Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

Truyện ngắn: MẶT TRỜI DƯỚI LÒNG SÔNG



Lão Phiện! Nghe gọi thế ai cũng tưởng lão phải già lắm. Lão năm ba tuổi, còn hai năm nữa thì nghỉ hưu. Mọi người gọi là lão Phiện từ khi nào và tại sao, Huy chưa tìm hiểu được. Huy hay mường tượng, lão có điểm gì đó giông giống với ông lão câu cá trong cuốn “ông già và biển cả” mà Huy đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần vẫn không thấy chán. Với vóc dáng bên ngoài của lão thì gọi là lão cũng chẳng quá đáng. Hơn ba mươi năm làm nghề bốc vác trên bến cảng, vào ngày hè thì phơi lưng dưới nắng để cho lớp da khô xác như tấm mo cau, đến tháng đông dù thời tiết có lạnh giá thì công việc cũng vắt cơ thể lão ra những giọt mồ hôi đặc sánh như keo và để cưỡng lại cái nặng nhọc đè lên vai các múi cơ phải bện xoắn vào nhau khiến người lão sắt seo khác nào sợi dây neo tầu. Lại thêm hai cục u chai hai bên vai, một cục sau gáy to như trái cam, hệ quả của hàng nghìn thậm chí tới hàng triệu chứ chẳng ngoa đủ các loại bao kiện hàng hoá, từ chất liệu bao vải đến bao ni lông, đến những hòm gỗ cạnh sắc như dao đè xuống thì không có những cục chai đấy mới là chuyện đáng để nói.
Nhiều lúc Huy hay nghĩ vẩn vơ, không biết rồi cái thân hình mảnh khảnh, nước da trắng bột của mình đến khi nào sẽ đen sắt, chai lì như chiếc cọc bích đứng lẻ loi bên cầu cảng. Nói là bây giờ đã cơ giới hoá, sức con người sẽ được giải phóng cũng đúng đấy, ví như không còn phải vác gạo tạ leo cao hàng chục mét, không còn cảnh vần những cuộn giấy hàng tấn đến căng xoạc cơ lưng như quãng đời của lão Phiện đã trải qua. Làm việc cứ ỉ vào xe nâng hàng, cần trục con người sinh lười, một tí một ti cũng tị nạnh - lão hay cằn nhằn vậy. Có hao phí điện năng nhiều cũng là để giúp đỡ đôi vai người công nhân không phải có những cục u chai làm xấu cơ thể nhưng anh bốc vác chẳng thể mặc áo trắng, ngồi chơi xơi nước đến cuối tháng lĩnh lương được, mồ hôi không nhỏ đều đều thì làm gì ra sản phẩm mà có tiền. Và còn nắng, còn rét, dường như chúng lại quái ác lên theo thời gian để được hành con người. Trước đây làm gì có cái nắng nóng rang như chảo lửa, cả tháng trời không lấy nổi một giọt mưa và cái rét thì chẳng ra rét mướt, giữa ngày đông tháng giá mà lưng áo lúc nào cũng rịn mồ hôi như có đàn châu chấu đùa rỡn trên da khiến cho người ấm ách khó chịu.
Gọi là lão cũng đúng, bởi cái tính lì lì chẳng bắt nhời chuyện gẫu với ai, ca nào cũng  chỉ thui thủi một mình làm bạn cùng chiếc cọc bích câm lặng bên mép cầu cảng. Thế thì tán tỉnh sao được phụ nữ, cho nên đã gần hết cuộc đời rồi lão vẫn lẻ bóng. Đám thanh niên lốp chốp đùa, thật lão chẳng giống ai, làm anh bốc vác phải gào to lên thế mới xả hết cái nhọc trong người ra, sống mà lai vô ảnh khứ vô hình chẳng để ai biết tới thế thì buồn, sống mà không có những chuyến đi xa để có lúc mong chờ tới khi cập bến thì cũng nhạt. Lão nhếch miệng cười, xịt miếng nước bọt qua kẽ răng. Thế thôi. Nhưng duy chỉ có lần Huy hỏi ý ấy, lão trả lời dài hơn thường lệ. “Mồm miệng nhiều chẳng nhấc nổi bao hàng.” Không ai hiểu hàm ý câu nói của lão. Huy cười, cuộn thật gọn cuốn truyện đang đọc dở đút sâu vào túi quần.
Đấy là Huy nghe theo lời lão. Huy hay mang theo những cuốn sách đến chỗ làm, tranh thủ những lúc chờ việc để đọc. Ngày mới vào làm, thấy đội trưởng Phúc đang đến gần, lão Phiện giật tay Huy ra hiệu:
-Cất truyện đi!
-Sao?
-Làm thằng bốc vác còn truyện trò nó không ưa!
-Sao?
-Rồi mày biết!
Huy chưa kiểm chứng được việc không ưa của đội trưởng thế nào, nhưng rõ ràng làm anh bốc vác lưng phải còng như lưng tôm, rỗi rãi thì nằm duỗi dài cho thẳng lại, đằng này sách vở kè kè trên tay nhìn chướng mắt lắm. Chẳng lãnh đạo nào ưa người dưới quyền không làm đúng chức năng của mình. Biết người biết ta, Huy cuộn gọn cuốn truyện đút sâu vào túi. Nhưng cái tính ham đọc sách chẳng khiến Huy chùn, tranh thủ rỗi lúc nào lại giở sách ra đọc. Huy chẳng sợ đội trưởng biết bởi lão Phiện đã là người gác tình nguyện rồi. Quả thực, vào làm đã ba năm mà chưa lần nào Huy bị đội trưởng nhìn thấy đọc sách trong ca. Để rồi con người đội trưởng Phúc trong mắt Huy vẫn là người ăn nói nhẹ nhàng đúng chất giọng của người Hà Tây, chứ đâu có bặm trợn như mọi người thì thào với nhau.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

LÊN THĂM CON



(Viết cho ngày 17 tháng 2)

Đêm qua con về, bóng nặng bên thềm
Mẹ đừng lên nữa, tuổi già bước mỏi
Cho mẹ lần cuối này nữa thôi
núi có cao nhưng chưa bằng chỗ con nằm
Nào, đưa tay đỡ mẹ cùng lên

Mẹ, núi cao mấy nhưng vai mẹ gánh cả ngọn núi
để mồ hôi chan bát cơm con cầm

Cho mẹ nhìn lần cuối chỗ con nằm
Bên ấy đá còn nóng nữa không ?
“Lò Vôi Thế Kỉ” đấy, thằng Quỳnh bảo thế
“Thung Lũng Tử Thần” thằng Đạo dắt mẹ qua
Hôm mẹ lên chúng nó sắp hàng chào đón
tại ngôi nhà tập thể nghĩa trang Vị Xuyên

Thằng Quỳnh, thằng Đạo, chúng nó ganh tị
Không được như con bây giờ tựa lưng vào đá
Đón mây bay qua thung lũng Nậm Ngặt
Con bây giờ đón gió thênh thênh
Ngắm rừng cây ngần ngật xanh trên dãy “Coóc Nghè đốt cháy tuổi xuân”
Ngày xưa mẹ bảo con thích làm thi sĩ
Toại nguyện rồi mẹ buồn gì nữa
Mẹ về đi, chúng con còn đào tiếp “Đường hào Mùa Xuân”
để ngã ba không còn là “Cửa Tử”

Mẹ về…
               về đây !
      “Thanh Thủy” suối nước xanh trong lắm
Níu chân mẹ mỗi lần về qua
Năm sau cho mẹ lên, lần cuối nữa thôi.

Những địa danh trên  là có thật. Tôi chú thích vì có nhà văn viết tiểu thuyết về Vị Xuyên lại cho rằng Nậm Ngặt là tên do chiến sĩ tưởng tượng ra.


Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

TIỂU THUYẾT: MỘ ĐÁ NGANG LƯNG TRỜI (Phần cuối)




PHẦN BA
Một tuần sau khi xuất ngũ, Huy đến thăm thầy giáo cũ. Hơn ba năm, nhà thầy vẫn thế, thậm chí cả vị trí của đồ đạc vẫn không hề dịch chuyển. Cả những mảng vữa trên tường bong tróc chưa kịp bong tróc thêm. Cả Hoàng “dở” cũng vẫn thế, ngồi bó gối thu lu trên chiếc ghế sa lông gỗ, nhâm nhi chén trà đặc, hút thuốc lào vặt, mắt trống rỗng nhìn qua cửa sổ, chăm chăm vào bức tường ngăn cách giữa hai dãy nhà tập thể. Bức tường sứt sẹo, loang lổ. Chỉ có khác, ba năm trước bộ quần áo trên người Hoàng “dở” màu xanh công nhân, còn bây giờ K82 màu cỏ úa.
Huy nói:
- Nhìn thấy gì mà cứ chăm chăm thế?
- Chả có gì.
- Mày học vẽ đi, có khi trở thành họa sĩ siêu thực nổi tiếng.
Hoàng “dở” không trả lời. Đôi vỏ ngao trên mặt nó không biểu lộ điều gì.
- Bỏ thuốc lào đi mày. Mỗi lần hút là một lần ho. Ngày xưa trên chốt còn bảo do núi đá lạnh, giờ mày lấy lý do gì?
- Chán.
Huy nhắc:
- Ra ngoài xa mà hút. Hút trong đây thám báo phát hện ra đút quả bộc phá vào hang chết cả lũ.
Lần lượt từng đứa một bò ra thật xa hang, vào khe đá khuất, bắn xong điếu thuốc lại bò về. Chết có số, cứ phải bắn mồi thuốc mới chịu được.
Một tuần nay, hết thuốc lào. Né pháo, chạy khắp trận địa không xin được mồi nào.
- Vò lá khô nhét vào mà hút.
Phượng nói đùa nhưng Hoàng thì làm thật. Nó nhặt những chiếc lá khô nhét vào lõ điếu. Nó hút ngay trong hang. Lý do, lá khô khói không ám như thuốc lào. Hút được nửa hơi, nó ho sặc sụa. Nhưng rồi, lá khô xung quanh hang cũng hết. Nó ngồi bần thần. Huy bảo:
- Để tao cảnh giới cho. Trí não mày bị tê liệt rồi, nhìn gà hóa cuốc.
Lý do này buộc nó phải chịu ngồi vào trong.
Dựng xe đạp ngoài cửa, vừa vào nhà thầy giáo đã hỏi:
- Làm thủ tục nhập lại cơ quan cũ chưa, Huy?
- Dạ xong rồi ạ, sang tuần cháu đi làm.
Tự dưng Huy xưng cháu chứ không em như ngày xưa.
- Có được xuống tầu không? - Thầy giáo hỏi tiếp.
- Dạ, có khi về bảo vệ, thầy ạ.
- Ừ. Đi tầu bây giờ không còn như ngày xưa.
- Dạ, cái tiếng đi tầu vốt cô bây giờ lạc hậu rồi, nhưng lương vẫn hơn trên bờ.
Vừa thay quần áo, thầy giáo vừa nói:
- Tầu bè vất vả lắm. Còn hơn cơ quan thằng Hoàng bị giải thể. Đi làm thợ xây ngoài thì không đủ sức khỏe mà xin vào chỗ liên doanh thì nó lại không chịu đi.
Hoàng không thay đổi tư thế ngồi, ánh mắt vẫn dọi vào bức tường, nói:
- Làm giầy da, quay bích me còn mệt hơn vạn lần đi xây.
Thầy có vẻ bực dọc, nói:
- Mặc xác mày. Thời buổi này không bằng cấp xin được việc gì. - Thầy quay sang nói với Huy: - Nó bảo, đi ăn mày chứ không đi làm với cơ sở liên doanh. Cơ sở ấy toàn của Trung Quốc. Đài Loan cũng là Trung Quốc.
Hoàng cự lại:
- Thì anh Huy, học trò của bố đấy, giờ làm bảo vệ. Bằng cấp làm gì.
Một tháng sau, Huy mới có thời gian dỗi đến nhà thăm thầy. Muốn biết Hoàng “dở” xin được việc gì chưa. Lạ. Chẳng lẽ nhà thầy đập ra xây lại. Huy ngạc nhiên nhìn ngôi nhà đang phá dỡ dở, mái trơ những thanh xà gồ bằng gỗ ngâm dầu, sần sùi, đen đúa. Không thấy người nhà thầy, Huy hỏi bác thợ vác thanh xà nhà đi ngang qua:
- Chủ nhà đâu, anh?
- Trong kia! Hỏi gì? - Người thợ hất hàm về một người đang đứng giữa nhà.
Không phải. Đấy là người hàng xóm. Nhưng Huy vẫn đi vào hỏi người hàng xóm của gia đình thầy.
- Anh ơi! Cho em hỏi, nhà Hoàng đi đâu ạ?
Vẻ mặt khinh khỉnh, đắc chí của gã hàng xóm khiến Huy khó chịu. Cái bụng bự của hắn ưỡn ra để cho cái miệng nhếch lên được rộng hơn, để lời nói thóa mạ văng ra được hay hơn:
- Ông thầy của mày là giảng viên đại học tao thấy cũng lạ. Dáng vẻ thì cục mịch như nông dân. Mà này, tao hỏi mày, ông ấy dậy sinh viên những thứ gì mà vô lương tâm thế.
Huy cố kiềm chế để hỏi cho ra sự việc:
- Sao cơ ạ. Thằng Hoàng “dở” đi đâu rồi ạ?
Hắn được gãi đúng chỗ ngứa, ngửa cổ cười hơ hớ. Cái bụng mỡ rung rinh. Hắn nói to như muốn công bố cho cả xóm biết:
- Mày dùng từ chính xác đấy. Thằng dở dở, khùng khùng ấy được bố nó tống đi bộ đội cho nhẹ người, nào ngờ khi về còn tâm thần nặng hơn.
- Thế bây giờ nó đâu rồi? Đi viện à? – Huy sốt sắng hỏi.
- Thầy cô mày xấu hổ không biết vùi mặt vào đâu nên bán xới rồi. May mà có tao mua nhà không thì ở đây thêm tháng nữa cũng chết vì nhục.
Huy cố hỏi thêm:
- Thằng Hoàng bị sao ạ?
- Đang đi ở sân, nghe tiếng sấm đoành một tiếng, thế là nó nhào xuống nằm sấp ở khe bể nước. Thần kinh nặng!
Huy lẳng lặng quay đi. Pháo bắn! Tiếng hô bật lên trong tâm thức Huy.
Hơn ba năm quân ngũ, không biết bao lần nhao người tránh pháo nhưng khi ngã người xuống trông thế nào Huy chưa nhìn thấy lần nào, chưa hình dung nó diễn ra thế nào.
Nếu như tối hôm ấy có ai không phải người trong gia đình nhìn thấy, Huy nhao qua người bố nằm nép vào trong sau tiếng nổ ngoài đường, thì một người không có tiền sử về bệnh thần kinh như Huy có bị đổ tội giống Hoàng “dở”.
Huy thấy người chao đảo, lắc lư, mơ mơ, tỉnh tỉnh như cơn say mỗi khi gặp sóng dồi. Chân tay bị bó chặt, không cử động được là sao? Cổ họng bị bít lại, ngực như có sợi dây thiết chặt, không thở được. Ngày còn bé đã bị chết đuối hụt, chẳng lẽ bây giờ Huy đang bị dìm xuống nước. Huy vùng vẫy. Bỗng cả cơ thể Huy bị dộng mạnh. Có tiếng nói ngay bên tai:
- Nằm yên đi anh ơi! Mỏi muốn đứt hết cả gân chân rồi đây này.
Tiếng người khác:
- Tỉnh rồi à?
- Chưa. Chưa thấy mở mắt nhưng thở mạnh lắm. Giẫy một cái khụy bố chân.
Huy nghe rõ dần tiếng mọi người, cố mở mắt nhìn xung quanh. Trước mắt Huy mờ mờ, đục đục, nhìn ai cũng nghiêng ngả.
Réo… réo! Xoẹt … xoẹt! Pành …pành!
Huy “nhao người” nằm xuống. Huy đang nằm thì nhao đi đâu. Phản xạ của người lính giúp Huy tỉnh hẳn. Huy nghe rõ hơi thở của mình rít hư hứ. Một đứa  nhổm dậy lay Huy:
- Anh Huy! Có sao không?
- Không thở được.- Huy gắng nói to.
- Anh nói gì? Không nghe thấy.
Thế ra chỉ có Huy biết mình đang nói. Cố nói nhưng chúng nó không trả lời, xốc Huy dậy. Cõng. Thở hồng hộc.
- Nhanh! Thế nào nó cũng bắn nữa.
