái, quy định giờ giấc làm gì, vừa không ách tắc giao thông đường phố lại vừa không bị nghe chửi rát tai. Chúng mới chỉ chửi thôi, chứ có tự ý nhấc ba ri e mà vào cũng đành chịu, chẳng dám dây, toàn thằng tranh ăn như hổ đói, đụng đến được yên thân chắc.

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

TIỂU THUYẾT "THỦY SINH" (Phần II)

- II -

- Đêm qua cái Thành sang cát cho chồng đấy.
- Vậy à!
Phương gẩy chân chống chiếc xe spacy, dựng sát vào rệ đường, hững hờ trả lời Tươi cho qua chuyện rồi tính đi thẳng xuống bến. Thái độ như thế làm sao có thể qua được mặt “con chó ghẻ canh cửa”. Dân xóm bờ đê bây giờ gán cho Tươi biệt danh ấy. Tươi mắc ết giai đoạn cuối, những mịn màng da thịt của người con gái đã bán hết cho khách, chỉ còn lại những khúc xương được bọc bằng lớp da đen bẩn như chiếc giẻ lau chùi dầu máy hờ hững bám vào nhau để tạo nên hình hài giống một con người. Ai đi ngang qua cửa cũng quay mặt đi để tránh phải nhìn vào hai hố mắt có miếng sáng trắng đục như mảnh con ngao úp vào, cố bước cho thật nhanh để khỏi nghe tiếng gầm gừ như chó đẻ mỗi khi có người lại gần, tiếng hự hà mắc nghẹn của dớt dãi trong họng và cuối cùng là những câu chửi sỗ sàng bằng thứ giọng thống thiết, não nề, buồn rơi nước mắt.
Con đường xuống bến bắt đầu từ cửa nhà Tươi đã được be đắp thành con đường rộng, chắc chắn đủ để cho xe Xan-xing xuống tận bến lấy hàng. Dân xóm bờ đê ngày nào cũng phải qua lại vài lần nhưng chưa có một giọt nước mắt nào nhỏ xuống sót thương cho Tươi. Không ai cần nhớ đắp được con đường như ngày nay thì ai là người có công nhất. Sau Phương là đến cái Tươi chứ còn ai. Chỉ có lão Cống tử tế, mỗi khi đi qua lại ném qua bờ rào cho Tươi khi chiếc bánh mỳ, lúc chiếc bánh chưng như trẻ con ném đồ ăn vào chuồng thú trong công viên như là để trả ơn. Có thế Tươi mới còn tồn tại được trên đời. “Để cho nó chết đói, đi qua đây đỡ sợ, ông vẫn còn tiếc cơ à!” Bọn đàn ông xóm bờ đê vừa khạc nước bọt vừa gắt với lão Cống. Vợ lão Cống bị chết đuối do chuột rút khi đi dui cá chứ không lại bảo tại lây si đa qua chồng. Lão Cống bảo, chúng mày đồ bất nhân, vô ơn, tao thề chưa được thả vào con Tươi một con quăng quăng nào, nếu không giờ cũng phát bệnh rồi.
- Sao thế! Đi qua mà không ngoảnh mặt lại nhìn mặt con này một nhát được à!

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

TIỂU THUYẾT: THỦY SINH (Phần I)

