*
* *
- Sống, chết, thời, vận, số. Một khi anh đã tới số
thì đạn pháo còn tìm được anh trong công sự, đây là câu nói của đồng chí tư
lệnh mặt trận. Một kinh nghiệm của người đã trải qua không ít những trận đánh
ác liệt và cũng là đúc kết vốn sống trong suốt cuộc đời quân ngũ của ông. -
Cường bắt đầu buổi sinh hoạt trung đội với những người lính mới bổ sung về đơn
vị bằng câu triết lí đang lan truyền trong những người lính mặt trận Vị Xuyên.
Những
tân binh ngồi bó gối, im lặng trên sạp. Họ nghĩ gì, Huy không biết được. Chỉ có
ánh sáng leo lét của ngọn lửa nhỏ đốt bằng sợi dây giày ngâm trong bát mỡ hóa
học không đủ để soi tỏ từng gương mặt, từng ánh mắt của những người lính mới.
Không biết họ có lắng tai nghe tiếng pháo đang ì ùng vọng về.
Cường
nói tiếp:
-
Bằng chứng sát thực nhất minh chứng cho câu nói của đồng chí tư lệnh ở ngay
trung đội của chúng ta đây. Xin lỗi đồng chí Tuấn, không phải tôi có ý xúc phạm
tới đồng chí và tới người đã mất, tôi chỉ muốn anh em đồng đội mình hiểu thêm
một góc cạnh của cuộc đời, để từ đó những người trẻ tuổi như chúng ta đây có
cách đánh giá đúng hơn về cuộc sống. Đồng chí Tuấn và một đồng chí nữa, đến
phút chót đã không giữ vững được ý chí tiến công của người chiến sĩ, đã thoái
thác trách nhiệm của một người công dân là phải bảo vệ từng tấc đất thiêng
liêng của Tổ Quốc. Hậu quả ra sao. Một đồng chí đã hy sinh trên đường quay về.
Cái hy sinh ấy có đáng không. Rất buồn. Chúng tôi buồn. Và gia đình đồng chí ấy
còn buồn hơn. Phải không đồng chí Tuấn.
Tuấn
“trắng” ngồi tận cuối sạp, ánh sáng ngọn lửa không đủ với tới để cho mọi người
thấy bộ mặt nó vênh vác, lì lợm.
Nó
hận ai mà thay đổi tính cách nhanh như thế.
Tuấn trắng trẻo, nước da hồng
hào, lại thêm chiếc răng khểnh nên có biệt danh là Tuấn “trắng”, có khi gọi là
Tuấn “đàn bà” bởi tính cách nhút nhát, nói năng ỏn ẻn và hay cười của nó.
Sau
khi chia tay Huy và Hoàng “dở”, Tuấn “trắng” cùng Chiến “mặt mục” quyết tâm
quay lại. Đi được một đoạn, Tuấn dừng lại băn khoăn.
-
Liệu có đúng đường không?
Chiến “mặt mục” nói chắc:
-
Tin tao đi, không thể nhầm đường được. – Chiến ngồi xuống xòa tay xuống mặt
đường xác định: - Mày xem, đây chỉ có một vệt đường mòn này, đi chừng trăm mét
nữa là tới đường hào. Cứ đường hào mà đi sẽ tới đường tăng.
Tuấn
ngồi xuống xác định lại:
-
Đúng là đường mòn rồi nhưng có đúng đường mình đi lúc nãy, hay còn đường nào?
-
Làm gì còn đường mòn nào nữa.
-
Ngày xưa dân sống ở đây, thiếu gì đường mòn. Tối quá mày ạ. Mà không biết lúc
vào mình đi lên hay đi xuống nữa. Từ nãy tới giờ hình như mình đang đi xuống.
Giờ
đến lượt Chiến “mặt mục” băn khoăn:
-
Ừ! Cứ đi đoạn nữa xem thế nào. Mà sao lúc vào đi như nhắm mắt lại đi, mọi người
vẫn đúng đường là thế nào nhỉ.
-
Súng thì sao đây, nặng lắm.
-
Cố mang đi. Nhỡ có chuyện gì.
Hai
thằng đi tiếp. Chân thì khua lần lối, xem đi có đúng đường mòn, tay thì quơ xem
có đúng bên đường là cỏ gianh như lúc vào. Lần sờ đi như người mù.
Tuấn
“trắng” reo lên:
-
Tới đường hào rồi mày ạ!
Chiến
“mặt mục” lần sờ hai bên thành hào:
-
Đúng là đường hào. Nhưng sao lại có cái cây to này? Lúc đến đầu đường hào tao
có ngồi nghỉ, sờ xung quanh mà!
-
Tối nhìn thấy gì đâu mà mày nói chắc.
-
Đi thôi, cứ đường hào chắc chắn là ra tám mười hai. Tới đấy hãy nghỉ. – Chiến
giục: Đi mày!
Đi
một lúc lâu, hai thằng dừng lại cùng thắc mắc:
-
Sao từ nãy chỉ thấy đi xuống là thế nào? Phải có chỗ đi lên mới đúng chứ nhỉ.
-
Đi đoạn nữa xem thế nào. Lạc bỏ mẹ!
Đi
đoạn nữa.
-
Suối mày ạ.
-
Chết cha. Tụt xuống lũng rồi. Suối Thanh Thủy rồi. Lúc đến đầu đường hào, nghe
tiếng nước chảy, tao hỏi, ông Nguộc bảo đấy là suối Thanh Thủy.
-
Giờ thế nào, mày?
-
Bây giờ biết đường nào quay lại!
-
Hay tìm chỗ nấp chờ. Trời sắp sáng rồi.
-
Pháo bắn gần lắm, nó mà bắn vào đây bỏ mẹ, biết nấp chỗ nào được. Cứ xuôi theo
dòng của suối sẽ ra tới sông Lô, sau đó xuôi xuống là về Hà Giang.
-
Thế thì đi!
Bỗng
hai thằng giật thót người vì có tiếng lội nước rất gần. Hai thằng ngồi thụp
xuống, lùi lại phía sau. Sờ phải tảng đá to, hai thằng nép ra phía sau. Căng
mắt quan sát.
-
Có năm người mày ạ. Mày có nhìn thấy không?
-
Có! Hay là lính mình. Nghe nói có một C đánh luồn phía sau.
Những
bóng đen tới chỗ hai thằng chỉ cách có vài mét bỗng dừng lại, tụt súng khỏi vai
chĩa ra phía trước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Chiến
“mặt mục” run cầm cập. Khẩu súng của nó đập vào đá phát ra tiếng cạch khô ròn
nổi rõ trong tiếng ì à của dòng suối.
Những
bóng đen tản ra, cảnh giác.
-
Tao hỏi nhá? – Chiến “mặt mục” run cầm cập hỏi.
-
Hỏi gì? – Tuấn “trắng” cũng run.
Chiến
“mặt mục” đứng dậy, hỏi to:
-
Sao vàng!
Đáp
trả mật khẩu của Chiến “mặt mục” là một loạt tiếng nổ vang lên. Hự! Mẹ ơi!
Chiến “mặt mục” thốt lên tiếng gọi rồi cả thân hình đổ sập xuống người Tuấn.
Tuấn hốt hoảng, ngón tay xiết mạnh vào cò súng. Tiếng nổ bùng lên ngay trước
mặt và tay rung lên vì súng giật khiến Tuấn hoảng buông khẩu súng nằm ẹp xuống.
Những tiếng chiu chíu đập vào tảng đá ngay trên đầu khiến Tuấn nằm co quắp. Nếu
không có tiếng nổ và sức ép của quả lựu đạn nổ ngay cạnh thì Tuấn chưa chắc đã
bỏ chạy. Trời đất sụp ngay dưới chân rồi, Tuấn hoảng loạn vùng dậy chạy.
Tuấn
chạy. Những tiếng nổ đuổi theo. Nước quấn lấy chân, kéo Tuấn không cho chạy.
Tuấn nhao người lên trước gắng sức chạy. Nhưng những tảng đá trơn nhẫy như đứng
dựng dậy hất Tuấn ngã dúi dụi.
Sau nghĩ lại, sao lúc ấy ngã dúi
dụi, ngã đập đầu vào đá mà Tuấn không thấy cảm giác bị đau.
- Lúc ấy là gần sáng phải không?
– Huy hỏi
- Chẳng nhớ là lúc nào. Cũng
không biết bao lâu thì trời sáng.
- Tao nghe thấy mấy loạt AK rồi
có một tiếng lựu đạn dưới lũng.
- Có khi đấy là của em với thằng
Chiến “mặt mục”. Giờ nghĩ lại tiếng thét gọi mẹ của nó, em không biết phải nói
thế nào cho phải.
- Mẹ là người luôn che chở cho
con. Đấy là bản năng của con người.
- Nói như triết gia. Nhưng cũng
phải. Nhưng cũng không là phải. Thế tại sao mẹ em bắt em phải trở lại đơn vị,
nếu không bà ấy dọa tự tử.
- Con người còn có danh dự.
- Thế danh dự lớn hơn tình mẫu tử
à!
- Thôi đi bố, thảo nào tao thấy
mày thành thằng cùn.
Tuấn
“trắng” bơi giỏi, nếu không đã bị dòng nước cuồn cuộn nhấn chìm. Rơi xuống hũm
sâu ngụp đầu, Tuấn bị cuốn vào xoáy nước, người bị kéo tụt tới tận đáy. Nước
sộc vào mũi, ồng ộc xông xuống bụng. Lúc này, Tuấn bình tĩnh tháo khẩu AK khỏi
người, đạp nước nhoi lên. Dòng nước ném Tuấn như ném một cành cây khô, từ bờ
bên nọ sang bờ bên kia, người nẩy bình bịch như quả bóng trên các tảng đá. Tâm
thần hoảng loạn, Tuấn không cảm nhận được đau đớn của cơ thể.
Một
thân cây đổ chặn giữa dòng suối ngăn Tuấn lại. Nghỉ đã. Tuấn ôm thân cây thở
hồng hộc. Trời đã sáng bảnh. Ngay gần Tuấn là cây cầu treo vẫn còn đung đưa.
Chắc là vừa có người đi qua. Nhưng là ta hay địch? Là ai thì Tuấn cũng phải
chạy. Lúc này, Tuấn mới nhận ra tiếng nổ triền miên, tiếng soèn soẹt của đạn
pháo đang bủa vây quanh mình. Đất dưới chân Tuấn rung bần bật. Tuấn cảm nhận
được cả không khí quanh mình cũng bị những tiếng rít, tiếng nổ giằng giật. Trời
đất này đang nổi cơn thịnh nộ.