- Mệt chưa, đưa tao cõng.
Chúng nó chuyền Huy qua vai đứa khác.
Cõng. Thở hồng hộc.
Tiếng réo xoèn xoẹt, tiếng nổ pành pành của pháo bắn xa.
Huy nghe rõ tiếng thở dồn của những chúng nó. Thấy rõ bước chân những đứa cõng Huy run lẩy bẩy.
- Để tao đứng xuống. Dìu tao đi. – Huy nói.
- Nói được rồi à! Tỉnh rồi!
Hoàng “dở”! Huy nhìn rõ chúng nó là những ai rồi. Thằng Đào quê Hải Hưng. Thằng Phượng quê Thanh Hóa. Thằng Tuấn “láu táu” quê Vĩnh Phú. Chúng nó thay nhau cõng Huy. Huy bị sao? Cố nhớ. Không biết tại sao mình lại trong tình trạng này. Huy đập vai Tuấn, nói:
- Để tao đứng xuống!
- Anh đi được không? - Phượng hỏi.
- Được! Dìu tao.
Tuấn “láu táu” xốc nách làm chỗ tựa để Huy đứng xuống. Đào một bên, Tuấn một bên dìu Huy đứng thẳng dậy. Huy quàng tay qua vai chúng. Cố đứng. Không thể. Đầu gổi bủn rủn không đứng thẳng được. Gắng đặt chân xuống đất! Nhưng chân Huy nhũn ra. Bước! Cảm giác đôi chân đang bị treo lủng lẳng khiến Huy không điều khiển nổi.
- Để bọn em cõng cho dễ.
- Tao bị sao?
- Không nhớ à. Lúc rút xuống, qua đồi Phong Lan bị quả đạn pháo chỉ hơn mét. Hết pháo, chạy lại thấy anh ngất, lay mãi không thấy động đậy. Người nhũn như con giun.
- Không thấy thở, tưởng ngoẻo.
- May cho anh nằm vào khe đá.
- Thế à. Sao phải cõng.
- Làm gì có cáng. Chờ vận tải anh ngỏm rồi.
- Y tá tiêm cho rồi đại trưởng bảo bọn em cõng xuống.
- Quả ấy có khi là cối trăm sáu. Nổ khủng khiếp.
- Ừ. Tới đâu rồi?
- Gần hết tám mười hai rồi.
- Dốc thế chúng mày cõng được à.
- Đi đường tăng. Lối ấy dốc, đi sao nổi.
- Đỡ tao đứng xuống đi.
- Có vận tải mang võng tới kia rồi!
Từ một kĩ sư máy tầu thủy trở thành nhân viên bảo vệ. Chả sao. Bảo vệ cơ quan hành chính, công việc nhàn nhưng lương thấp. Còn hơn lênh đênh giữa đại dương, tiền nhiều nhưng rủi ro cũng không ít. Đi biển không khác gì đi giữa trận pháo, nhiều khi biết có bão nhưng có chạy cũng chẳng tránh được. Trên bờ tằn tiện lương cũng đủ sống.
Bị sức ép, tỉ lệ thương tật cao hơn mảnh pháo còn nằm trong đùi. Nghe Minh “cóc” nói, Huy cũng thấy tiêng tiếc. Ra quân, chỉ bộ quần áo trên người không dám cởi ra, bao nhiêu quân tư trang cho lại hết bà con trong bản. Cả hồ sơ bệnh án nằm điều trị hai tháng do sức ép của trận pháo ấy định giữ làm kỉ niệm đời lính nhưng chần chừ một lúc cũng bỏ luôn lại trên giá ba lô. Nếu trên đời có chữ may, có chữ vận số thì biết đâu có thằng lính mới nào đó có tính cẩn thận, thấy mấy tờ hồ sơ bệnh án ấy cất đi, giờ tìm chủ nhân trao lại. Có cái thẻ thương binh giờ thêm được ít phụ cấp. Nhưng chuyện đó không bực bằng, mỗi khi kể chuyện mình bị pháo trần thế nào, bị sức ép của pháo thế nào, có người lại dè bỉu, nghi ngờ. Nói phét, khỏe như trâu. Xã hội bậy giờ ối thằng chưa biết bắn súng thế nào cũng là thương binh. Định vào hội ấy à?
Tiếc không? Huy hỏi Minh “cóc”. Có gì mà tiếc, Minh “cóc” nói dửng dưng như thể chuyện vặt ấy mà, cần gì. Minh “cóc” cũng cùng Huy bỏ lại hồ sơ bệnh án. Minh nói: Em vạch đùi cho chúng nó xem vết mổ dọc đùi, chúng nó bảo, có cái mảnh bằng hạt ngô vào đùi mà mổ phanh ra thế này không tìm thấy. Phét! Chắc chui rúc bờ bụi bị gai cào. Định giở trò cờ bạc, bịp được bịp ăn phải không.
Minh “cóc” ở đại đội khác nhưng cũng bị dính mảnh ở trận pháo ấy. Hai anh em vào viện cùng ngày, ra viện cũng cùng ngày. Khi về, Minh “cóc” lại làm bốc vác của công ty kho vận ngay cạnh công ty Huy. Huy nói đùa, số phận trớ trêu nhỉ, thằng bị ảnh hưởng thần kinh thì làm bảo vệ, thằng bị mảnh găm vào chân thì làm bốc vác.
Chả sao, có được việc làm là tốt rồi. Chỉ có thằng Hoàng dở người mới chọn việc. Bây giờ không biết nó ở đâu. Mọi thông tin về nó, về thầy cô Huy hỏi nhiều nơi nhưng không ai biết.
Một hôm, Minh “cóc” thì thào với Huy, vẻ bí mật:
- Mai thằng anh trực đêm?
- Ừ.
- Thằng em ném ít hàng sang nhá!
- Hàng gì?
- Biết thế.
- Ăn cắp của kho à?
- Ừ. Bọn em làm thường xuyên nhưng tránh ca của thằng anh. Ném qua lối cơ quan anh dễ lắm, không ai ngờ. Thằng anh cũng không sợ liên lụy, bọn em không đi qua cổng bảo vệ cơ quan anh đâu.
- Sao hôm nay mày bảo tao?
- Thì thằng em làm ăn dễ dàng, kiếm được. Anh em mình một thuở vào sinh ra tử, có tí chẳng lẽ quên thằng anh.
- Mày không sợ tao báo công an à?
Minh “cóc” trợn trừng trợn trạc:
- Thằng anh mà tố thằng em á! Không bao giờ! – Minh “cóc” khảng định.
- Sao mày dám nói chắc thế?
- Em quá hiểu thằng anh là người thế nào. Hôm trên E5 thằng Hậu không ra chiến đấu, thằng anh chĩa súng vào nó nhưng có dám bắn không. Lúc nó giả vờ theo cáng anh Cường xuống, biết thừa nó giả vờ để được rút xuống, để rồi đảo ngũ luôn, thằng anh có dám cản không. Thằng đảo ngũ ấy giờ là xã đội trưởng với cái lý lịch ra quân đẹp hơn thằng anh là cái chắc. Nó còn là chủ tịch hội cựu chiến binh xã đấy. Nó bây giờ “đủ tầm” rao giảng cho anh về phẩm chất một người lính thế nào. Anh có dám về quê nó để tố không!
Huy vô cớ nổi nóng, quát:
- Mày im đi! Cứ coi tao như những thằng chết rồi không nói được nữa, được chưa!
Đêm sau, Huy xin đổi ca. Tại sốt rét trở lại chứ không phải liên quan tới việc thằng Minh “cóc” . Huy không đồng ý thì bọn nó không bao giờ dám qua mặt.
Xuất ngũ vừa tròn mười năm. Và cũng từng ấy năm, đến hôm nay Huy mới bị sốt rét lại. Mẹ Huy thán phục việc Huy uống nước lá na để trị sốt rét. Mẹ bảo, bài thuốc hay đấy, các cụ truyền lại nhưng ở đời mẹ chưa thấy ai dám uống. Huy cũng rùng mình mỗi khi nhớ lại chín ngày kinh hãi ấy. Lá na được vò sống với nước đun sôi để nguội trở thành thứ nước sền sệt, lầy nhầy như mũi thò lò của trẻ con, xanh lét, hôi gắt gấp vạn lần mùi hôi của bọ xít. Chín ngày, chín bát. Người cho lá na cũng gặng hỏi, nó uống được thật à!
Ngày ở bộ đội tháng nào cũng dính sốt rét. Nhẹ thì ngây ngấy mấy hôm, nặng thì bốn hai độ, cơ thể co giật, nằm bệnh xá một tuần, tiêm quy nin xong đi lệch hông. Về nhà uống nước lá na, mười năm không mảy may một lần gây gấy.