- I -

Mặt sông ngàu đục, đỏ như màu tôm luộc. Con tầu gắng sức trườn ra khỏi cầu cảng. Những cuộn sóng nổi vật sau chân vịt chẳng khác gì những bưởng đất ruộng cày. Tiếng máy tầu hồng hộc như người làm việc quá sức thở dốc, ống khói đùn ra đụn khói đen đặc, cuộn theo tiếng còi bừm bừm bật nẩy lên trên nền trời loá nắng. Những tiếng còi nóng nảy, hằn học. Không hằn học sao được khi trong bụng nó phải chứa hơn một vạn tấn sắt phế liệu, mớn nước thì chưa hết mà độ sâu của luồng không đủ. Con tầu vật vã cào bùn tiến lên, đùn lại phía sau những vòng xoáy màu huyết dụ.
Cậy to khoẻ thì ra ngoài biển rộng mà tung hoành, còn ở đây liệu có dám đua với tay chèo của Phương “cá ngạo” - Đám thuyền mủng lâu châu quanh con tầu như những con bọ nước bổ nháo bổ nhào kiếm ăn trên mặt sông, những đôi mắt của những tay chèo nghênh ngáo nhìn lên đám thuỷ thủ trên boong thách thức. Nhưng đó chỉ là động tác đánh lạc hướng để đón chừng Phương “cá ngạo” chèo mủng về chỗ nào là lập tức sẽ nhao theo. Chẳng hiểu sao Phương “cá ngạo” lặn xuống chỗ nào là chỗ ấy như đào được mỏ sắt phế liệu. Nhưng chẳng lần nào chúng chờ Phương hành động trước được. Không nhanh thì đứa khác mò hết, có theo thì đã chắc gì ăn may như thằng Phương. Khi những xoáy nước còn lộn vòng trước cầu cảng, con tầu còn chưa rời xa bờ thì những chiếc thuyền mủng đã giành nhau nhao vào để kịp chiếm lĩnh cho mình một khoảnh mặt nước đẹp. Ke thẳng từ hầm hàng con tàu lúc làm hàng xuống là vị trí đẹp.
Chúng mày sông nước bao năm rồi mà còn kém lắm, chỉ biết tranh giành từng mẩu sắt nhỏ chứ không biết làm thế nào kiếm được nhiều hơn mà đỡ mất công mất sức.  Làm như thế chỉ có bốc bùn mà ăn. Được cái mỗi thằng một khoảnh, không dám mò lấn sang của người khác, chúng nó tuân thủ như một điều luật bắt buộc cho nên chưa có trận thuỷ chiến ngầm nào xảy ra. Cho chúng mày mò trước! - Phương nằm ghếch chân lên tay chèo, lừng chừng tảng lờ ngoài xa, ánh mắt héo oặt như dọc khoai ngâm nước ngước nhìn lên những tay thuỷ thủ đang gò lưng cuộn dây neo. Khi con tầu khuất dần sau khúc cua ruột lợn là lúc những tay thợ lặn chìm xuống để moi móc lòng sông. Phương nằm ngửa nhìn trời, đủng đỉnh dùng chân đạp mái chèo về nơi biết chắc có nhiều sắt vụn rơi xuống.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần cuối)

PHẦN  4
DÒNG   SÔNG   CHỞ   KIẾP

NHỮNG CÁNH HOA MUA TRỞ NÊN NHÀU NHĨ, TÍM TÁI HƠN DƯỚI BÓNG CHIỀU. Bóng tối đang ẩn nấp sau tán lá khiến những cây mua như được cuộn tròn mình lại, chẳng khác gì một đàn gà đã lên chuồng xếp cánh gà gật ngủ. Sơn bần thần, đi xuống tới lưng chừng rồi lại leo lên không biết bao lần trên quả đồi sau doanh trại. Cảnh đoàn viên với gai đình của các đồng đội khiến Sơn mủi lòng. Những cánh hoa mua bị vò nát, tím thâm bàn tay. Tiếng kẻng báo giờ cơm chiều rộn rã, khua tan không gian tĩnh lặng trong giây lát. Chờ khi nào bóng tối sụp xuống Sơn mới trở về, một mình ăn cơm rồi lặng lẽ lên giường cố dìm mình vào giấc ngủ.
Khi tiếng reo: “Đất liền kia rồi!” của ai đó hét lên, tất cả mọi người đều bật dậy nhao lên mũi tầu. Mọi ánh mắt nhìn miết về một vệt xam xám như sợi chỉ căng ngăng mặt biển phía trước, háo hức chờ đợi. Vệt màu xám dần dần vồng lên trông như chiếc lá chuyển sang màu đen sẫm. “Đúng là đất liền! Ngày xưa tôi ra biển nhiều rồi sao chưa lần nào lại để ý tới đất liền hình thù thế nào khi quay trở về cơ chứ!” - Một người đứng sau Sơn cố kiễng chân để nhìn cho rõ, hậm hực nói. Bầu trời sau cơn mưa trở nên trong suốt. Những con sóng vỗ lách chách hai bên mạn tầu. Mọi người nghe thấy hơi thở dồn dập của nhau. “Có phải hàng cây kia không? Đúng là hàng cây rồi!” “Bác lái tầu ơi, có phải sắp vào tới bờ rồi phải không?” “Nửa tiếng nữa là tới Sầm Sơn”
- Về tới quê mẹ rồi!