Mấy
quả đạn pháo rơi gần. Tuấn bị nhấn chìm trong tiếng nổ, cơ thể bị nén sâu xuống
lòng đất. Đất đá rào rào rơi xuống đầu Tuấn. Nằm lại là chết. Chạy! Tuấn vùng
dậy chạy qua cây cầu. Cầu chao như đu võng, đẩy Tuấn ngã sấp xuống. Tuấn bò.
Một loạt pháo nữa dội tiếp xuống. Những tiếng phầm phập găm quanh người Tuấn.
Chạy! Qua được bờ bên kia. Tuấn cắm đầu chạy. Những tiếng nổ gần cũng không
ngăn được Tuấn chạy. Tới đường to rồi, chạy dễ rồi, Tuấn dấn người chạy thật
nhanh. Nhắm mắt lại để chạy. Giờ nghĩ lại sao lúc ấy không biết đường biết lối
nào vậy mà không lạc
- Như anh Cường nói, thế là số
mày pháo nó không tìm tới. Cố lên mày, ba năm trở về trong chiến thắng, lúc ấy
ngẩng cao đầu mà bước.
- Anh nói như dắm đĩ. Sao anh
không đi học chính trị viên đi.
- Nhà tao không khó khăn tao cũng
đi lâu rồi, từ khi chưa vào đại học. Họ nhà tao phát về đường binh nghiệp. Tao
tìm con đường kiếm tiền để nuôi gia đình. Đi tầu “vốt cô” đang phát, mày không
thấy à. Đi vài chuyến vơ rác của Nhật về để vênh mặt với thiên hạ.
- Ngu! Có người đỡ như thế không
quay lại. Chết lại bảo tại số.
Tuấn
chạy hụt chân, ngã nhào xuống cái hố. Không phải hố mà là đường hào ngay sát
chân núi. May rồi! An toàn rồi! Tuấn tự nhủ. Tuấn nằm úp mặt xuống đất, nhắm
mắt lại để thở đã. Mặc mẹ cho chúng nó bắn, chỗ này chắc xa nơi đang đánh nhau.
Tuấn lắng tai nghe. Tiếng tặc tặc nổ râm ran như đốt pháo đêm ba mươi. Súng bộ
binh đấy. Đánh nhau to rồi. Không biết những đứa ở lại giờ thế nào? Xung phong!
Hôm huấn luyện Tuấn cũng đã hô vang câu ấy. Tuấn nhỏm dậy nhìn qua bờ hào. Có
cây cầu sập. Chắc không phải đi hướng đó. Đi tiếp theo đường hào chắc sẽ xuống
được Hà Giang. Tuấn khom người đi tiếp. R…éo… éo! Panh! Tiếng nổ đập vào đá
ngay trên đầu Tuấn. Hai đường ánh sáng tiếp theo từ trên cao đang lao về phía
Tuấn. R…éo …éo! R… éo …éo! Panh! Panh! Hai quả đạn tiếp theo găm ngay trên bờ
hào. Chạy! Phía bên kia là nó rồi. Cả một bãi trống mênh mông thế thì làm sao
chúng không nhìn thấy Tuấn. Chạy!
- Sao chúng mày không đảo ngũ từ
bên dưới, lên đến đấy rồi còn quay lại.
Tuấn chặc lưỡi chán nản.
- Ừ thì! … Cũng là cái số. Sau
lúc hai thằng Bình Trị Thiên bị pháo, thằng Chiến nói bâng quơ, hay là quay
lại. Em nói hùa theo, bùng đi. Thấy cái chết ngay cạnh thằng nào chả run. Cả
một đoạn đường sau em với thằng Chiến chỉ bàn chuyện quay lại. Mà sao lúc ấy
chẳng nghĩ tới chuyện đường đi lối lại, chỉ nói tới sống chết. Em quyết, bùng!
Nó theo luôn. Vào đằng nào cũng chết. Cả một trung đoàn còn lại mấy người. Ở
lại chắc gì em đã còn được ngồi đây. Thôi em đi vào bản với chúng nó, hình như
bọn thằng Trung “bọ” bảo có đàn “qué” hay kiếm ăn ở đầu bản.
*
* *
Quéc! Qu…éc! Qu…éc! Tiếng đàn gà
kêu thất thanh.
Đập cánh phành phạch, đàn gà nháo
nhác chạy xô vào nhau. Hoảng. Lại queng quéc kêu nhưng không thất thanh mà tắc
nghẹn, thảm thương.
Ông Sanh, bố Mây đứng lên đi ra
cửa nhìn về phía có tiếng kêu của đàn gà.
Ông chậm rãi quay lại chỗ ngồi
bên bếp lửa, chậm rãi mồi thuốc vào chiếc điếu ục. Ông rít một hơi dài, chậm
rãi nhả từng ít khói ra khỏi miệng. Ông ấn chiếc điếu vào tận tay Cường, bảo:
- Hút đi!
Cường lúng túng trước thái độ của
ông, rụt rè:
- Dạ! Con … có hút thuốc bao giờ
đâu.
Mây ngồi cạnh nói đỡ thêm:
- Bố biết rồi mà, anh Cường có
hút thuốc đâu.
Ông Sanh lại dúi chiếc điếu vào
tay Huy, giục:
- Anh Huy đi biển, lại quê thuốc
lào, hút đi vớ!
Huy cười, nói vui chủ đích phá
băng thái độ thay đổi khó hiểu của bố Mây:
- Con hút mà say như say rượu hôm
trước thì sao.
Ông Sanh không nói theo mạch
chuyện vừa nói, đột nhiên ông buông lời cố kìm tiếng thở dài:
- Bộ đội anh Cường với bộ đội anh
Huy đấy.
Huy nhìn sang Cường.
Cường cũng nhìn sang Huy.
Hai ánh mắt gặp nhau, cùng hiểu ý
nghĩ của nhau, cùng biết bố Mây nói tới chuyện gì. Cả hai cùng thấy xấu hổ.
Huy với chiếc ống thổi, thổi cho
ngọn lửa cháy to thêm, che giấu mặt mình đang đỏ bừng lên vì xấu hổ. Không thấy
Cường lên tiếng, Huy ngập ngừng nói với bố Mây:
- Chúng con xin lỗi! Về đơn vị
chúng con sẽ nhắc nhở anh em.
Mây ngạc nhiên hỏi:
- Có chuyện gì không vui à. Mọi
người cho em biết vớ.
Mây không biết xảy ra chuyện gì
khiến cho mọi người đang vui bỗng chững lại. Phải có chuyện gì hệ trọng nên ánh
mắt của những người đàn ông đột ngột trở nên ưu tư.
Con đường trở về đơn vị càng trở
nên lầy lội hơn thì phải, Huy và Cường luôn phải dừng lại gạt bớt lớp đất đỏ
bám vào đế dép. Chân như dính chặt xuống mặt đường. Bực tức. Cáu bẳn. Không ai
nói với ai, không dám nhìn thẳng vào mắt nhau bởi vẻ mặt ai cũng khó đăm đăm.
Khó chịu về con đường là một lẽ, còn lẽ nữa là tại những chiến sĩ trong trung
đội đã làm xấu mặt Huy và Cường. Với Cường còn thêm sự băn khoăn bởi Huy thấy
anh ấy thỉnh thoảng nhìn quay lại. Liệu đầu óc trong sáng của Mây sẽ nghĩ gì và
rồi ngày mai sẽ ứng xử thế nào khi cô ấy biết chuyện gì vừa xảy ra. Những tầu
cọ ủ rũ như người buồn bã đứng thõng tay, ngẩn ngơ.
Huy dừng lại, đập dép vào thân
cây cọ đổ bên đường. Một mảng thân cọ mục vỡ ra. Bên trong có những con sâu
trắng sữa, to bằng ngón tay, ngọ nguậy. Huy hỏi Cường:
- Có phải sâu cọ mà ông bảo đây
không?
- Ừ!
- Bắt về rang ăn nhá?
- Đang buồn bỏ mẹ. Thôi, về đi!
Về tôi cho bọn chúng nó một trận.
- Tôi cũng bực chứ ông tưởng tôi
vui lắm à. – Huy thở dài: - Về bây giờ lại ăn cơm với muối trắng à. Đi lấy thực
phẩm lại về không. Ông bảo sâu cọ ăn ngon lắm, tôi nhặt nhá.
- Tùy.
Huy gói những con sâu vào tầu lá
cọ.
- Lính tráng mà, ông buồn làm chó
gì. Ngày đi làm, công nhân cảng ăn cắp như nhại. Chúng nó khoe ăn cắp như khoe
chiến tích của trận đánh, mặt vênh vác như thể làm thằng ăn cắp thấy hãnh diện
hơn làm người lương thiện.
- Thôi đi ông.
- Tại ông là sĩ quan, lại đang
yêu.
- Tôi thấy ông trở mặt nhanh quá
đấy. Vừa nẫy thấy buồn xỉu, bây giờ đã giở giọng. Không đùa đâu.
Huy cố tình cười vang đồi cọ.
- Kiểu gì chốc nữa về tôi cũng
cho bọn này một trận. Mẹ chúng mày, ngã quả nào xưng nách quả đấy.
Hình như có bóng người thấp
thoáng đi lại giữa các ngôi mộ. Huy kéo Cường dừng lại, nhìn về khu chôn cất
liệt sĩ, hỏi:
- Ai kia nhỉ? Trông như Hoàng
“dở”.
Cường chăm chú quan sát từng hàng
mộ, lắc đầu:
- Có ai đâu?
- Kia thôi, nhìn rõ lắm. Nó ngồi
xuống, khuất rồi.
- Tôi chả nhìn thấy gì.
- Kìa! – Huy chỉ tay cho Cường
thấy: - Nó đứng lên đi đi lại lại, ở phía cuối ấy.
Trước mắt Huy rõ ràng một người
mặc bộ đồ lính K82, quần áo xộc xệch, đầu tóc rối bù đúng như tác phong của
Hoàng “dở”.
- Tôi nhìn rõ lắm, đúng Hoàng
“dở”!
- Thằng Hoàng “dở” gọi ông là Huy
“mù” cũng đúng. Tôi chẳng nhìn thấy bóng người nào cả.
Cũng có thể tại mắt kém nên Huy
nhìn không rõ. Hay một bóng cây nào đó lay động khiến Huy nhầm. Từ hôm qua tới
giờ không thấy pháo bắn nên khu chôn cất liệt sĩ vắng lặng, mấy cái huyệt đào sẵn
đất còn đỏ lòm, ướt rượt. Mong sao biên giới yên bình như hôm nay.