Huy sốt rét thật. Đêm qua chỉ váng vất vậy mà sáng ra sờ bên ngoài thì hầm hập nóng, còn bên trong cái rét lại bò loang khắp cơ thể cào cấu. Giữa hè, chăn bông đắp mấy cái cũng không hết rét. Nước lá na hết công hiệu hay tại cái vụ thằng Minh “cóc” gạ gẫm khiến Huy suy sụp. Huy đâu là người dễ yếu đuối thế. Sáng ra nhà đi vắng cả, chỉ còn mình Huy nhẩn nha với cái sốt rét và nhớ về Hoàng “dở”. Không biết lá thư của Cường viết cho Mây để lại trong ba lô dưới cứ, Hoàng “dở” nhận sẽ đưa tận tay, liệu trong những năm qua đã được tìm được chủ nhân. Cũng như Hoàng “dở”, gia đình Mây chuyển đi đâu hỏi không ai biết. Nghe nói Mây đi học trung cấp ở Thái Nguyên. Huy và Hoàng “dở” trước khi xuất ngũ xin phép đơn vị đi tìm nhưng không có thông tin gì.
Mười giờ. Tổ trưởng tổ bảo vệ gõ cửa. Huy chưa kịp mở cửa, tổ trưởng đã nói gắt:
- Mặc quần áo, đi khẩn trương!
- Đi đâu? Tao đang bị sốt rét.
- Có chết ngay cũng phải đi! Thằng Minh “cóc” ăn cắp bị bắt rồi. Nghe nói khai ra mày thông đồng.
- Láo! Thằng nào nói thế!
- Thì tao nghe trưởng phòng tổ chức nói thế, lệnh cho tao tìm mày.
Trận đánh kết thúc. Sáu bộ đội hy sinh nằm đè lên nhau trước cửa hầm. Vận tải mang tử sĩ đi. Dính, khẩu đội trưởng cối tám hai từ trong hầm bò ra.
Trung đoàn trưởng hỏi:
- Ai gọi bổ sung quân?
- Em. – Dính nói.
- Ba lần gọi bổ sung quân. Vậy mà, sáu thằng hy sinh, còn mỗi mày sống, lại nằm tít trong hầm?
- Không biết mà. Lúc ấy tôi chạy vào lấy đạn bắn tiếp thì tự nhiên ngã, tức ngực rồi không biết gì nữa mà. – Dính nói thản nhiên.
- Khẩu đội trưởng sao lại tiếp đạn.
- Thì chúng nó chết hết rồi. Chết lâu rồi. Tôi gọi bổ sung thêm người không được thì tự mình làm cả thôi mà. – Dính nói thản nhiên.
Thằng Dính đối mặt với quân pháp mà vô tư thế. Mình bây giờ cũng thế, có tội gì đâu mà sợ.
Trưởng phòng tổ chức:
- Không ngờ!
- ….
- Hiền lành thế…. Hay cáo giả chết bắt quạ đấy.
- ….
- Lần này là lần thứ mấy rồi?
- ….
- Sao! Biết tội rồi à. Viết tường trình đi. Trình bầy trung thực, khi nào công an vào cuộc tôi sẽ nói đỡ cho.
- Tội gì?
- Còn tội gì à. Thằng Minh “cóc” khai hết rồi. Thông đồng với nhau trộm cắp.
- Không đúng!
- Sao giọng run thế. Mặt tái thâm, mắt hoảng loạn thế kia còn cố giấu. Sợ à!
- Tôi đang bị sốt rét. Mệt lắm.
- Định bài vở với tôi đấy à. Sống ở thành phố cái bệnh sốt rét khó kiếm lắm.
- Tôi bị thật. Bị sốt rét rừng, từ thời bộ đội, nằm hầm nằm hang.
- Từng cầm súng đi suốt chiến dịch khiến cả thế giới nể phục, tao còn chưa dám vỗ ngực mà bọn mày mới nằm trong hang nhìn qua khe đá thấy vài điểm nổ đã tỏ thái độ với tao đấy à. – Trưởng phòng thay đổi cách xưng hô, trừng trộ.
- Tôi mệt lắm. Tôi xin nói câu cuối rồi tổ chức muốn làm gì tôi thì làm. Tôi không thông đồng và thằng Minh “cóc” không bao giờ đổ tội cho tôi.
Hội đồng kỉ luật kết luận, chưa tìm ra bằng chứng phạm tội, Huy tạm thời được giữ nguyên vị trí công tác, nhưng được chi bộ luôn theo dõi sát tư tưởng, lối sống. Huy là người sống khép mình, nay khép thêm ít nữa cũng chẳng sao. Chỉ có điều sống khép quá nên cái ước mơ thuở học trò tàn lụi đã lâu, đó là viết văn được đất sống lại. Nhưng viết gì? Viết về thói hống hách của trưởng phòng tổ chức? Không được! Hắn mà biết thì sinh chuyện lớn. Chẳng sao. Cả cơ quan này đều biết, chưa thấy hắn cầm tới quyển sách tờ báo một lần nào. Mà hắn có đọc chắc lại cho rằng viết về ai ấy, chứ mình đâu có phải hạng người ấy. Ở đời, chẳng ai tự nhận mình xấu. Nhưng biết viết thế nào cho ra truyện, ra một tác phẩm văn học đây?
Hay viết về cuộc chiến Huy đã tham gia. Viết thế nào đây?
- Thôi, không cà kê nữa, về nhanh lên! – Huy giục Phượng.
- Chờ em ăn xong đã. Đang háo thịt tươi.
Một đứa nói:
- Cả tháng nay chỉ cơm nắm với cá khô mục, anh để nó thưởng thức bữa tươi đã.
Huy nhìn vào cái hăng gô đặt trên bếp lửa, nói:
- Ăn cái này á! Can mày. Tao thà rằng ăn mắm tôm hay cá khô còn hơn ăn cái này!
Cái hăng gô đặt trên bếp lửa. Dưới đáy hăng gô, hơn chục con chuột bao tử đỏ hỏn lúc nhúc bò như sâu vì nóng. Lúc sau, chúng nằm còng queo, bất động. Dưới lưng những con chuột, những bong bóng của mắm kem phồng dần lên rồi vỡ nổ bùng bục. Món chuột bao tử dim với mắm kem. Con người sống được đã là kì tích ở cái nơi được gọi là lò vôi thế kỉ, là cối xay thịt này, vậy mà lũ chuột hàng đêm vẫn nhông nhông chạy chơi, lại sinh con đàn sinh con đống nữa. Ăn chuột bao tử thế này đúng là lần đầu trong đời Huy được thấy.
Về đến hang nhỏ, nơi bây giờ có tên tổ chốt tiên tiêu thì pháo địch bắt đầu dội xuống như mưa mùa hạ dội nước. Đá nhão ra hay sao, chẩy rào rào như nước xối trước cửa hang.
Suốt hai ngày, tiếng nổ triền miên như tiếng ì ùng của sóng trong cơn bão biển. Tai ù đặc, mình nói mà mình cũng không nghe thấy. Cửa hang được những tảng đá lớn che chắn, pháo bắn thẳng hay ĐKZ không bắn lọt nhưng lại có một khe đá, đủ tầm quan sát toàn bộ tiền duyên của trận địa. Hoảng “dở” lúc nào cũng chiếm lĩnh khe đá. Không biết nó có ngủ nhưng lúc nào nhìn vào mắt nó đều thấy hai miếng trắng như vỏ ngao chăm chăm dọi xuyên qua khe đá. Những bụi đá rào rào trượt trên mặt cũng không khiến nó chớp mắt.
Đang ngồi tận trong cùng, Phượng một tay ôm bụng, một tay đè lưng những người ngồi ngoài xuống, chen ra phía ngoài. Phượng với chiếc mũ sắt rồi gạt Hoàng vào trong. Hoàng sừng sộ đứng dậy, đầu húc vào đá. Hai thằng nói gì, không ai nghe thấy. Như hai đứa diễn kịch câm. Phượng cong người, một tay ôm bụng, tay cầm mũ sắt kề vào mông. Hoàng chỉ tay ra hiệu ra ngoài.
Hoàng hét to, ai cũng nghe thấy:
- Mày ỉa ra đây ngửi thế nào được!
Phượng tụt quần, ngồi xuống mũ sắt.
Hoàng lại hét to, ai cũng nghe thấy:
- Hai ngày toàn lương khô thì ỉa cái gì!
Mùi thối lẫn mùi khét của thuốc súng đến nghẹt thở.
Phượng ỉa xong, mang mũ sắt ra ngoài vứt.
- Mày vứt đi thì làm gì còn cái nào đựng được. – Hoàng dở nói. Nơi có hai vỏ ngao trắng tinh rỉ ra dòng nước đặc như keo, từ từ lăn xuống hốc má.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