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần 3)

PHẦN BA

CHỢ TAN - NHÀ TAN

- CÓ ĐƯỢC TRẬN MƯA QUÝ QUÁ, VONG CỦA CỤ THẾ LÀ MÁT MẺ!
Khi chiếc quan tài của cụ tổng cất lên vai những trai đinh thì hạt mưa đầu tiên sau hơn một tháng hè khô hạn bay xuống đậu vào bát hương, làm toé những hạt gạo ra ngoài khiến mọi người dừng lại, ngỡ ngàng nhìn lên giời. Những đám mây đen từ đằng Đông đang xô đẩy nhau chiếm chỗ trên bầu trời. Trong lòng mọi người hỉ hả, ánh mắt âm thầm giấu niềm vui.
- Thế là dưới ấy cụ cũng mừng, cụ phù trợ cho làng được cơn mưa. Chả có khi nào sông Vàng lại cạn như năm nay, cụ rùa đội chân cầu Đá cũng thấy khát. Hình như có ai nói nhìn thấy cụ rùa cất cổ lên. Nói thế là nói xằng, tôi thì tôi thấy vân đá trên lưng cụ có chỗ bị rạn, do nóng quá đấy mà.
- Này chú Sơn, chúng tôi có ý kiến thế này, cho chúng tôi được treo cờ đỏ sao vàng lên đầu ngõ. Chú để chúng tôi giải thích. Trước nhất, đây là tấm lòng của huyện uỷ kính dâng lên công đức của cụ. Thứ nữa, nhà chú có ba anh em giai, anh cả bí thư chi bộ, anh hai phụ trách giao thông huyện. Còn chú, mới mười chín đã bí thư Việt Minh liên xã. Vậy sao ta không khuyếch trương lên với làng nước. Thứ nữa, nói nhỏ với chú, cái mặt nhà lý Ngà có cắm xuống bùn cũng không hết giơ, thời buổi này đố dám ra đường, ta phô trương đây là phô trương sức mạnh. Chú thấy ý kiến của tôi có xác đáng không?
- Vâng, lý là như vậy, còn tình với cụ nhà em thì các bác thông cảm. Cụ em không nói ra nhưng làng xã ai cũng biết sinh thời cụ em sống thế nào, vậy khi thác cũng thế thôi, giờ làm vậy đâu có hợp. Và cụ em dặn, không báo tin cho ai cả, không kèn trống, điếu phúng gì, ở đời cụ không muốn làm phiền ai thì khi nhắm mắt xuôi tay cũng đừng để ai vất vả vì cụ. Thế mà ....!
Những hạt mưa lắc rắc rơi xuống, những đốm nước nở bung trên mặt đường, ông giời đang rải hoa xuống đám đưa cụ tổng ra đồng. Chiếc quan tài đỏ rực như ngọn lửa trong buổi sớm xám xanh của cơn mưa sắp đến. Chiếc quan tài ra đến đầu cánh Thỏ mà dòng người đưa đám còn ở giữa làng. Tiếng kèn ò e lan dài như sợi lại mềm thắt buộc đau thương trong lòng người, tiếng trống bung bung thay cho tiếng nấc nghẹn ngào, đoàn người âm thầm nối chân nhau. Không một giọt nước mắt, không kêu gào thảm thiết, cụ tổng mong thế và nay đã toại nguyện.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần 2)

PHẦN HAI

RỪNG MẤT - NHÀ MẤT.