Tới mó nước đầu doanh trại, Huy
định cởi quần áo tắm cho sạch mồ hôi. Cũng đoạn đường như mọi hôm sao hôm nay
chật vật quá, mồ hôi vã ướt đầm áo. Nhưng phải kiểm tra xem Hoàng “dở” ra sao
đã. Lúc này, nếu ai đó lệnh cho Hoàng “dở” làm việc cùng anh em, ngay lập tức
nó sẽ nổi khùng, mắt vằn lên những tia đỏ man dại. Có lần, khi sinh hoạt B,
Thành tân binh mới bổ sung về có ý kiến, không biết tại sao cùng là lính cả mà
Hoàng không phải làm việc gì, cả ngày chỉ thấy ngồi trên giường. Hoàng “dở” gầm
gè ư ử trong cổ, nghiến răng kèn kẹt rồi vớ cái gì đập cái ấy. Nó lên cơn khùng
nhưng tuyệt nhiên không động chạm tới súng đạn. Chỉ đến khi Huy túm gáy, lúc ấy
Hoàng mới như con chó con bị chủ đánh, ngoan ngoãn nằm co trên sạp, mắt dại như
người ngái ngủ. Huy ra lệnh:
- Mày không làm gì thì phải ra
gác!
Hoàng “dở” đứng lên, cóm róm mang
súng ra đầu nhà ngồi gác. Hôm ấy nó gác suốt đêm. Sáng, Huy huy động anh em
trong đại đội làm cho Hoàng cái chòi gác.
Từ hôm ấy, Hoàng ở luôn chòi gác.
Hoàng tháo toàn bộ đạn trả cho đơn vị. Nó nói, có đạn nhỡ máy tay thì sao, gác
đã có ma thiêng ngoài kia rồi. Toàn đứa chết trẻ thiêng lắm.
Huy leo lên, nhìn vào trong chòi.
Hoàng “dở” nằm co ro, ngáy khìn khịt. Nó nằm co ở đây, vậy mà Huy nhìn rõ ràng
có người giống nó quanh quẩn ngoài khu mộ. Huy đập xuống sàn gọi:
- Dậy! Mày gác thế này à!
Hoàng giật mình ngồi dậy. Nhìn
thấy Huy, Hoàng lúng búng trong miệng:
- Em … em ngủ đâu.
- Không ngủ mà ngáy như trâu thế
à.
- Mấy giờ rồi? Chắc vừa chợp mắt
tí. Cả đêm qua không ngủ, trưa nay cũng không ngủ.
- Thế mày có thấy ai đi lại ngoài
kia không?
- Ngoài nào? Ngoài nghĩa trang
kia á. Làm gì có ai.
- Tao với mày ra ngoài đấy xem
sao đi. Nhỡ có thám báo lẻn vào thì chết.
- Anh đi một mình. Kinh lắm!
Nhìn ánh mắt dài dại của Hoàng,
Huy biết nó sợ thật, bây giờ cố gây sức ép để nó đi chắc nó sẽ phản kháng.
Không nên. Nhưng đi một mình ra đấy cũng rợn. Chắc tại mắt mình, Huy tự nhủ. Về
doanh trại xem Cường xử lí vụ lính mình ngã sưng nách thế nào.
Cả trung đội được xếp thành ba
hàng dọc. Đứng trước hàng quân là Chiến “lùn” và Hải “lác”. Cả hai đều là lính cũ,
cùng tham gia trận đánh vừa rồi. Hai đứa cắp hai con gà bên nách. Hai con gà
còn sống nhưng có lẽ giẫy giụa nhiều nên mệt, cái đầu mỗi lần cố cất lên đều
không nổi đành bất lực rũ xuống, nước dãi nhểu dài bên mỏ.
Cường:
- Các đồng chí có thấy xấu hổ
không. Hai người lính này đã oai hùng xông pha trận mạc, thế mà giờ đeo cái tên
ăn cắp gà trước ngực. Chẳng lẽ các đồng chí không nhìn thấy danh dự của mình bị
xúc phạm à. Tôi muốn nói với các đồng chí mới bổ sung về đây điều trăn trở của
người chỉ huy, chiến trường ác liệt ở ngay trước mắt mình, nếu không nhìn thấy
danh dự của mình ở đâu thì làm sao giữ vững được Đất nước. – Giọng Cường trùng
xuống: - Trận đánh vừa rồi, mỗi khi tiến lên, chúng tôi và cả hai đồng chí đây
đều bật lên tiếng hô, vì danh dự của người chiến sĩ, xung phong! – Cường cố nén
những giọt nước mắt: - Cả Hà Giang để tang cho những đồng đội của ta ngã xuống
trong trận đánh đó, các đồng chí …!
Cường im lặng.
Huy đứng cuối hàng quân, đầu cúi
xuống để giấu giọt nước mắt. Đã hơn một tháng, công kia việc nọ, rồi đi bản tìm
hiểu cuộc sống sinh hoạt của những gia đình dân tộc đã cuốn Huy vào khiến cho nỗi
buồn của cuộc chiến vừa qua đã vơi đi phần nào. Và câu chuyện tình yêu giữa
Cường và Mây cũng khiến Huy vơi bớt đi ám ảnh của chết chóc.
Danh dự! Nó chẳng có hình hài gì
cho ta nhìn thấy để làm theo và nó đe chẳng ai sợ. Cái biên giới mong manh của
danh dự ai cũng có thể bước qua dễ dàng. Cũng như đường biên giới trên kia,
những cột mốc hữu hình nhỏ nhoi không đủ mạnh để ngăn giữ kẻ xâm lược huống chi
chỉ là những đường vạch trên tấm bản đồ. Hay là kêu gọi danh dự với một kẻ tham
lam, bành chướng để chấm dứt cuộc chiến này nhỉ. Nực cười! Nếu Huy đảo ngũ, hẳn
bây giờ đang ở thành phố. Giờ này tan tầm, tiếng động cơ của các loại xe cộ gầm
gào, những dòng người chen chúc nhau xuôi ngược. Tiếng của tương lai, Huy đã
đặt cho những tiếng động đường phố tên vậy. Đó là do, khi còn là sinh viên, vào
giờ này Huy cùng các bạn nối nhau thành hàng dài đạp xe theo sau thầy giáo chủ
nhiệm cùng rồng rắn luồn lách qua dòng người trên phố. Ai cũng vừa đạp xe vừa
lắng nghe tiếng động về chiều để cảm nhận.
Đến hôm nay Huy mới nhận ra, danh
dự hiện hữu trong chuyện ở lại hay quay về của người lính lớn lắm. Không biết
có phải vì danh dự mà mình ở lại?
Một chuỗi tiếng bình, bình của
đạn pháo mạn đường biên vọng về. Tiếng động của chiều nay. Vậy là đêm nay sẽ
lại có những ngôi mộ mới mọc lên.
Sao bác Hồng hàng xóm lại mất
nhỉ? Huy thấy bâng khuâng. Hình ảnh con ngõ nhỏ, dài hun hút hiện ra trước mắt.
Bước chân Huy bồn chồn bởi cảm giác mình đang rảo bước với gánh nước trên vai.
Tiếng bác Hồng oang oang, lại giật cục từng đoạn một, Huy thấy văng vẳng như
đâu đây thì phải. Ngày ở nhà, là hàng xóm nhưng có mấy khi hai gia đình sang
nhà nhau chơi, vậy mà bây giờ Huy lại thấy bác ấy gần gũi như người nhà. Nhơ
nhớ! Tự dưng Huy bị ám ảnh thế nhỉ?
Huy rùng mình. Cảm giác nhồn nhột
chạy dọc sống lưng. Cái tính mình hay nghĩ vẩn vơ, Huy giải thích cho sự chuyển
động của cơ thể. Không phải, cơ thể mình có vấn đề thật. Khó thở. Hơi thở nong
nóng cánh mũi. Khớp bàn tay, bàn chân tê mỏi. Nhồn nhột chạy dọc sống lưng. Đầu
đau như có kim châm. Huy lẩy bẩy đi về sạp nằm. Rét. Người Huy run bần bật. Bao
nhiêu hơi nóng trong người ngùn ngụt từ đầu bốc hết ra ngoài khiến cơ thể Huy
lạnh cóng. Sống lưng gai gai, nhồn nhột. Huy mắm môi gắng chịu. Môi như miếng
thịt thừa, Huy cắn vào chỉ thấy bần bì. Huy với chăn đắp lên người, nằm co
quắp, cố giữ hơi ấp lại.
- Huy! Ốm à? – Cường hỏi.
- Rét … lắm! – Huy run rẩy trả
lời.
- Anh Huy sốt rét rồi, thằng nào
gọi y tá.
Huy kéo chăn chùm kín đầu. Gió ở
đâu luồn vào mà rét thế. Huy nghiến răng chịu đựng cơn rét hành hạ mình.
- Mang hết chăn ra đắp cho anh ấy
đi, khẩn trương!
Huy cảm nhận được, mọi người tung
chăn ủ thêm lên người. Càng rét hơn! Cái rét từ bên trong ra chứ có phải từ
ngoài đâu, đắp chăn thêm nữa chẳng tác dụng gì.
Có ai đó ôm chặt Huy. Cả cơ thể
nó đè lên người Huy. Hơi ấm từ nó tỏa sang. Thấy đỡ run hơn.
Ai đó đang ôm Huy đứng dậy, lật
chăn ra. Sao thế? Ôm tôi đi! Trời tối rồi sao ấy. Tối thế! Huy cố mở mắt nhìn
nhưng trời tối sầm, chẳng nhìn ra ai.
- Anh Huy! Nằm sấp lại!
Thằng nào ấy ra lệnh. Y tá à?
Huy nằm sấp người xuống. Thằng ấy
tụt quần Huy xuống. Mẹ mày, làm gì tao đấy. Huy muốn vùng dậy, đưa tay kéo quần
lên nhưng không thể. Các cơ bị co cứng.
- Nằm im! Tiêm trật ra ngoài, sau
này vô sinh đừng đổ cho thằng em tay nghề non.
Y tá đo gang tay trên mông Huy.
Tiêm vào chỗ đánh dấu.
- Vô sinh thật hả? – Đứa nào nói.
- Ừ, tiêm quy nin lệch huyệt là
liệt dương. Đau đấy. Muốn con gái nó thích thì nằm yên.
*
* *
Báo động! Các B kiểm tra quân số!
Cấm trại! Trung đoàn sẽ xuống từng B kiểm tra. Lệnh từ đại đội liên tiếp dội
xuống.
Bỏ mẹ rồi! Huy lần mò ra cửa nhìn
vào đêm đen. Ngong ngóng. Ruột nóng như lửa. Chín giờ mà Cường vẫn chưa về, giấu
thế nào đây!
- Trung đội vén màn lên cho tôi
kiểm tra quân số! – Huy quay vào, lấy tư cách là trung đội phó ra lệnh.