TIỂU THUYẾT: MỘ ĐÁ NGANG LƯNG TRỜI (Phần VII)


 


*
*     *
Hầm của Huy là hơn chục khúc gỗ đường kính khoảng hơn gang tay, dài chừng hai mét, gác vào vách đá, xếp chắn bên ngoài là những bao đất, mỗi bao chừng chục cân. Hầm này một quả cối sáu rơi trúng chắc bay. Khi nhận bàn giao với đơn vị trước, Huy nhìn cơ ngơi của mình rồi ái ngại quan sát địa hình, địa vật. Cối có rơi được vào đây không? Huy hỏi lính đơn vị cũ. Không. Ở mấy tháng, chỉ thấy cối rơi trượt xuống kia. Ừ, Huy xác nhận bởi vẫn còn màu xanh của những bụi cây lúp xúp trước hầm. Chè dây đấy, lính cũ chỉ một bụi cây mọc lan, lá giống lá hoa lẵng tiêu dưới xuôi, nhưng làm gì có thời gian đun uống.
Ngủ đi, đêm còn phải thức làm hào. Nhưng không ai ngủ được. Đá lạnh dưới lưng. Đá rung dưới lưng. Cối pháo bắn ầm ầm bên tai, vẫn ngủ được. Quen rồi. Nhưng lo đá từ trên lăn xuống mới làm mất ngủ. Băn khoăn, cối không rơi vào được nhưng đá từ trên đỉnh lăn xuống thì sao. Thỉnh thoảng Huy nghe thấy tiếng lộc cộc chắc là đá lăn. Nãy quên không hỏi, đã có trường hợp nào đá lăn trúng hầm chưa.
Nằm mãi không ngủ được, người ê ẩm đau, Huy đi sang hầm của Cường.
Cường ngồi ngoài cửa hầm, cắm cúi dùng mũi lê khắc lên báng súng AK, Huy đi đến gần cũng không biết. Huy hỏi:
- Khắc tên noọng ấy hay sao mà mê mải thế?
Cường giật mình ngẩng đầu lên, nói:
- Không.
- Thế ông khắc gì? – Huy hỏi.
Cường đưa khẩu súng cho Huy, nói:
- Ông xem đi. Làm suốt từ lúc lên đến giờ. Mũi lê cùn quá.
Huy đọc hàng chữ:
- Sống bám đá, chết hóa đá thành bất tử. Triết lý đấy. Sao ông lại sáng tác được chữ hay thế?
Cường trả lời, giọng buồn buồn:
- Lúc nhìn thằng Cư nằm, tôi không nhận ra đâu là đá đâu là nó, mường tượng ra nó hóa thành đá. Đá có bị băm vằm ra thì vẫn là đá thế không là bất tử à.
- Ừ - Huy trả lời, lòng trĩu buồn.
Cường nói:
- Vào hầm tôi ăn cơm. Cơm nắm mang từ hang Làng Lò lên.
- Tôi có rồi. Tôi phải về, thằng dở nó mệt, dỗ như dỗ trẻ con ăn bột.
- Nó mệt, đêm nay bảo nó nghỉ.
Trời mờ tối. Đá trắng như sương. Sương trắng như đá. Cả không gian nhờ nhờ màu trắng. Lạnh. Huy mặc áo bông rồi lại cởi ra. Lạnh bây giờ chịu được, chốc nữa làm hào mặc áo bông vừa vướng lại vừa nóng, cởi ra để đâu được. Để xuống hào, tối biết đâu mà lần.
Cởi áo bông, cởi luôn cả quần dài ném vào góc hầm, Huy giục mọi người đi. Mỗi tiểu đội mang theo hai AK đề phòng bất trắc.
Dò dẫm. Trượt chân, đá sẽ không tha. Trúng đạn của kẻ thù còn được chứ để đá làm bị thương sẽ bị nghi tự thương. Là mấy đứa lính mới lên chốt lần đầu nói vậy chứ với những người đã làm quen với chiến trận như Huy thì từ đảo ngũ không còn xuất hiện trong ý nghĩ. Trung đội trước khi lên hai lăm người, Tuấn “trắng” và Cư được “phép” trở xuống trước, nay hai ba người đang đi qua Huy. Không, cả Huy chỉ có hai hai. Hoàng “dở” ở lại trông hầm. Đá lạo xạo, lộc cộc kêu dưới chân.
Réo … Oành! Mấy quả cối tám hai của mình bắn xuống tiền duyên của địch. Mấy quả đạn vừa là tiếng kẻng báo giờ làm, vừa là để dọa không cho thám báo dám mò xuống nơi B của Huy làm đường hào lấn dũi. Hai hai người âm thầm đi về phía mấy đụn khói đen của đạn cối tám hai vừa bắn xuống.
Có tiếng bước chân phía sau, Huy dừng lại. Tiếng thở phìn phịt của người chạy. Hoàng “dở” à? Huy định hỏi thì Hoàng lên tiếng trước:
- Anh Huy, cho em theo với!
Huy gắt:
- Mày không trông hầm à!?
- Cho em đi với! Hầm có gì phải trông.
- Không có gì! Thế thám báo vào gài mìn thì sao.
- Không! Anh bảo ai ở lại. Cho em đi với.
Cường quay lại, nói:
- Cho nó đi cũng được. Nhưng còn sốt không? Ông đi theo A ba cùng với thằng Hoàng.
Hoàng trả lời:
- Hết từ hôm qua rồi.
Nó sợ đấy thôi, Huy nghĩ, mình là cái bóng để nó bám theo. Có người sợ cả con gián nhưng khi có điểm tựa tinh thần nào đó thì trước con rắn hổ mang cũng không khiến họ run. Nó đi theo, Huy yên tâm hơn là cho nó nằm nhà. Nhỡ có thám bào mò vào nó sẽ không biết xoay trở ra sao.
Lợi dụng pháo sáng, đoàn quân bám đá đi về phía địch. Pháo cối cầy xới, dù mưa ẩm nhiều ngày nhưng đá không trơn.
Không biết quả pháo sáng nào của ta, quả nào của địch. Ánh sáng đung đưa, nhìn đá dưới chân như đang âm thầm chuyển động theo. Mỗi khi ánh sáng tắt, đêm đen bưng lấy mắt, phải định thần một lúc mới nhìn ra đường đi. Phía dưới còn xếp đá vào rọ tre hoặc lồng sắt để tạo đường hào. Càng tới gần điểm cao của địch, đường hào chủ yếu lợi dụng những bờ đá có sẵn, chỗ nào trống phải xếp đá thì làm sao cho thật tự nhiên, không để địch nghi ngờ.