CU SƠN VÙNG VẰNG NGỒI TỆT XUỐNG CẦU AO ĐÌNH, MIỆNG LỤNG BỤNG, CHÂN đá vung xuống mặt nước. Mười tuổi rồi mà mọi người cứ bảo còn bé lắm, không cho tập cùng. Lại được chị đĩ Thị, mang cháo ra tận ngoài này để cho người ta cười cho, rằng ăn cháo của cháu. Có con rồi phải chăm bẵm con chứ, đằng này em có lười ăn một tí đã cuống lên, cứ làm thế không sợ anh cu Toại chồng chị bực mình à. Cu Sơn ơi, cu Sơn à, không nhìn thấy em đâu đã gọi rối lên rồi. Cu Sơn nằm ép người xuống bậc cầu ao trốn chị. Đàn cá mương nhao vào rỉa chân buồn buồn, cu Sơn giẫy thùm thùm xuống mặt ao. Chị đĩ Thị tất tả chạy lại kéo em lên, nói dằn dỗi:
-Ai cho em ra ngoài này, nhỡ trượt chân ngã xuống ao thì sao! Từ sáng tới giờ chưa ăn miếng nào, chỉ mải chơi. Về ngay!
-Không cho em tập võ cùng, em không ăn, em không về! – Cu Sơn giằng tay ra khỏi tay chị.
-Người kẹ như cái dãi khoai này tập gì. Từ giờ chị cấm không được ra chơi gần ao đình, ở dưới đấy có con ma bắt trẻ con.
-Con ma Duân em không sợ, nhìn đây này!
Vừa nói dứt lời, cu Sơn nhẩy thùm xuống ao đình, lặn xuống một lúc rồi mới ngoi lên, lại đội cả mớ rễ bèo để trêu chị. Đĩ Thị hoảng quá, vừa nhao người xuống ao vừa thất thanh gọi người tới cứu em. Ông Diệc cùng thầy Quyết và đám trai đinh đang tập võ chạy vội tới. Nhưng em thì không phải cứu mà chị lại được em kéo vào bờ. Đĩ Thị nằm xoài người trên bậc cầu, ho sặc sụa vì phải uống nước ao đình, ánh mắt thất thần nhìn quanh tìm em.
-Cứ vài lần thế này thì chị chú đến vỡ ngực ra mà chết thôi. – Thầy Quyết véo tai cu Sơn, mắng.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần 1)