Mới chín giờ nhưng ở nơi núi rừng
đêm đã sâu lắm. Cả trung đội đã hạ màn đi ngủ từ lâu. Với cánh lính thành phố,
cả ngày hôm nay đi rừng lấy nứa đủ oải lắm rồi. Có đứa đã ngáy phìn phịt như
trâu thở. Tiếng con nai tác ngay đầu nhà cũng không thúc những thằng lính nhổm
dậy. Lệnh vén màn kiểm tra quân số của Huy chưa được thực hiện triệt để. Hầu
hết các màn chưa được vén cao lên. Đèn đã tắt, tối như bị nhốt vào trong chiếc
thùng đậy kín nắp. Huy gọi Cư nằm màn bên cạnh:
- Cư! Dậy, thắp tao cái đèn!
Cư lồm cồm vén màn bò ra, làu
bàu:
- Bật lửa của em làm chi còn
xăng. Mắt mủi như anh thế chỉ huy chết lính à!
- Mày muốn cãi không! – Huy gắt.
- Dạ thui!
Đứa nằm màn bên cạnh trêu:
- Thui với chột cái gì. Lê đít
cẩn thận, tụt bố nó mất quần thì thui đấy.
Cư lần mò tìm bát đèn, mang xuống
bếp châm lửa.
- Có khi thằng này tụt mất quần
nên sợ không dám ra khỏi màn.
Huy thấy bực bội, quát:
- Thôi đi! Vén hết màn lên chưa,
tao thấy mấy thằng chưa vén lên.
Có đứa thì thào:
- Nhìn thấy gì đâu, bắt nọn đấy.
Một tay Huy lần theo mép sạp đến
từng màn, tay kia khua tìm chân kiểm tra quân.
- Thò chân ra sát mép giường tao
kiểm tra! – Huy ra lệnh.
- Có chân em! - Mỗi lần túm được
chân đứa nào đứa ấy hô.
- Màn thằng nào chưa vén lên đây?
Không đứa nào trả lời.
Huy kéo màn, khùa tay vào trong
màn tìm chân. Chăn đây. Nhưng chân thằng nằm màn này đâu? Huy nhoài người vào
sâu bên trong khùa vẫn không thấy đứa nào.
- Báo động! Toàn trung đội ra sân
tập hợp. – Huy hô.
- Màn thằng Tuấn “trắng” đấy. –
Đứa màn bên sợ, vội nói.
- Duỗi chân ra mày! – Huy quát.
Tuấn “trắng” lúc này mới lụng
bụng lên tiếng:
- Vác nứa cả ngày đau lưng em
ngồi dựa vào trong.
- Mẹ mày! Những lúc thế này đừng
có đùa. – Huy gầm ghè
Huy lần sờ kiểm tra xong toàn
trung đội thì Cư mới nhấp nhểnh mang đèn lên. Một tay bưng đèn, một tay giữ cạp
quần khiến bóng nó ngả nghiêng như bóng chiếc lá vẫy trong gió lạnh.
Cũng may tiểu đoàn không kiểm tra
tới trung đội của Huy, nếu không thì Cường khó tránh khỏi kỉ luật. Tiểu đoàn
trưởng mới về, nghe nói nóng tính, giỏi võ, rất nghiêm khắc trong việc rèn
quân. Hết lệnh báo động, Huy thở phào, nhẹ người. Chui vào màn ngủ tiếp. Không
hiểu sao tự dưng Huy lại nổi nóng với anh em.
- Dậy!
Bị giật chăn tụt khỏi người Huy
mới tỉnh giấc, ngái ngủ hỏi.
- Gì thế! Thằng Cư đấy à?
- Tôi đây. Cường đây.
- Cường hả! – Huy mắt nhắm mắt
mở, uể oải ngồi dậy: - Tôi cố thức ngóng ông về, thế mà chả biết ngủ lúc nào. Có
việc gì mà giọng có vẻ bí hiểm thế?
- Ngủ say thế. Tôi về lay người
mà ông cứ ngáy ầm ầm. – Cường nói.
- Có chuyện gì à? – Huy hỏi
Cường ghé sát vào tai Huy:
- Nọong ấy về xuôi học.
Chuyện nổi nóng tối qua biến đâu
mất, Huy thấy hào hứng, vén màn chui sang màn của Cường, thì thào vẻ bí mật:
- Muốn tâm sự chuyện chia tay tối
qua hả! Hấp dẫn đấy, đánh răng rửa mặt xong tôi với ông đi lên đồi cọ tâm sự,
thế mới bộc lộ hết phần gay cấn.
- Tôi xong rồi. – Cường nói.
- Ông không ngủ à. Sao thểu não
thế?
Cường không đáp lại, lặng lẽ gấp
chăn màn của mình rồi đứng nhìn dãy sạp chạy dài suốt gian nhà. Những tấm chăn
xếp vuông vức, ngay ngắn thành hàng thẳng tắp đúng quy định của quân đội.
- Chăn chiếu chúng nó cứ vo tròn,
vứt bừa bãi như hôm mới rút xuống trông có khi lại hay. - Cường lẩm bẩm trong
miệng.
Huy đi ra đến cửa, nghe nói vậy
dừng lại nhìn Cường, ánh mắt lạ lẫm, dò xét:
- Ông sao thế? Lúc nào ông cũng
bắt anh em phải giữ nghiêm kỉ luật, chỉnh đốn tác phong, chuyện tối qua về muộn
tôi có thể châm chước được. Mà hôm qua tiểu đoàn không kiểm tra B mình có lẽ vì
tin ông nghiêm chỉnh đấy nhá.
Cường không đáp lại, lặng lẽ đi
hướng lên đồi cọ, đầu chúi về phía trước để dấn từng bước chậm rãi, nặng nhọc.
Anh ta có điều gì trăn trở lắm.
Một con người nghiêm nghị sẽ
không biết thể hiện cảm xúc, chính vì thế mà ông với nọong Mây ngồi xa nhau
lắm, Huy vẫn trêu Cường như vậy. Nhưng bây giờ thì sai hoàn toàn. Anh ta trong
bộ dạng thế kia chắc phải đấu tranh tư tưởng ghê lắm.
Hoàng “dở” đang ngồi chắn mó nước
để ngoáy mũi bị Huy ẩy lui ra giành chỗ đánh răng. Hoàng tức tối, cằn nhằn câu
gì đó cũng không khiến Huy bận tâm. Đánh răng rửa mặt vội vàng, chạy nhanh vào lán
mặc khẩn trương quần áo rồi Huy đuổi theo Cường.
Cường đứng trước những ngôi mộ
của đồng đội, môi mím chặt, ánh mắt rưng rưng. Huy đi chậm lại, đến bên Cường
hỏi nhỏ.
- Có chuyện gì hệ trọng à?
Cường mím chặt môi kìm cơn xúc
động.
Những ngôi mộ không được xếp
thẳng hàng như những người đắp lên mong muốn bởi phải tránh cây, tránh đá và do
họ đã quá mệt mỏi với công việc không đủ sức căn ke cho thẳng hàng thẳng lối.
Như vậy lại hay, Huy nghĩ. Mỗi ngôi mộ là số phận của một con người. Có ai
giống ai ở đời thực đâu. Những ngôi mộ ẩn hiện trên triền đồi nhìn như chúng
đang bay đang chạy. Giống như những con người của đời thực, có ai đi trên đường
đều ở tư thế giống nhau đâu.
Huy hỏi lại:
- Có chuyện gì à?
Cường hít thở một hơi dài để
thoát khỏi cơn xúc động, nói giọng nản:
- Biết nói với ông thế nào đây!
- Tôi với ông có gì mà phải kín
kín hở hở. Tôi hỏi thật, có phải noọng ấy được đi học thế là “đá” ông chứ gì? –
Huy nói.
- Không phải thế! – Cường gắt: -
Không phải thế!
Huy gắt lại:
- Thế chuyện gì?
Cường nhìn xa xăm, nói bâng quơ:
- Những thằng chết kia, xuống
dưới ấy có cưới vợ không nhỉ!
Huy nhìn bộ mặt thểu não của
Cường, hỏi giật:
- Này!? ...
Cường nói tiếp:
- Làm dân thường với làm người
lính khác nhau nhiều quá, ông nhỉ?
- Này?! – Huy không biết nên nói
gì, lại bật ra câu ấy.
Cường nói tiếp:
- Đêm qua, tôi cứ nhìn mãi suốt
dọc dãy sạp của B. Đời lính mình cứ phải gò ép vào khuôn khổ. Đến lúc ngủ là
lúc ý thức bị mất đi, chỉ còn lại bản năng, vậy mà người lính đã phải rèn khổ
cực để mình luôn được đóng khuôn chằn chặn như những chiếc chăn gấp vuông bánh
chưng đặt ngay ngắn giữa đầu giường.
Huy nghĩ, mình đã đoán được tâm
trạng của Cường, nói cắt lời:
- Ông thất tình thật đấy à?
Giọng Cường chùng xuống, buồn:
- Không, không phải thất tình mà
tôi lại đang say tình ông ạ. Thật đấy. Lần đầu tiên tôi được hôn người con gái.
- Thật à? Số tôi không sát gái.
Hai ba tuổi, sang tuổi hai tư chứ nhỉ, là dân thành phố, bạn gái quý mến nhiều,
cũng tán tỉnh vài em nhưng nói thật, chưa một lần nắm cổ tay ai. Giờ nhỡ có hy sinh,
dưới mồ chắc chỉ biết trách ông giời.
Tâm trạng Huy lây cái buồn của
Cường.
- Sao ông không nghỉ phép, cưới
noọng ấy đi?
- Noọng ấy cũng giục. Để tết này
tôi về báo cáo với bố mẹ đã.
- Nhất ông rồi còn gì. Sao phải
buồn. – Niềm vui đã trở lại với Huy.
Cường lại đổi hướng câu chuyện,
hỏi:
- Tôi hỏi thật, tại sao ông không
đảo ngũ? Hỏi nghiêm túc đấy.
Huy gãi đầu, tìm câu trả lời. Rồi
Huy buông lửng:
- Giời biết!
- Tôi tính đảo ngũ, ông ạ! –
Cường nói nhanh.
Câu hỏi này quen rồi, không khiến
Huy giật mình.
- Ông không ngạc nhiên à? - Cường
ngạc nhiên về thái độ bình tĩnh của Huy.
- Không. Quen rồi. Thằng lính đảo
ngũ là chuyện thường. Ông không nhớ, mấy tháng trước có cả trung đoàn trưởng
đảo ngũ à. Hình như người Sơn La thì phải. Ở mặt trận này những chuyện vậy
chẳng khiến thằng lính giật mình.
- Chính vậy tôi mới rủ ông ra
đây. Vong của những người nằm kia có nghe được tôi với ông nói chuyện không nhỉ.