Địch ngay ở phía trên. Trời tối, xác định khoảng cách bằng tiếng trung liên của chúng mỗi lần bắn cầm canh. Chớp lửa nhay nháy, nhìn tức mắt. Rồi tiếng nổ đanh là gần lắm. Gần đến mức, chỉ trong tầm bắn của B41. Ước gì bây giờ có khẩu B41, Huy sẵn sàng phóng cho một quả nổ banh thây chúng ra. Trận trước buồn quá, đội hình đơn vị bị chính cái ổ hỏa lực thế này ngăn chặn. Anh Thanh D trưởng không bao giờ xuống được. Huy ngồi tựa vào thành hào, hít sâu, thở dài để xả ấm ức trong lòng.
Hoàng “dở” lom khom đi tới, ngồi xuống cạnh Huy, hỏi:
- Làm gì?
Huy hất hàm sang bên cạnh, nói:
- Nhìn thấy thằng Phượng kia không? Ra chỗ nó. Làm nhẹ thôi đấy.
Tiếng đá va vào nhau lạch cạch. Mỗi lần pháo sáng bùng lên, mọi người tranh thủ kéo những viên đá to đặt trước dưới chân hào, chờ pháo sáng tắt cùng nhau xếp lên trên tạo thành đường hào.
Lẽ ra hậu cần phải cấp găng tay, Huy cằn nhằn bởi bàn tay moi đá bị cứa rát.
Một luồng đạn lửa đỏ lừ nối đuôi nhau dài như con rắn, lao về phía A một của Chính. Đạn đập vào đá tóe lửa, nổ choe chóe. Huy nhìn rõ anh em nấp dưới đường hào qua anh chớp lửa. Im lặng. Huy lắng tai nghe động tĩnh từ phía A một. Chắc không thằng nào dính. Bọn nó bắn vu vơ. Thế là đường hào khi vận động sẽ an toàn.
Tiếng rít reo réo, xoèn xoẹt của đạn cối bay qua đầu. Những chớp lửa nhoang nhoáng phía trên cao điểm. Tiếng ục uỳnh nổ triền miên như cơn dông. Những viên đá vừa xếp rung lên như bị co giật. Những luồng lửa như con rồng thỉnh thoảng phóng từ cao điểm bên này sang bên cao điểm kia. Đạn ĐKZ.
- Bây giờ có mồi thuốc lào thì tốt quá. Thèm không chịu nổi. – Phượng nói.
Hoàng “dở” như được gãi đúng chỗ ngứa, gạ gẫm Huy:
- Anh Huy, cho em quay lại hầm bắn điếu thuốc đã. Thèm quá! Lạnh quá!
- Mày nhớ đường không? Lạc vào trận địa của nó thì bỏ mẹ mày. Không ai mang xác mày xuống.
Quang nói:
- Này, nãy tao thấy có một hõm đá, chui vào hút thuốc được đấy. Mai nhớ mang điếu.
Huy dọa:
- Không sợ chúng nó ngửi thấy mùi khói thuốc à.
- Ừ.
Toát mồ hôi. Chỉ muốn cởi áo. Nhưng cái lạnh cũng đang rình rập đâu đó bên trong người. Cái lạnh chỉ chờ Huy cởi áo là lập tức chui ra. Lạnh căn cắn, rùng mình. Nóng cào cào, râm ran. Chẳng biết cơ thể mình đang nóng hay lạnh nữa. Hay là sốt rét? Huy rùng mình.
Làm đi. Bàn tay Huy lại tiếp tục bấu vào từng viên đá. Có lẽ phải ba giờ đêm. Đói cồn cào. Cảm giác ngón tay buồn nhồn nhột chỉ muốn buông rơi viên đá. Cái ngủ đeo nặng, mi mắt chỉ chực sụp xuống. Ngày xưa, Huy phải trực ca đêm, cứ đến khoảng ba giờ là có cảm giác như bây giờ. Giá như được phát khẩu phần như hôm đánh tấn công thì tốt quá. Một nhúm đường glucô tan lạnh trong miệng sẽ đỡ háo, đỡ thèm được ăn, đỡ thèm được hút thuốc lào. Sẽ tỉnh ngủ. Từ lúc sinh ra tới nay, Huy chưa một lần hút thuốc, không biết cảm giác thèm có làn khói tỏa vào lồng ngực thế nào. Có giống cảm giác của Huy lúc này, mồm miệng nhàn nhạt, nuốt khan thấy đăng đắng cổ họng.
Huy ngồi dựa vào bờ đá duỗi chân cho đỡ mỏi. Đôi chân lúc nào cũng trong tư thế quỳ gập, nay được duỗi thẳng, khớp gối lắc cắc kêu. Phải quỳ lâu trên đá, hai đầu gối Huy bị cứa như gai cào, bụi đá dính vào sót không khác sát muối. Không mặc quần dài là sai lầm, Huy vừa xoa đầu gối vừa tự trách.
Đêm đầu tiên làm hào, hai mươi ba người đi, hai mươi ba người an toàn trở về. Chỉ bị xây xước do đá cứa. Mừng. Những giọt nước mắt của mọi người âm thầm nuốt vào trong, Huy đoán vậy bởi thấy những gương mặt lặng lẽ cúi xuống đi ngang qua. Sương mù trắng đục, từng tảng như băng trôi ngang qua. Huy cùng Cường đi kiểm tra lại công việc đã làm. Ổn cả. Khó phát hiện ra bởi địa hình địa vật ở đây thay đổi vị trí từng giây. Đá cứ như biết đi. Huy về tới hầm thì trời cũng tang tảng sáng. Cơm nắm trong ba lô, nước uống trong can hai mươi lít đã được vận tải mang lên từ đêm.
Hoàng “dở” ngửi miếng cơm nắm, nhăn mũi nói:
- Cơm thiu!
Cả tiểu đội nhìn nhau rồi nhìn bàn tay còn dính vài hạt cơm, đưa lên mũi ngửi. Có thiu không nhỉ? Thiu thì không nhưng dớt thì có. Sương mù dày đặc suốt ngày, lại đeo trên lưng lính vận tải áo ướt đẫm mồ hôi thì sao không ướt, không dớt.
Phượng nói:
- Có khi dính cả máu. Thằng “dở” chỉ vẽ. Vận tải còn khổ hơn mình, nhông nhông phơi lưng cho pháo nó phạng, qua chỗ yên ngựa trên hang Làng Lò không nhanh thì dính bắn tỉa.