PHẦN  1

NƯỚC    SÔNG    VÀNG

- KÌA, ĐỠ CỤ! NGÃ BÂY GIỜ LẠI KHỔ CON KHỔ CHÁU, MƯA GIÓ ẦM ẦM THẾ NÀY cụ ra ngoài làm gì?
- Mặc tôi! Ra nhìn giời xem đến bao giờ mới tạnh cho dân làng nhờ, cứ thế này vài hôm nữa thì đám này cũng bị cuốn trôi đi hết.
Mọi người dồn sát vào nhau để nhường đường cho cụ Cờ đi ra ngoài cửa. Những bước chân của cụ run rẩy. Ông cụ yếu lắm rồi, mấy hôm nay chỉ thấy ngồi lặng lẽ, tập trung suy nghĩ điều gì đó lung lắm, không sởi lởi hỏi han động viên con cháu như mọi khi. Có lẽ tuổi cụ cao quá, tám lăm rồi còn gì, ăn ở thế này thì làm sao sức khỏe không suy sụp. Nhìn nước da của bố xuống sắc từng ngày, ông tổng Cò lo lắm. Ai cũng cầu mong cho cụ qua được cái đận khó khăn này. Nói dại mồm, cụ có nằm xuống lúc này thì tội cho gia đình cụ đã đành mà còn là họa cho cả làng.
Tờ mờ sáng mồng một mưa bắt đầu đổ xuống, ông tổng Cò còn nhớ, đó là ngày ông có việc cần lên trình quan phủ nên dậy chuẩn bị từ sớm. Nền trời đêm đỏ đòng đọc như có mồi lửa đang được nhen lên dưới lớp xám xịt màu tro của những đám mây trôi vùn vụt. Gà mới gáy canh tư, không trăng sao mà nhìn rõ từng thân cây đứng lặng phăng phắc như lũ trẻ hoảng sợ co lại bên nhau của rặng tre đầu làng. Đã sáu mươi tuổi đời, thế nhưng lần đầu tiên ông thấy bầu trời khủng khiếp thế này, trần gian đang phải sống dưới một gầm trời nặng trình trịch chuẩn bị đổ sập xuống. Ông tổng lo lắng nhìn trời đất. Chiều qua trời còn trong xanh thế mà đã thay đổi đột ngột, chẳng đoán định được sẽ sao. Không sấm chớp, không gió cuốn, những hạt mưa bắt đầu rơi xuống đã như tảng đá quật tướp tầu chuối. Rồi sẽ mưa phải biết đây, chẳng mấy mà ngập lụt cả vùng, vợ lại đang bụng mang dạ chửa, bố thì già cả, việc quan có thể lui lại được nên ông quyết định bỏ chuyến đi để lo việc nhà. Thế rồi, suốt cho đến hôm nay đã sang ngày rằm mà mưa chưa ngừng lấy được một khắc, nước cứ ầm ầm như xối như đổ dội từ trên trời xuống. Lại thêm nước từ mạn rừng Vàng tràn về nhanh, chỉ ba hôm sau cả làng đã ngập trắng băng. Dân làng phải dồn nhau về đình tránh lụt. Mấy hôm trước nhìn ra cánh đồng Đỗ là vùng đất cao nhất còn thấy mấy đám lúa ngoi hí hóp lặn ngụp để đoán chừng nước dâng đến đâu, đến hôm nay chỉ còn thấy mênh mông màu trắng bạc phếch của nước. Vẫn không chớp giật ngang trời, không sấm động kinh hoàng, chỉ có tiếng mưa rền rĩ như con quái vật khổng lồ kiên nhẫn đang cố sức nuốt chửng cái làng Trằm nhỏ bé này vào trong miệng tối om của nó. Nó chưa nuốt trôi được bởi còn đám đất đình này chẹn ngang họng, con quái vật càng quẫy đạp, nước tuôn xuống càng ngày càng dữ dội hơn để dễ nghiền nát những sinh linh nhỏ bé đang run rẩy nép vào nhau hoảng loạn. Ngoài sân đã săm sắp nước, không biết chiều nay hay ngày mai đây nước sẽ tràn vào trong đình!? Gần hai trăm sinh mạng ngửa mặt lên cầu giời!

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

TẠP CHÍ VĂN NGHỆ ĐÀI PTTH HẢI PHÒNG

 

   