Ông biết lí do trung đoàn trưởng ấy đảo ngũ không?
- Người thì nói, ông ấy nhìn thấy
bộ đội hy sinh nhiều quá. Người thì nói, trước khi sang đây, tỉnh đội có hứa
sửa chữa lại ngôi nhà ọp ẹp cho vợ con ông ấy nhưng khi về phép thấy nhà còn
nát hơn. Nhà ông ấy toàn con gái, làm gì có đàn ông tu sửa. Ông ấy đảo ngũ
luôn.
- Quân khu xử rồi. Hạ chức từ
thiếu tá xuống thượng úy, về phòng quân khí quân khu ngồi chơi xơi nước. Như
thế tính mạng mình còn, vợ con được nhờ. Tôi trung úy mới ra trường, còn trẻ,
về nhà chăn gà, chẳng ai động tới. Thế là tôi với cô ấy cưới nhau, rồi sống
bình yên. Tôi tính thế có được không?
- Ông hỏi những thằng nằm kia
kìa! Tôi chẳng hiểu ông nghĩ gì.
Sao quên nhanh thế. Mấy hôm
trước, Cường còn lên lớp với chiến sĩ về lí thuyết mù mờ của danh dự, giờ thì
lí giải với Huy về giá trị của nó. Danh dự có điều kiện, có thể cân đong đo đếm
được đấy chứ. Cường hỏi, vong của những đồng đội kia có nghe được câu chuyện
hai người nói với nhau không nhỉ? Giời biết, Huy nghĩ. Câu hỏi và câu trả lời
mơ hồ, lảng tránh. Chỉ có tự mình hỏi mình và mình trả lời mình biết mà thôi.
Giá trị của danh dự cũng chỉ mình định giá được mà thôi.
Cường ngồi xuống, tựa lưng vào
gốc cọ, nét mặt giãn ra, thảnh thơi. Cường nói:
- Ông về đi. Tôi ngồi lại đây một
lúc.
Huy nói:
- Ông xả được lòng ruột, bây giờ
nhẹ người rồi muốn đuổi tôi đi hả. Mà này, tôi có cảm giác như có bóng người
thấp thoáng phía đằng kia kìa.
- Làm gì có ai. – Cường nhìn ra
xa, nói.
- Không khéo ma.
- Đừng dọa tôi. Hôm ấy xác của
anh em chưa mang xuống kịp, tôi phải nằm cạnh mấy ngày vẫn ngủ ngon. Có gì phải
sợ nào.
*
* *
Huy nhận được thư của mẹ.
“Huy
con!
Hôm
thầy con về, sao con không viết cho mẹ vài dòng kể về cuộc sống trên ấy cho mẹ
an lòng. Thầy con nói, các con đang được nghỉ ngơi. Nhưng có lẽ, để có được
những dòng tâm sự chắc tâm trạng các con không viết nổi. Biết thằng Hoàng còn
sống nhưng thầy cô con vẫn buồn lắm. Chẳng hiểu sao cấp trên lại cho bộ đội
đóng quân ngay cạnh nơi chôn cất liệt sĩ thế. Thầy con kể, đêm ấy không ngủ
được, thầy con đếm được hai mấy lần hạ huyệt. Ác liệt thế à con? Rồi còn dọc
sông Lô từ trên Hà Giang xuống nữa, cũng trắng mộ liệt sĩ phải không con?
Anh
Hòa áy náy việc không đưa được con về Kiến An. Nhưng chỉ dám nói với bố mẹ, chứ
có mặt bác Hợp đố có mở mồm. Bác ấy “bôn” lắm. Cũng chả trách bác ấy được. Bác
ấy đi bộ đội từ năm mười bẩy tuổi, tự mình phấn đấu có được như ngày nay. Anh
Hòa hồi 79 cũng đánh nhau chán ở Lạng Sơn, ở đơn vị trực tiếp chiến đấu chứ có
được về sở chỉ huy sư đoàn đâu.
Công
việc ở nhà vẫn vậy con ạ. Hai bên hàng xóm xây cao lên, chả biết mùa hè tới nhà
mình có mát hơn nhưng chắc sẽ bị dột. Nhà tập thể, xà nhà chung phải cắt ra,
tường cũng là tường chung, xây đè nối tiếp lên chứ các bác ấy có làm móng mới,
tường mới đâu. Ngói nhà mình vỡ nhiều lắm, các bác ấy đắp xi măng vào nhưng đã
chắc gì đảm bảo.
…………”
Thư của mẹ còn dài, Huy đọc đi
đọc lại nhiều lần nhưng lần nào cũng chỉ đọc đến đấy là phải dừng lại. Nước mắt
Huy trào ra, tủi tủi, không đọc được nữa. Trống vắng, đó là tâm trạng của Huy.
Gia đình trống vắng vì thiếu Huy khiến cho ngôi nhà càng xuống cấp hơn mà không
được sửa chữa. Huy thấy trống vắng vì bất lực, không thể làm được việc gì cho
gia đình. Cấp trung đoàn trưởng mà dám đảo ngũ, hẳn ông ấy phải thấy trống vắng
và cô đơn kinh khủng lắm, hơn cả Huy lúc này. Không bắt tội ông ấy được. Huy
gấp lá thư bỏ vào túi, cài nắp cẩn thận. Các bức thư luôn được Huy cất giữ trân
trọng.
Chân Hoàng duỗi ra thúc vào mông
khiến Huy khó chịu đẩy ra, cằn nhằn:
- Co cái chân vào, tao ngồi nhờ
tí nữa!
Hoàng chui ra khỏi chăn, ngóc đầu
dậy nhìn Huy. Đôi mắt nó chỉ thấy tròng trắng như hai mảnh vỏ hến úp vào. Mọi
người nhìn vào mắt nó bảo không có hồn, như mắt người chết. Sợ. Huy thấy cáu về
những lời nhận xét ấy, muốn quát to lên. Rằng, chúng mày hôm ấy có nhìn thấy nó
xung phong không, có nhìn thấy mắt nó như mắt diều hâu quan sát trận địa không,
có nhìn thấy mắt nó thất vọng khi hết đạn không bắn yểm trợ cho anh Thanh được
không. Thôi kệ. Thằng Hoàng nó cũng chẳng cần biết ai nói gì.
Huy định đi cho nhẹ lòng nhưng thấy
cần phải hỏi nó vài câu. Huy tốc chăn của nó ra.
- Dậy! – Huy giục: Dậy tao bảo
này. Mày ngủ nhiều thế. Ra đây gác chứ ra đây ngủ à. Cả đêm ngủ trong nhà chưa
chán, ra đây lại ngủ được.
Cả tiểu đoàn này chỉ có Huy ra
lệnh là nó phải nghe. Hoàng ngồi dậy, ấm ức:
- Mưa rét thế này không ngủ thì
làm gì.
Ngoài đồi cọ mờ mịt sương. Những
cây cọ như đổ nghiêng đổ ngả trong sương mù. Đất lầy lên, đỏ quạch. Những giọt
nước trên mái chòi gác nhỏ xuống đất tí tách. Những giọt nước nhỏ vào bàn tay
lạnh buốt.
- Tao hỏi này. - Huy nói.
- Chúng nó đi Hà Giang hết rồi,
anh đi đi cho tôi duỗi chân nhờ tí. – Hoàng lau nước bọt rớt ra bên mép, nói.
- Một mét vuông tường xây hết bao
nhiêu gạch? – Huy hỏi.
Hoàng “dở” ngạc nhiên, nuốt nghẹn
nước bọt, nói:
- Dở người à! Hỏi cái ấy làm gì?
- Tao hỏi thì mày trả lời. Mày
bảo ai dở người. – Huy bực tức, sừng sộ với Hoàng “dở”.
Mỗi khi Huy Bực tức là Hoàng lại
nhũn người.
- Em thấy lạ thì nói vậy. Anh
mang tiếng học đại học mà không tính được à. Mỗi viên gạch cao năm phân, dài
hai mươi, thêm mạch vữa nữa thì ra chứ sao.
Nó nói đúng, phép tính đơn giản
thế mà không nghĩ ra. Chiều dài nhà là mười hai mét, rộng ba mét hai, trừ các
cửa nữa, Huy nhẩm tính.
- Này, thế nhà xây cao bao nhiêu
mét hả mày? – Huy đột ngột hỏi.
Hoàng vừa chui đầu vào chăn lại
phải chui ra, nhăn nhó.
- Mái bằng hay mái ngói. Mái bằng
thì ba mét rưỡi là vừa, còn mãi ngói thì thêm phần thu hồi nữa. Hỏi làm gì? Mai
lên chốt xây nhà cho tầu khựa ở à. Dở!
- Còn lương tháng nữa. Bây giờ
lương tháng ở xí nghiệp mình bao nhiêu nhỉ? – Huy lẩm bẩm.
Hoàng “dở” lại chui đầu ra khỏi
chăn, nhăn nhó:
- Còn hỏi gì nữa!?
Huy đứng dậy, nói:
- Tao đi đây, không nói chuyện
với mày. Dở!
- Ai dở! Bực mình! Việc của ông
cùng B đi lấy lá dong về cho đại đội gói bánh chưng chứ việc ngồi đây à. –
Hoàng “dở” vừa lụng bụng vừa kéo chăn chùm kín đầu. – Còn gần tháng nữa mới tết
đã gói bánh chưng, tết nhịn à.
Huy chợt nhớ ra công việc của B
được giao, thốt lên:
- Chết cha, quên mất, không biết
chúng nó đi chưa!
Huy đi vội về doanh trại. Nhưng
linh cảm có gì đó bất ổn khiến Huy quay lại, bần thần hỏi Hoàng:
- Này, dậy! Mày ra ngoài kia xem
có gì! Hình như tao thấy có người.
Hoàng nhỏm dậy, vạch liếp nhìn về
phía nghĩa trang. Hoàng chẹp miệng, nói:
- Nãy có mấy đứa đắp mộ. Về lâu
rồi. Mưa thế này chỉ có ma mới ra đấy.
Huy nhìn quanh, chờn chợn:
- Có lẽ ma thật. Rõ ràng có người
nhưng cứ đến lúc tao tập trung nhìn về phía ấy thì tự dưng hình ảnh lại biến
đâu mất.
Hoàng kéo chăn đắp lên người,
nói:
- Đừng dọa ma thằng này. Nếu nghi
ngờ sao anh không ra tận nơi, lại sai thằng này. Sợ à! Dở!