Ướt hay dớt hay thiu thì nắm cơm của Hoàng “dở” cũng không còn. Chỉ khổ Hoàng “dở” không được đánh răng, không được ngoáy tai ngoáy mũi. Nó biết thân phận, chỉ dám đổ một bát nước xúc miệng òng ọc, nhổ phì phì. Nhìn Hoàng “dở” nhổ đi bát nước, Hùng “lùn” ấm ức:
- Sáu thằng chỉ còn mấy lít nước dùng đến sáng mai, mày nhổ đi nhiều thế lấy gì mà uống!
Hoàng “dở” trợn mắt ngạc nhiên, nói:
- Nước lã mà uống á! Không bị sốt rét cũng đi đái rắt suốt đêm.
- Mày không uống để chúng tao uống.
- Đêm có được ngủ đâu mà sợ đái rắt.
Ngủ. Vừa đặt lưng xuống, chưa kịp nghe hết khúc nhạc xương khớp lắc rắc thì đã tiếp đến bản nhạc ngáy khìn khịt.
Cơm nắm ăn với ruốc cá. Mặn như muối. Khô như rơm. Huy mơ mình bị sặc nước, ngực bị chẹn chặt không thở được. Huy thấy mình vùng vẫy trong vũng nước. Nước ộc vào mồm, vào mũi. Huy quẫy đạp cố nhoi lên hít không khí. Huy tỉnh hay mơ nhỉ? Mơ như thật. Huy đã trải qua tai nạn này. Năm Huy sáu tuổi, được về quê chơi. Hôm ấy trời mưa, mấy anh em rủ nhau tắm mưa, chạy đuổi nhau ngoài cánh đồng. Mưa chùm kín trời. Nước ngập trắng đồng. Đâu trời đâu đất, không ranh giới. Các anh lớn tuổi chạy phía trước, mờ mờ ảo ảo.
Hự! Màu vàng đục sóng sánh, nhòe nhoẹt dán chặt vào mắt Huy. Ngạt thở. Huy hít thật sâu. Ngực Huy bị nén chặt. Huy há mồm hớp. Mồm bị bít chặt.
Huy thấy mình bay bay. Rồi ho sặc sụa. Rồi nước chảy ộc qua mồm, xộc qua mũi tanh lòm. Huy từ lưng anh mình được từ từ đặt nằm xuống. Mưa vẫn táp vào mặt rát rạt. Huy ngồi dậy.
Anh họ nói:
- Em mày. Tao đã bảo rồi. Thằng Tú nhà tao thấy nó chạy quay lại rồi.
Anh Huy nói:
- Hai anh em cãi nhau em mày em tao thêm tí nữa thằng Huy chết.
Huy nuốt nước bọt. Đắng ngắt, cổ họng dính sít vào nhau. Không thở được. Huy vùng ngồi dậy. Hơi thở có mùi tanh. Khát quá. Huy lê đít ra can nước, rót một bát đầy. Uống hết bát nước vẫn còn cảm giác thèm uống. Hiện thực hiện về trong giấc mơ.
Xoẹt! … Oành!
Quả đạn cối rơi ngay phía ngoài cửa hầm. Cả năm thằng vẫn ngủ yên. Cứ như ngày đi biển. Sóng rung vỏ tầu, thủy thủ vẫn ngủ yên. Vách hầm có tiếng lụp bụp. Không biết là mảnh cối hay đá văng. Huy lê lại chỗ nằm. Không thể ngủ được, Huy nganh ngánh lắng nghe những tiếng nổ. Bụi đá rơi lả tả xuống mặt.
Hoàng “dở” ngồi dậy phủi mặt, móc tai, ngoáy mũi. Huy hỏi:
- Đã dậy rồi à?
- Có ngủ được đâu. Bụi chui cả vào lỗ mũi. Này anh Huy, lại đây mà xem. Nhìn qua khe đá này như xem phim.
- Đâu?
- Nằm xuống đây, nằm nghiêng lại, nhìn qua khe đá này.
Huy nằm xuống, nhìn qua một khe đá rộng hơn bàn tay.
Hoàng nói:
- Nhìn ra xa xem, trên đỉnh núi đá ấy, không biết đấy bên mình hay bên nó nhỉ.
- Hình như bên mình. Cối nổ kìa, ĐK của nó bắn nhiều thế.
Những đụn khói trắng thi nhau mọc lên như hoa nở. Những đường đạn ĐKZ hồi đêm nhìn vạch lửa đỏ lừ, giờ ban ngày, qua lớp sương mù loe lóe chớp sáng vàng ệch.
- Ngày xưa xem phim chiến đấu của Liên Xô, em chỉ thích những lúc bắn nhau. Nhìn qua khe đá thế này không khác gì xem phim ngày ấy. – Hoàng “dở” nói.
- Ừ!
- Này, anh Huy này, không biết lúc mình nằm dúi xuống tránh pháo có như diễn viên đóng phim không nhỉ?
Phượng thức dậy từ lúc nào, nói chen vào:
- Tao đố diễn viên nào đóng được cảnh ngã dúi xuống giống thực tế.
- Mày có nhìn thấy ai nằm tránh pháo chưa?
- Chưa.
- Thế sao mày bảo không giống?
Phượng không trả lời câu hỏi của Hoàng:
- Sao ngã dúi ngã dụi, ngã vập vào đá tím bầm mặt thế mà không có cảm giác đau nhỉ.
- Ừ! – Huy chăm chú nhìn qua khe đá, ậm ừ trả lời.
Không biết những thằng lính đang chốt giữ trên kia có nghĩ xem mình tránh pháo thế nào không nhỉ. Còn mấy thằng nằm co, nhìn qua khe đá đang cố phân tích sau quả đạn kia người lính đã ngã dúi thế nào để tránh được mảnh.
- Dậy! Ăn tối khẩn trương lên! - Cường đi qua hầm, giục.
Tiệc tùng gì đâu mà phải giục. Nắm cơm đút túi vừa đi vừa ăn lúc nào chẳng được. Bình toong nước giắt lưng, khát thì uống. Anh ta lúc nào cũng phải bài bản, khuôn mẫu, cứ như ở đơn vị huấn luyện. Huy cười, nghĩ thầm, anh ta lẽ ra phải làm tuyên giáo hơn là chỉ huy quân sự. Tuy vậy, Huy vẫn lấy nắm cơm cùng gói ruốc cá ra cửa hầm ngồi ăn. Nắm cơm chiều nay khô, ruốc cá không phải loại bông như lúc sáng, mặn chát. Khó nuốt. Còn thằng nào nằm chùm chăn kín đầu, chưa chịu dậy kia, Huy hỏi:
- Thăng nào còn nằm kia?
Phượng trả lời:
- Thằng Hậu. Nó kêu đau chân.
Huy chui vào hầm, kéo chăn Hậu, hỏi:
- Chân bị sao?
Hậu nhăn nhó, nói rền rĩ:
- Em bị thần kinh tọa, đi nhói lắm.
- Nhói ở đâu? Sao biết thần kinh tọa? – Huy hỏi.
Hậu chống tay ngồi dậy, chỉ dọc sau đùi.
