- II -
- Đêm qua cái
Thành sang cát cho chồng đấy.
- Vậy à!
Phương gẩy chân
chống chiếc xe spacy, dựng sát vào rệ đường, hững hờ trả lời Tươi cho qua
chuyện rồi tính đi thẳng xuống bến. Thái độ như thế làm sao có thể qua được mặt
“con chó ghẻ canh cửa”. Dân xóm bờ đê bây giờ gán cho Tươi biệt danh ấy. Tươi
mắc ết giai đoạn cuối, những mịn màng da thịt của người con gái đã bán hết cho
khách, chỉ còn lại những khúc xương được bọc bằng lớp da đen bẩn như chiếc giẻ
lau chùi dầu máy hờ hững bám vào nhau để tạo nên hình hài giống một con người.
Ai đi ngang qua cửa cũng quay mặt đi để tránh phải nhìn vào hai hố mắt có miếng
sáng trắng đục như mảnh con ngao úp vào, cố bước cho thật nhanh để khỏi nghe
tiếng gầm gừ như chó đẻ mỗi khi có người lại gần, tiếng hự hà mắc nghẹn của dớt
dãi trong họng và cuối cùng là những câu chửi sỗ sàng bằng thứ giọng thống
thiết, não nề, buồn rơi nước mắt.
Con đường xuống
bến bắt đầu từ cửa nhà Tươi đã được be đắp thành con đường rộng, chắc chắn đủ
để cho xe Xan-xing xuống tận bến lấy hàng. Dân xóm bờ đê ngày nào cũng phải qua
lại vài lần nhưng chưa có một giọt nước mắt nào nhỏ xuống sót thương cho Tươi.
Không ai cần nhớ đắp được con đường như ngày nay thì ai là người có công nhất.
Sau Phương là đến cái Tươi chứ còn ai. Chỉ có lão Cống tử tế, mỗi khi đi qua
lại ném qua bờ rào cho Tươi khi chiếc bánh mỳ, lúc chiếc bánh chưng như trẻ con
ném đồ ăn vào chuồng thú trong công viên như là để trả ơn. Có thế Tươi mới còn
tồn tại được trên đời. “Để cho nó chết đói, đi qua đây đỡ sợ, ông vẫn còn tiếc
cơ à!” Bọn đàn ông xóm bờ đê vừa khạc nước bọt vừa gắt với lão Cống. Vợ lão
Cống bị chết đuối do chuột rút khi đi dui cá chứ không lại bảo tại lây si đa
qua chồng. Lão Cống bảo, chúng mày đồ bất nhân, vô ơn, tao thề chưa được thả
vào con Tươi một con quăng quăng nào, nếu không giờ cũng phát bệnh rồi.
- Sao thế! Đi
qua mà không ngoảnh mặt lại nhìn mặt con này một nhát được à!