Nói chuyện với thằng khùng này dở
lắm. Nó chê mình sợ để kích. Thằng dở người dạo này cũng học được cái kiểu kê
kích người khác. Kệ. Mình đâu có sợ. Nhưng sao Huy không dám quyết đi xuống tận
nơi ấy xem sao nhỉ? Chỉ là linh cảm thôi, làm gì đã nhìn thấy thật. Huy biện
minh. Hay tại mắt mình bị suy giảm thị lực. Các cụ nói, nhìn thấy ruồi bay
ngang qua là mắt có vấn đề. Chắc vậy. Nói ra điều này với Hoàng “dở” thế nào nó
cũng bảo mình vừa dở vừa mù. Từ mù dở được gọi tên từ hiện tượng này. Huy quay
trở về doanh trại.
Nhìn thấy Phượng đeo băng đỏ,
trực ban đại đội, Huy gọi lại hỏi:
- Mày có thấy chúng nó đi lấy lá
dong không?
- Lúc sớm em thấy anh đi theo
chúng nó cơ mà. – Phượng nói.
- Ừ nhỉ. Tại lúc ấy tao lấy thư
ra đọc, quên mất. Thế chúng nó đi về phía nào? – Huy hỏi.
- Chúng nó xuống gần cây số mười
năm, chỗ bờ suối hôm nọ hái rau dớn ấy.
- Tao biết rồi. Giờ này chắc
chúng nó chưa đến nơi. Tao đi đây!
Ra tới quốc lộ hai, Huy chạy. Lúc
mệt thì đi. Cố sải bước chân thật dài, cố guồng bước thật nhanh làm sao đi càng
nhanh càng tốt. Huy gắng sức. Đi như ma đuổi. Có ai đó đi ngang qua nói thế.
Người ướt đầm, không biết do nước mưa hay mồ hôi. Nóng, Huy cởi áo trấn thủ cầm
tay. Tai nghe thấy tiếng ù ù. Không biết ù vì mệt hay vì tiếng nước sông Lô
chảy cuộn vào khe đá. Đi được bao lâu Huy không biết nhưng cảm thấy hai cẳng
chân bện níu vào nhau không bước nổi.
Huy ngồi vật xuống gốc cây gạo
bên đường, ngửa cổ cố hít sâu thở dài lấy lại cân bằng. Phía trên đầu Huy là
đường thẳng tắp, cao tít như chiếc cầu nối đất với trời. Cây gạo sau lưng Huy cao
như thể chọc vào mây mù để cho nước trên trời rơi xuống mặt. Mắt Huy nhìn chỉ
thấy mờ mờ, ảo ảo. Bóng cây nhòe nhoẹt. Ảo giác. Liệu Huy cứ nhìn thấy bóng
người trong nghĩa trang có phải bị tình trạng ảo giác như thế này không nhỉ?
Không thể. Những lúc ấy Huy nhìn thẳng ở tư thế bình thường cơ mà. Những hạt
mưa mù bám dính vào mặt tê tê lạnh. Huy vuột những hạt mưa trên mặt. Phía trước
Huy, dọc bờ sông Lô là hàng cây gạo già nua, trụi trơ lá, thân hình đen kịt,
đứng ngông nghênh thách thức dòng nước tím lịm phù sa, cuồn cuộn chảy phía dưới
chân. Những cây gạo ngang tàng.
Tại Huy tưởng tượng, cố tình suy
diễn nên nghĩ ra những hình ảnh vậy.
Nếu không có Huy chỉ huy thì anh
em vẫn hoàn thành nhiệm vụ, lá dong sẽ chất đống ở sân trước giờ cơm trưa. Huy
chạy đuổi theo anh em làm gì? Chịu. Hay Huy mắc chứng ảo giác, đã tưởng tượng
ra một tình huống gì nguy kịch gì đó sẽ xảy ra. Có lẽ chăng. Vậy cứ đi thử tới
chỗ lấy lá dong xem sao.
Huy rẽ xuống con dốc nhỏ cạnh
quốc lộ, lội ào qua suối. Sang bờ bên kia, Huy cởi giầy dốc nước. Bàn chân lạnh
cước. Chỗ bờ suối này, tháng trước, Huy thấy một bạt cây có lá giống lá dương
xỉ, phần thân vươn lên, lá non trên ngọn cuộn cong cong như dấu hỏi, chưa kịp
hỏi cây gì thì Phượng chạy tới, hào hứng hái lấy hái để. Huy bảo, dương xỉ mày
hái làm gì? Phượng cắm cúi hái, nói, rau dớn đấy, ăn ngon lắm. Huy ngạc nhiên,
rau dớn á?! Tao tưởng chỉ có ở Tây Nguyên? Rừng núi, chỗ nào đất ẩm là có rau
dớn, quê em Thanh Hóa cũng nhiều lắm. Huy nói, tao có xem cuốn sách viết về
tượng gỗ Tây Nguyên, người ta hay đẽo tượng rau dớn đặt trên nóc nhà ở hay dựng
đầu sàn, kể cả nhà mồ như là một biểu tượng. Thế ăn được à?
Rau dớn xào với mỡ hóa học, nêm
bằng mắm kem. Trung đội tranh nhau gắp. Một xoong to chỉ chốc lát đã sạch bách.
Chẳng phải giữ ý là anh cả trong trung đội, Huy nhào qua đầu chúng nó gắp một
bối to. Bùi, nhai sần sật như ngọn bí. Đặc sản của núi rừng quả là ngon, cũng
xứng danh là biểu tượng.
Chẳng lẽ Huy muốn tự tay hái
những ngọn rau dớn? Không. Lính mình ngày nào đi lấy nứa chẳng qua đây, đến cái
lá già cũng bị xéo nát thì làm gì còn rau dớn.
Liệu anh em có đi vào khu rừng nứa
kia không nhỉ? Huy đã nhiều lần lấy nứa về củng cố doanh trại, có thấy lá dong
đâu. Chúng nó không đi về phía rừng nứa, Huy chắc chắn vậy. Huy rẽ theo một lối
mòn, ngược lại dòng chảy của con suối. Đường này Huy chưa vào nhưng nghe bố Mây
nói có nhiều lá dong rừng. Mưa tạnh. Những ngọn núi vừa được dội nước, xanh
mướt. Tầng không trong vắt. Sương mù lắng xuống, xõa trắng như tấm khăn phủ kín
mặt suối. Tiếng suối chẩy nhí nhách, nghe như từ lòng đất trồi lên. Phía trước
có bông hoa đỏ rực trôi bồng bềnh trong
sương mù, Huy lội chân trong sương mù với theo. Nhưng bông hoa cứ nhấp nhểnh
trôi như thể trêu tức Huy. Sương mù quẩn lấy chân khiến Huy không thể đi nhanh
được. Bông hoa bỗng biến mất như thể ngụp nhanh xuống dòng sông trắng đục sau
khi Huy giữ thằng bằng khi dẫm vào hòn đá trơn.
Sương mù tan dần. Những chiếc lá
rũ nốt giọt sương cuối cùng, đứng vươn dậy. Những chiếc lá to như tầu chuối
nõn, ngửa mặt nhìn Huy. Lá dong! Huy đang đứng giữa vô vàn lá dong. Những tầu
lá dong xanh sẫm chen nhau vươn lên. Cả một vạt rừng lá dong chạy dài như xuyên
vào lòng ngọn núi tít xa. Thơm mùi lá dong, thơm mùi tết, ở nhà mẹ vẫn nói câu
này vào mỗi dịp nhà gói bánh chưng.
Huy ngồi xuống một tảng đá. Nước
mắt Huy tự dưng trào ra. Huy nhớ nhà. Bàn tay vô thức cứ giơ lên đặt xuống như
đang xếp đặt. Huy cố kìm tay lại thì cái vô thức ấy dồn vào trong mạch máu.
Mạch máu căng lên khiến người Huy nôn nao. Huy biết cái vô thức đang diễn ra
với mình là gì. Huy đang tự xếp nhưng viên gạch thành bờ tường nhà. Cái vô thức
sinh ra từ việc Huy khát khao được xây nhà sau khi đọc thư mẹ. Lúc nãy nghe
Hoàng “dở” nói tới lá dong Huy thấy xốn xang, muốn nhìn thấy màu xanh của nó,
muốn được vuốt lên bề mặt nhẵn láng của nó, muốn được hít hà cái hương vị tết.
Rồi cả hơi ấm cùng mùi khói của bếp củi luộc bánh nữa cũng phảng phất trong
tiềm thức. Huy nhớ đến quay cuồng. Huy đang nhìn thấy nhà mình hiện lên trên
những tầu lá dong. Tại sao Huy phải đi nhanh đã có lời giải.
- Về thôi B phó! - Tiếng ai đó
trong nhóm người đang vác những bó lá dong đi ngang qua giục.
*
* *
- Ăn đi! Ăn nhanh lên, xe sắp đến
rồi! – Cường nhăn nhó nhìn Hoàng “dở”, giục.
Hoàng “dở” cầm đôi đũa chọc miếng
bánh chưng giơ lên rồi đặt xuống, không khác đứa trẻ dỗi hờn khi bị ép phải ăn:
- Đã bảo không ăn. Đến làng Pinh
ăn là vừa.
Huy ngồi dậy, hơi nóng của chiếc
bánh chưng bọc giấy báo, buộc kĩ trong túi cóc ba lô phả ra còn nong nóng trên
má. Huy nói như dỗ:
- Ăn đi! Vừa khỏi sốt rét, ăn vào
cho lại sức. Biết mấy giờ đến làng Pinh. Bánh còn hai cái trong ba lô tao đây.
Mùi bánh chưng thơm sực nức. Bụng
đói, thèm ăn, Huy cố nuốt nước bọt nhẹ nhàng không để cho ai thấy. Cả B bóc một
cái bánh nhưng không đứa nào ăn. Mỗi đứa một tư thế, không ra nằm mà cũng không
ra ngồi. Mỗi đứa một góc giường. Đứa nào mặt cũng như đeo đá. Ủ rũ. Lần này
hành quân lên, với những thằng biết thế nào là chết chóc, hy sinh rồi thì đành
nhẽ cũng thấy lo lắng. Còn lính mới chưa nếm “mùi đời” mặt cũng nhão ra là sao.
Không như lần lên trước, toàn lính chưa nghe tiếng pháo rít, chưa biết thế nào
là chiến tranh nên nét mặt đứa nào cũng vô tư.
Nhiều lúc trống ngực Huy cũng rộn
rịp đập vì lo lắng khi bất chợt những hình ảnh chết chóc của trận đánh trước
hiện về. Mùi khét của thuốc súng, mùi tử khí phảng phất trở lại trong tâm trí. Run.
Run chứ không phải sợ, Huy tự nhủ lòng mình. Nếu sợ Huy đã bùng theo mấy đứa.
Hôm lấy lá dong, mấy đứa tranh
thủ rẽ vào nương sắn nhổ trộm được đầy một bao tải. Khênh nặng oằn lưng. Về
ngang qua nhà tiểu đoàn, tiểu đoàn trưởng đứng cửa hỏi: Khênh gì nặng thế?