- Ngày ở nhà đã bị mấy lần rồi, chữa chưa khỏi.
Huy quay ra gọi Phượng:
- Bảo đứa nào gọi y tá! – Quay lại nói với Hậu: Thanh niên hai mươi tuổi đầu mà đã liệt chân, uối thế.
Phượng chưa kịp đi thì Đức, y tá đại đội chui vào hầm. Đức hỏi luôn Hậu:
- Đau đâu? Xem nào.
- Bị thần kinh tọa mày ạ. - Hậu nói với Đức.
- Nằm sấp xuống!
Hậu nằm sấp xuống. Đức nắm bóp dọc từ mông xuống đùi Hậu. Đức kết luận:
- Nó bị thần kinh tọa thật, anh Huy.
Huy nói:
- Khám nhanh thế. Mai cho xuống quân y trung đoàn kiểm tra.
Đức vội ngăn lại:
- Không cần đâu anh. Nó bị nhẹ, nghỉ ngơi ít ngày là khỏi.
Huy quay ra nói với Phượng:
- Tối nay để thằng Hậu nghỉ, trông hầm.
Hoàng “dở” vừa ăn vừa nói:
- Mày ở nhà một mình, thám báo mò vào bắt nhét vào bao tải mang sang bên nó thì bỏ mẹ mày.
Hậu run, nói:
- Để em đi.
- Cũng được, mày đi theo cảnh giới. – Huy quyết.
Núi đá lởm chởm thế này, với cái chân tập tễnh thế kia liệu nó có theo kịp. Thỉnh thoảng Huy quay lại nhìn Hậu. Nó quê Tam Đảo, leo núi quen rồi, chân đau nên chỉ đi cuối cùng nhưng không hề bị tụt lại quá xa đội hình.
Mới có một tuần làm hào, quần áo đứa nào cũng nát bươm, không khác gì khoác lên mình mớ giẻ rách. Giẻ rách cũng phải mặc, nếu không muốn để cho đá cào tướp da nát thịt. Nhưng khổ hơn lại là một tuần rồi và có thể lâu hơn nữa không được tắm rửa. Bụi đá trộn với sương mù tạo thành lớp keo quyết lên người. Ngứa ngáy. Gãi như gãi ghẻ. Vậy mà không đứa nào bị ghẻ nước, ghẻ ruồi như ngày ở đơn vị huấn luyện dưới xuôi. Hoàng “dở” có sáng kiến hay, dùng khăn mặt phơi cho ngấm đẫm sương để kì cọ răng miệng, thậm chí để lau người mà không bị mắng vì tội dùng nước nhiều. Nhưng khổ nỗi, cả trung đội duy nhất chỉ có nó mang khăn mặt lên. Đứa nào nhìn nó kì cọ người cũng thèm, cũng tự trách mình biết thế.
Chính xác là năm tháng, Huy không cắt tóc, cạo râu. Một tuần gội sương, gội mồ hôi, gội bụi đá, tóc bết thành từng nọn dính vào cổ, chọc vào vai, người đã ngứa lại càng thêm ngứa. Gãi trầy da. Nếu bây giờ có gương soi chắc Huy thấy mình đang xem phim mà nhân vật là những người thổ dân da đỏ.
Ngày. Xem “phim” qua khe đá mãi cũng chán, mỏi mắt. Vẫn đá trắng, khói trắng, sương mù trắng, chỉ có những đường đạn lửa là màu đỏ. Mỏi mắt ngủ lúc nào không hay. Tỉnh dậy bao giờ cũng tâm trạng băn khoăn, nhìn nhau, không nói cũng biết ý muốn hỏi, hôm nay có bao nhiêu cáng thương xuống.
Đêm. Ôm đá rát bụng. Quỳ xuống đá tướp đầu gối. Không biết nói chuyện gì, mọi người âm thầm làm việc. Những thằng lính làm hào lấn dũi cứ thế này một tháng nữa sẽ quên tiếng mẹ đẻ.
Khổ cho thằng Hậu, đêm nào cũng lê lết chân theo trung đội lấn dũi.
Càng tiến sâu vào trận địa của địch càng phải im lặng. Đá cũng phải xếp nhẹ, tránh tiếng động mạnh. Địch ở ngay trong tầm mắt. Lựu đạn cầm canh trước khi nổ còn nghe rõ tiếng nhẩy lộc cộc trên đá. Lựu đạn nổ, nói như Phượng, nghe phẹt một phát như rắm đĩ. Một đêm nghe bao nhiêu phát rắm đĩ, có đứa nào đếm được không. Phượng nói nhưng đứa nào cũng thèm ngủ hơn là thèm đùa.
Đã hai ngày không phải lấn dũi. Có lẽ sắp được xuống cứ. Ai cũng đoán vậy. Xuống Hà Giang nhất định phải ra chợ khuân vài gánh rau về ăn trừ bữa cho sướng đời. Huy nằm dài, úp mặt vào khe đá. Biết đâu ngày mai Huy sẽ không được “xem phim” nữa. Trên “màn ảnh” vẫn chỉ là những đụn khói đen phụt lên từ triền đá. Đá hôm nay trắng hơn. Có lẽ vì mấy ngày nay không mưa. Hõm đá kia nhất định là ổ ĐKZ. Những đường lửa ngoằn ngoèo vẫn phụt ra từ đấy vậy mà pháo ta không bịt được là thế nào nhỉ. Có tiếng đá lăn lộc cộc ngay cạnh chỗ Huy nằm. Có người đi. Quần đùi. Những bước chân nhẩy ton ton như con dê qua các mỏm đá. Thằng Hậu! Chân nó có việc gì đâu! Nó đi đứng vững vàng, nhanh nhẹn chứ có thần kinh tọa gì đâu! Có lê lết như mấy hôm vừa rồi đâu! Nó khỏi nhanh thế? Huy nghi lắm. Huy bật dậy chạy ra ngoài. Trước mắt Huy, những bước đi của Hậu lại tập tễnh. Chưa kịp trả lời những thắc mắc về Hậu thì Cường đi tới, nói:
- Không phải nghe rắm đĩ nữa nhá.
Tất cả cùng bật dậy, nhao ra ngoài. Hết buồn ngủ. Hùng “lùn” vén cạp quần đùi cho khỏi tụt, chạy đến trước mặt B trưởng hớn hở hỏi dồn:
- Được rút hả B trưởng?
Cường nói:
- Không biết. - Rồi gọi Huy: - Xuống hang Làng Lò họp, Huy ơi!
Hùng “lùn” ngồi tệt xuống tảng đá, lặng thinh. Huy hỏi Cường:
- Họp gì mà đột xuất thế?
- Không biết. Truyền đạt của tiểu đoàn vừa lên báo. Đi luôn thôi!
Huy buộc túm lại ống quần bị rách, vào hầm lấy khẩu AK mang theo.