NHẮC LẠI CHUYỆN QUÊN LÃNG

Tôi đi tìm tôi! Gần ba mươi năm sau khi xuất ngũ tôi mải mê đi tìm cái bóng xưa kia của mình. Tôi là ai trong những năm 1984 – 1988 ấy? Những năm ấy dân tộc ta có một cuộc chiến tranh ác liệt đấy? Không ai biết! Một trăm phần trăm những người được tôi hỏi, đủ mọi lứa tuổi, thành phần xã hội và cả những quân nhân cấp bậc có người tới thượng tá, đều không biết có cuộc chiến tranh này. Tôi kể chuyện những ngày tháng ác liệt ấy cho các cháu nghe thì mẹ chúng nó (tức em gái tôi) bảo, bác đọc tiểu thuyết.
Vào ngày 12 tháng 7 cách đây tròn ba mươi năm bắt đầu cuộc tấn công tổng lực của bộ đội ta giành lại từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc. Gần năm năm, hàng ngàn đồng đội của tôi ngã xuống. Huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang (ngày ấy là Hà Tuyên) được mệnh danh “cối xay thịt”, mật độ cối pháo không kém gì trận thành cổ Quảng Trị trong chiến tranh chống Mỹ. Không ai biết à! Tự an ủi, mình đã làm tròn nghĩa vụ của một công dân yêu nước. Nhưng cứ thấy tủi phận thế nào ấy. Nước mắt tự dưng cứ tuôn trào khi nghe những tiếng đầu nòng trong đêm pháo hoa. Ám ảnh tiếng đầu nòng của pháo giặc dập xuống trận địa ba mươi năm sau chưa dứt ra được. Đá bị bằm vụn, đất đỏ bị xới tơi, mẩu lá khô thay thuốc lào tìm cũng khó, cao điểm 300; 400 như con cóc ngồi trắng toát màu đá, xen những dòng đất đỏ như máu rỉ. Triền miên tiếng nổ. Ngày nào không có tiếng nổ là ngày ấy bất thường. Ám ảnh cái đêm nằm ôm xác đồng đội trong khe đá. Vận tải lên không được vì pháo.
Có cuộc chiến tranh nào mà người lính khổ hơn chúng tôi không. Mấy ngày lễ tết, hai bên ngừng bắn. Con phe đồ quân trang, nhu yếu phẩm của lính chốt đón hàng gần trạm vệ binh ngáp dài “Mấy hôm nay pháo không bắn thấy buồn”! Khi xuất ngũ, về tới bến xe Gia Lâm, mấy người hỏi “Lính ở đâu về?” “Lính Hà Tuyên” “ Lính biên giới chỉ có ba lô lộn thế này thôi à?” (ngày ấy bắt đầu thông thương biên giới) Vâng, năm, sáu người chung một ba lô còn lép. Và sau này. Truyện ngắn “Bóng anh hùng” của Doãn Dũng đã thể hiện rất chân thật và chính xác về những gì chúng tôi đã trải qua và đang phải chịu đựng. Vậy mà tỉnh ủy Phú Yên cho rằng đó là một tác phẩm cực kỳ độc hại, cực kỳ phản động, làm tổn thương các mẹ VN anh hùng. Những người ra quyết định này nếu tôi có hỏi chắc cũng thế thôi. Không biết!
Tôi gọi cuộc chiến tranh ấy là cuộc chiến tranh “của chúng tôi”
Nhớ đồng đội lắm! Nếu ai đến thăm đài tưởng niệm tại ngã ba Thanh Thủy, vào thăm hang Dơi, hãy quan sát địa hình rồi nhìn vào mắt những người lính năm xưa chúng tôi thì thấy tại sao chúng tôi lại nhớ đồng đội đến vậy. Ánh mắt thảng thốt, đẫm lệ. Ám ảnh bóng đồng đội gục xuống ngay trước mắt mình. Những 1509, 772, 685, đồi Đài, H6 ... giờ không còn trơ trọi đá xám, không loang đỏ những dòng đất bị pháo bằm tơi. Trên đỉnh cao vòi vọi ấy, dưới màu xanh ngút ngàn ấy đồng đội còn nằm lại chỗ nào. Chúng tôi giờ không leo nổi tới những điểm cao ấy nữa mong đồng đội tha thứ.
Hôm nay tôi có thể thốt lên câu gì đây, khi được thấy trên VTV thời sự 19 giờ ngày 14 tháng 7 năm 2014, những đồng đội cùng mặt trận với mình, những cựu chiến binh sư đoàn 356 trực tiếp tham gia trận đánh mở màn cách đây ba mươi năm được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp đón. Xúc động lắm! Xúc động bởi vì: không biết tôi dùng từ khảng định có đúng, đây là lần đầu tiên cuộc chiến tranh “của chúng tôi” được lãnh đạo cấp cao nhất của nhà nước ta công khai nhắc tới trên sóng Đài truyền hình Việt Nam. Vậy là đến ngày này, toàn thể nhân dân đã biết, dân tộc ta còn có một cuộc chiến tranh nữa, đó là cuộc chiến tranh Biên giới 1984 – 1988.
Có lẽ Đại tá Nguyễn Đức Cam nguyên sư đoàn phó, tham mưu trưởng sư đoàn 356 cũng thấy tủi phận như tôi nên mới nói trong cuộc gặp mặt lịch sử này “Đối với với chúng tôi đây là sự ghi nhận, là phần thưởng mà cả đời không nghĩ tới” Tại cuộc gặp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định Tổ quốc, nhân dân mãi mãi ghi công các anh hùng, thương binh, liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ đất nước. Vâng, chúng tôi chỉ muốn nói câu này  “Người lính chiến đấu dẫu có trận thất bại, cũng có trận lập chiến công. Chỉ mong Tổ quốc một lần nhắc tên họ công khai”

Quên lãng đã được nhắc lại. Với tôi ám ảnh đã được giải tỏa!
                                                                                                                           N.Q.H