Chúng nó trả lời tỉnh bơ: Bọn em mua xu hào ở Hà Giang. Cả tuần nay chưa được
ăn rau, háo quá thủ trưởng ạ. Tiểu đoàn trưởng khen: Tự cải thiện tốt đấy. Sao
quần áo lấm lem thế? Dạ, đường trơn quá. Đêm xuống, mấy thằng ấy bùng cùng ba
lô sắn luộc mang theo ăn đường. Bùng thôi anh, chúng nó gạ Huy, trận trước anh
gặp may, đời người được mấy lần may mắn thế đâu.
Đạn tránh người chứ người tránh
sao được đạn. Câu kinh nghiệm này của người lính nên đưa vào từ điển những câu
thành ngữ.
Không biết chúng nó có thấy cái
buồn thỉnh thoảng bay qua như con muỗi vo vo bên tai. Nó đến lúc nào không biết
và cũng không thể xua đi được. Khó chịu. Huy biết mình buồn vì sao. Tại nồi
bánh chưng chưa luộc xong, B trưởng Cường họp giao ban về thông báo, chuẩn bị
hành quân lên thay chốt. Tết xa nhà, có nồi bánh chưng để tạo nên không khí gia
đình vậy mà chưa kịp hít hà cái vị ấm cúng ấy đã bị tuột mất. Ai mà không thấy
hụt hẫng. Buồn. Chúng nó buồn vì mất tết hơn là lệnh hành quân.
Năm
trước con hẹn đầu xuân sẽ về/ Nay én bay đầy trước ngõ/Mà tin con vẫn xa ngàn
xa/
Góc nhà, một giọng hát khàn khàn
cất lên. Thằng Tuấn “trắng” hát phải không? Mọi cái đầu nhúc nhắc quay về phía
tiếng hát đều muốn hỏi câu đó. Tuấn “trắng” đã bắt nhịp hộ mọi người những câu
hát mọi người đang mong chờ ấy.
Tiếng khàn của Tuấn “trắng” chưa
hết độ rung thì tiếng the thé của Quang “sọ” nấc lên:
Ôi
nhớ xuân nào thuở trời yên vui/ Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi.
Quang “sọ” nấc câu ấy xong, dừng
lời chờ thằng khác nối nhịp.
Phượng A trưởng ngồi phắt dậy, cáu
kỉnh:
- Mai tha hồ mà nghe pháo giao thừa.
Nghe chưa xong một loạt, mấy thằng mày không vãi cứt vãi đái tao đi đầu xuống đất.
Không đứa nào hưởng ứng câu nói đùa
của Phượng. Gian nhà lặng thinh. Tiếng giọt gianh tí tách.
Tiếng giọt gianh tí tách hay thằng
nào khóc đấy?
Ngoài trời mù mịt sương giăng. Trong
nhà tiếng “giọt gianh” râm ran. Đứa nào cũng úp mặt xuống ba lô.
Huy trông nồi bánh chưng luộc ở
trái nhà gọi lên:
- Chúng mày cứ nằm đấy mà ỉ ê, không
ra vớt bánh à!
Không đứa nào đáp lại Huy. Tiếng
“giọt gianh” tí tách vương khắp nhà. Mắt Huy cay cay. Tại khói bếp, Huy dụi
mắt. Nếu Huy vào nhà lúc này không nằm co như con tôm thì cũng úp mặt xuống ba
lô như chúng nó. Mình Huy vớt bánh. Huy bóc bánh. Mùi bánh chưng thơm sực, ấm áp.
Mang cho Hoàng “dở”. Mấy hôm rồi bị sốt rét nó không ăn được, cơm cháo xều vài
thìa rồi bỏ. Hai hốc mắt nó lõm sâu, đong đầy bát nước.
- Dậy ăn bánh chúng mày!
Không đứa nào nhúc nhích. Huy cố nói
đùa:
- Dửng dưng như con nhà giầu no ăn
nhỉ.
Không thằng nào nhúc nhích bắt lời
là thế nào. Huy đập vào chân Hoàng, gọi:
- Dậy! Dậy ăn rồi còn chuẩn bị đi!
Hoàng “dở” hậm hực ngồi dậy, chọc
đôi đũa vào chiếc bánh nhưng không đưa lên miệng ăn.
Chưa vào đến cửa B trưởng Cường
đã hô:
- Trung đội ra xe!
Những người lính uể oải đứng lên
cuốn chiếu nhét vào ba lô. Những chiếc ba lô xốc lên vai nhẹ tom.
- Lần này lên không mang theo đạn
gì hả anh? – Cư kéo áo Huy thì thào hỏi.
Huy gắt:
- Nói to lên! Thì thào cứ như lúc
ém quân đánh tấn công.
- Mình lên đánh tấn công hả anh?
– Cư gặng hỏi.
Huy trả lời:
- Lên làm hào thôi.
Cư quàng cái ba lô nhẹ thếch lên
vai, lầm lũi đi ra.
Huy dừng lại nhìn gian nhà. Dãy sạp
được lột hết chiếu, trơ những thanh nứa của những thằng
lính biết mình sống tạm nên làm cẩu thả, xộc xệch chẳng khác gì bó đóm. Cô đơn
giữa xạp là đĩa bánh chưng còn thoảng nhẹ lằn khói nóng. Huy quay lại, cắm đôi
đũa vào giữa chiếc bánh, khấn thầm. Tôi để lại thắp hương cho anh em nằm ngoài
đồi cọ. Anh em ở lại ăn tết vui vẻ.
Xe chuyển bánh, lắc lư như bị
sóng nhồi. Đã lâu Huy không còn cảm giác nhớ sóng.
Sương tan dần.
Sao lại đi vào lúc trời mới sáng?
Sương mù hôm nay lại mỏng? Mắt thường còn nhìn rõ đỉnh hai nghìn thì đài quan
sát của nó sao không nhìn thấy mình. Huy lo lắng, mắt chăm chú nhìn dãy núi
phía trước, tai lắng nghe tiếng động trên không. Nếu có tiếng động bất thường
nghi là tiếng rít của đạn pháo thì sẽ xử trí ra sao nhỉ? Xe đang chạy nhanh
giữa đường trống trải thì biết nấp vào đâu. Không biết cấp trên tính toán thế
nào mà hành quân vào giờ này?
Những thằng lính mới vô tư quan
sát cảnh vật hai bên đường. Chúng mày nghĩ đang đi du lịch. Hình như có cả ánh
mắt chúng nó chăm chú nhìn vào những hố, những vũng nước, những bụi cây bên
đường. Chúng tìm sự hiện diện của chiến tranh. Tiếng pháo ì ùng dội từ trên
đường biên về không làm những thằng lính ra trận lần đầu bận tâm. Lần trước
hành quân lên vào ban đêm có lẽ cảm giác thấy bất an hơn đi ban ngày thì phải.
Pháo bắn như rải thảm, thế mà con
đường không thấy có hố đạn nào. Những ổ voi ổ gà chỉ là do xe chạy nhiều, lâu
ngày không được tu sửa. Bên bờ sông Lô những bụi vầu vẫn xanh um, chen chúc
nhau vươn lên. Huy chăm chú quan sát dọc đường, thấy yên tâm hơn cho chuyến
hành quân ban ngày.
Làng Pinh! Những thằng lính cũ
nhổm dậy, reo lên. Lần trước lên xuống đều vào ban đêm, có nhìn thấy làng Pinh
thế nào đâu nhưng những người lính vẫn nhận ra. Họ nhận ra bằng linh cảm.
Làng Pinh! Những thằng lính mới
cũng reo lên, khoác súng lên vai chuẩn bị nhẩy xuống. Những thằng lính mới nhận
ra làng Pinh qua lời kể của lính cũ.
Làng Pinh là tổng kho, là trung
tâm điều phối người lính cho mặt trận phía tây sông Lô.
Đoàn xe dừng ở bãi đất bằng
phẳng. Huy không nghĩ khu làng Pinh lại rộng đến mức này. Không chỉ có tiểu
đoàn Huy mà còn có đơn vị khác cũng lên thay quân. Bãi đất rộng mênh mông mà
người qua người lại chen chân cứ như đi xem một trận bóng đá. Huy thấy phấn
chấn. Đường ra trận cũng khí thế đấy chứ, khác gì với những câu chuyện thời
chống Mĩ. Con suối lần trước nghe thấy tiếng nước chẩy tưởng gần hóa ra cũng
xa, chừng hai trăm mét. Một bên là vách đá dựng đứng, pháo có bắn chỉ vượt qua bên
kia suối, bên này lính ta vô tư đi lại.
Kho đạn, kho lương thực, trạm
quân y, một dãy dài tựa lưng vào vách đá. Trời ban cho mặt trận một địa thế lý
tưởng làm tổng kho hậu cần, là “thủ đô” của mặt trận. Huy tần ngần quan sát
toàn bộ làng Pinh.
Chiếc xe cứu thương chạy ngang
qua. Một khuôn mặt nằm trên băng ca, áp sát vào mặt kính mờ mờ. Người lính bị
thương giơ tay vẫy. Anh ta nhìn vào mình, vẫy mình thì phải? Trông nét mặt quen
lắm. Ai vậy? Huy định đuổi theo nhưng xe đã ra tới chỗ vắng phóng nhanh. Không
kịp. Huy bần thần, trách mình sao không chạy ngay lại. Biết đâu lại là người
thân. Thằng cháu họ ở quê cũng đang trên mặt trận này. Liệu có thật là nó? Tay
nó vẫy rối rít muốn giục mình chạy nhanh lại, vậy mà Huy chần chừ.
- Đi thôi quê! – Cường đi ngang
qua giục.
Đi! Huy chùng chình, cố nhìn theo
chiếc xe cứu thương cho tới khi nó vòng vào khúc cua.
Đội hình của đại đội đã đi gần hết
lên một con dốc nhỏ. Huy chạy đuổi theo.
Tiếng Hoàng “dở” gọi:
- Chờ em với!
Huy dừng lại, quát:
- Sao mày còn đứng lại làm gì?
Hoàng “dở” quát lại:
- Thì anh đã đi đâu!
- Sao mày cứ phải chờ tao!
Nói nặng với Hoàng “dở” câu ấy,
Huy thấy ân hận. Nó không phải thằng khôn ngoan như người khác nên mới cần có
mình. Nếu như nó phải nằm trên xe cứu thương như người lính vừa rồi liệu Huy sẽ
nghĩ sao đây? Phía sau lưng người lính ấy là khoảng tối om. Cái vẫy tay của
người lính ấy như cầu cứu mình kéo anh ta về với khoảng sáng của cuộc đời. Vậy
mà mình bất lực. Nếu thằng Hoàng hy sinh? Huy chưa bao giờ mảy may nghĩ tới
tình huống này. Thôi đừng nghĩ tới việc này nữa. Huy giục:
- Chạy thôi mày!
Huy và Hoàng “dở” chạy theo đơn
vị. Ba lô nhẹ tênh. Chỉ có bộ quần áo, chăn màn, mảnh áo mưa. Có chút nặng là
do có hai cái bánh chưng. Khăn mặt, bàn chải đánh răng cũng để lại cứ.
Mưa bắt đầu nặng hạt. Lần trước
hành quân vào cũng phải trời mưa. Nhưng là mùa hè. Bây giờ đang cuối đông. Huy
lấy mảnh vải mưa chùm lên người. Nước mưa tạt vào mặt lạnh buốt như kim châm.
Hoàng “dở” không khoác áo mưa. Huy hỏi:
- Áo mưa đâu?
- Bán rồi. – Hoàng trả lời tỉnh
bơ.
Huy gắt:
- Mày bán lúc nào?
- Nhờ thằng Tuấn “trắng” bán hộ.
Tuần trước.
- Thằng dở! Mày bán làm gì?
- Bán, mua thuốc lào.
Tuấn “trắng” đi trước, dừng lại
nói:
- Thằng dở dạo này hút thuốc lào
như trĩ, lúc nào cũng thấy úp cái điếu ục lên mặt.
- Lạnh bỏ mẹ, không hút chịu sao
được. – Hoàng nói.
- Tháng nữa là tết, không để lính
tráng ăn xong cái tết, lên có chết cũng đỡ ân hận.
- Chưa lên đến nơi mày đã bùng
rồi ân hận cái gì.
- Thằng dở, mày chính trị với tao
đấy à. Viền lần này ông già từ mặt, có chết tao cũng không viền. Lạnh không?
- Không, đi một lúc nóng người.
Tuấn “trắng” đi nhanh tới cạnh
Cường, hỏi:
- Lối này đi đâu, B trưởng?
Cường kéo lại mảnh áo mưa, trả
lời:
- Đi qua ngã ba cửa tử.
Tuấn nói reo lên cứ như địa bàn
quen thuộc:
- Ngã ba có mấy cái xe tăng cháy
phải không! Đi lối này không cẩn thận pháo bắn thẳng nó nã cho chết, không có
chỗ nào núp.
Huy hỏi:
- Mày qua đấy bao giờ?
- Thì hôm đảo ngũ chứ hôm nào.
Qua ngã ba chỗ cầu sập trống như bãi vắng, tới chỗ mấy xe tăng cháy em vẫn còn
bị đạn bắn đuổi theo, như là mười hai ly bẩy. Đạn đập vào xe tăng nổ choe chóe.
- Phét, chạy vãi cứt còn nghe đạn
nổ choe chóe. Nói dối vậy không tốt nhiều mà – Phượng đi phía sau nói đế vào.
Huy dừng lại thở. Đường không dốc
như qua tám mười hai, vả lại đi rừng núi quen chân rồi Huy không còn thấy chùng
chân. Hơi đá tỏa ra như có gió thổi hơi lạnh vào mặt.
Đoành! Đoành! Hai tiếng nổ đầu
nòng ngay sau lưng đội hình đơn vị. Tiếng đầu nòng đanh, vang khiến mấy lính
mới giật mình ngồi thụp xuống.
Tuấn “trắng” cười, nói:
- Đầu nòng thôi quá. Đạn rơi vào
chỗ này, chúng mày ngồi như thế mảnh nó bằm nhỏ chúng mày như cám.
Phượng lại nói đế vào công kích:
- Kinh nghiệm chạy pháo của mày
giỏi nhiều đấy.
Cường nói:
- Tám lăm nòng dài của mình đấy.
Nổ ung tai.
Phượng giục:
- Đi nhanh lên, nó phản pháo vào
đây thì chết.
Cường nói:
- Nghe gần nhưng trận địa pháo ở
mãi dưới. Hôm đi địa hình, tôi có rẽ vào đấy chơi với thằng đồng hương.
Không còn đối đáp lại nhau. Đơn
vị bám đá leo lên. Các đầu ngón tay tê cứng.
Tới một bãi đất bằng phẳng, đại
đội được lệnh nghỉ. Chính trị viên Thủy bắc loa tay, nói to:
- Đại đội bóc bánh chưng ăn nhá.
Đến xẩm tối mới đi.
Giữa trưa, trời xầm xì như xẩm
tối. Cách chục mét nhìn nhau mỏng như mảnh giấy xé nham nhở, dán cẩu thả sau
tấm kính mờ. Đám mây mù dồn tới, những hạt nước táp vào mặt rát rạt như mưa
rào. Còn hơn cả mưa rào, những hạt mưa mù biết đánh luồn sâu, dù đã quấn chặt
áo mưa nhưng người Huy ướt cứ như không. Huy cởi mảnh vải mưa, bảo Phượng:
- Căng ra, che cho khỏi ướt bánh
chưng.
Cư chu mồm nói bắt chước giọng
Huế:
- Chu cha, anh Huy cẩn thận quá
hỉ. Che hay không che cũng rứa mà thui. Mảnh vải mưa răng che nủi bầu trời.
Phượng đang buộc túm đầu mảnh vải
mưa vào gốc cây quay ra đáp lại:
- Phởn chí quá ta, chửi cha nỏ
bằng pha tiếng, quê nào Bình Trị Thiên ra tụt giải rút quần thằng chó cún ra
coi.
Lính tráng mệt, không muốn đáp
lời.
Mảnh vải mưa của Huy che đủ mấy
cái bánh, còn người ăn chỉ được phép thò đầu vào. Đói ăn củ tre cũng thấy ngon.
Mới đầu chỉ có Huy bóc bánh, sau tới tấp lộn ba lô. Mùi bánh chưng thơm lừng,
át cả mùi đất ẩm mục. Ăn xong, ba lô đứa nào cũng xẹp hẳn xuống. Cường lục ba
lô lấy ra bịch chè, giục:
- Chè chốt chính hiệu đây, đứa
nào đi kiếm ít nứa khô.
Mọi người phấn khích, reo lên:
- Thật chè chốt không đấy?
Cường khảng định:
- Anh bạn pháo binh hái ở Nà Cáy.
Nghe nói chỗ nào pháo bắn nhiều chỗ ấy chè đượm. Uống thử xem.
- Uống chè của em Mây mới đã. Đã
ngon lại còn thơm, mỗi tội chỉ sợ không tìm được được đường về quê mẹ.
- Mẹ mày, nói gở mồm.
- Đang chuyện nọ xọ chuyện kia.
- Tránh ra để tao nhóm bếp.
Ba hòn đá được xếp làm bếp.
- Mày bắc bếp thế đun nước bằng
cái gì, dẹp đi.
Tuấn “trắng” hất ba hòn đá ra
ngoài. Lúc này mọi người mới nhận ra không có gì đựng nước. Tuấn “trắng” nói:
- Quê nào đốt được lửa lúc này,
tao sẽ có thứ đựng nước.
- Mấy thằng Vĩnh Phú quê bầm trổ
tài đi rừng xem nào!
Cư nhặt khúc nứa khô, đút vào khe
đá bẻ rồi tước ra thành từng thanh mỏng. Nói:
- Thanh Hóa quê choa cũng đun
được, chả cần quê bầm.
Bếp lửa được Cư đốt lên cháy rừng
rực. Tuấn mang về túi ni lông nước, buộc vào chiếc que như cần câu treo lên bếp
lửa. Lúc sau nước sôi lọc sọc mà túi ni lông không bị cháy.
- Thằng này giỏi. Mày học được ở
trường đời kiến thức hiếm đấy.
Tuấn hãnh diện, mặt đỏ trong ánh
lửa.
Chè chốt được đổ thẳng vào túi ni
lông nước sôi.
- Nhiều chè thế.
- Xếp bát ra chúng mày.
- Có hai cái bát. Uống chung.
Cánh chè nở chật túi ni lông,
nước rót ra đặc sánh như keo.
- Chúng mày nấu cao chè đấy à,
đặc thế!
- Nhưng ngon. Ở nhà, tao chưa bao
giờ uống trà nhưng bây giờ đặc xít cổ lại thấy ngọt thế.
Huy xuýt một chút nước chè vào
miệng. Lưỡi như bị dính vào thành miệng. Chè đặc như keo. Cổ họng bị xít chặt,
Huy nói giọng rin rít:
- Uống thế này vài bữa dạ dầy
xoăn vào bằng dạ dầy chim, năm chốt đỡ phải ăn nhiều.
- Anh Huy nói đúng đấy, nằm chốt
tìm chỗ ỉa cũng khó. - Đào ở đơn vị khác mới chuyển về góp chuyện: - Bọn này
năm ngoái nằm chốt gần năm rồi, có thằng sợ pháo ỉa ngay ở cửa hầm.
- Uống mất ngon, kể chuyện gì
không kể.
- Vừa nãy tao gặp đồng hương ở
trạm quân y nói, nhiều thằng bị thương xuống không gây mê được vì uống chè đặc
với hút thuốc lào nhiều quá.
Cường uống xong ngụm trà rồi ngồi
ra xa, ánh mắt đượm buồn. Huy lại gần, ngồi xuống cạnh, hỏi:
- Nhớ nọong Mây à?
- Ừ! - Cường trả lời.
- Sao không xin nghỉ phép? – Huy
hỏi.
Cường vuốt những hạt nước mưa
trên mặt, buồn bã trả lời:
- Bố mẹ ở nhà xem thầy, tới tháng
tư mới được ngày đẹp. Chờ lên chốt, đơn vị ổn định đã rồi tôi xin nghỉ phép.
- Ừ! Tết nọong ấy có về không?
- Có. Tôi về phép, trung đội giao
cho ông chỉ huy, có đảm nhiệm được không?
- Ông yên tâm đi.
Huy cũng lây tâm trạng buồn của
Cường. Hai người ngồi im lặng. Tiếng mó nước chảy rớt xuống đá tí tách.
Con
biết bây giờ mẹ chờ em trông/ Nhưng nếu con về bạn bè thương mong/ Bao lứa trai
cùng chào xuân chiến trường/ Không lẽ riêng mình êm ấm/
Tiếng hát rin rít của Tuấn
“trắng” lại nấc lên.
Đoành! Đoành! Tiếng đầu nòng của
hai khẩu tám lăm lại vang lên.
Đại đội trưởng Tước hô:
- Đại đội, lên đường!
Xẩm tối hay còn trưa, nhìn trời
chịu không đoán được.
Tiếng tí tách của mưa hay tiếng
mó nước chảy? Không biết đâu quá.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét