PHẦN
1
NƯỚC SÔNG VÀNG
- KÌA, ĐỠ CỤ! NGÃ BÂY GIỜ LẠI KHỔ CON KHỔ
CHÁU, MƯA GIÓ ẦM ẦM THẾ NÀY cụ ra ngoài làm gì?
- Mặc tôi! Ra nhìn giời xem đến bao giờ
mới tạnh cho dân làng nhờ, cứ thế này vài hôm nữa thì đám này cũng bị cuốn trôi
đi hết.
Mọi người dồn sát vào nhau để nhường
đường cho cụ Cờ đi ra ngoài cửa. Những bước chân của cụ run rẩy. Ông cụ yếu lắm
rồi, mấy hôm nay chỉ thấy ngồi lặng lẽ, tập trung suy nghĩ điều gì đó lung lắm,
không sởi lởi hỏi han động viên con cháu như mọi khi. Có lẽ tuổi cụ cao quá,
tám lăm rồi còn gì, ăn ở thế này thì làm sao sức khỏe không suy sụp. Nhìn nước
da của bố xuống sắc từng ngày, ông tổng Cò lo lắm. Ai cũng cầu mong cho cụ qua
được cái đận khó khăn này. Nói dại mồm, cụ có nằm xuống lúc này thì tội cho gia
đình cụ đã đành mà còn là họa cho cả làng.
Tờ mờ sáng mồng một mưa bắt đầu đổ xuống,
ông tổng Cò còn nhớ, đó là ngày ông có việc cần lên trình quan phủ nên dậy
chuẩn bị từ sớm. Nền trời đêm đỏ đòng đọc như có mồi lửa đang được nhen lên
dưới lớp xám xịt màu tro của những đám mây trôi vùn vụt. Gà mới gáy canh tư,
không trăng sao mà nhìn rõ từng thân cây đứng lặng phăng phắc như lũ trẻ hoảng
sợ co lại bên nhau của rặng tre đầu làng. Đã sáu mươi tuổi đời, thế nhưng lần
đầu tiên ông thấy bầu trời khủng khiếp thế này, trần gian đang phải sống dưới
một gầm trời nặng trình trịch chuẩn bị đổ sập xuống. Ông tổng lo lắng nhìn trời
đất. Chiều qua trời còn trong xanh thế mà đã thay đổi đột ngột, chẳng đoán định
được sẽ sao. Không sấm chớp, không gió cuốn, những hạt mưa bắt đầu rơi xuống đã
như tảng đá quật tướp tầu chuối. Rồi sẽ mưa phải biết đây, chẳng mấy mà ngập
lụt cả vùng, vợ lại đang bụng mang dạ chửa, bố thì già cả, việc quan có thể lui
lại được nên ông quyết định bỏ chuyến đi để lo việc nhà. Thế rồi, suốt cho đến
hôm nay đã sang ngày rằm mà mưa chưa ngừng lấy được một khắc, nước cứ ầm ầm như
xối như đổ dội từ trên trời xuống. Lại thêm nước từ mạn rừng Vàng tràn về
nhanh, chỉ ba hôm sau cả làng đã ngập trắng băng. Dân làng phải dồn nhau về
đình tránh lụt. Mấy hôm trước nhìn ra cánh đồng Đỗ là vùng đất cao nhất còn
thấy mấy đám lúa ngoi hí hóp lặn ngụp để đoán chừng nước dâng đến đâu, đến hôm
nay chỉ còn thấy mênh mông màu trắng bạc phếch của nước. Vẫn không chớp giật
ngang trời, không sấm động kinh hoàng, chỉ có tiếng mưa rền rĩ như con quái vật
khổng lồ kiên nhẫn đang cố sức nuốt chửng cái làng Trằm nhỏ bé này vào trong
miệng tối om của nó. Nó chưa nuốt trôi được bởi còn đám đất đình này chẹn ngang
họng, con quái vật càng quẫy đạp, nước tuôn xuống càng ngày càng dữ dội hơn để
dễ nghiền nát những sinh linh nhỏ bé đang run rẩy nép vào nhau hoảng loạn.
Ngoài sân đã săm sắp nước, không biết chiều nay hay ngày mai đây nước sẽ tràn
vào trong đình!? Gần hai trăm sinh mạng ngửa mặt lên cầu giời!
Cụ Cờ đưa bàn tay ra ngoài mưa. Những hạt
mưa lạnh buốt đập vào tay cụ rát rạt. Cụ ngửa mặt lên nhìn giời van lơn, hai
giọt nước mắt long lanh như hai giọt keo đọng lại bám dính trong hốc mắt.
- Ông giời có thương dân làng chúng tôi
không! Mưa đến hôm nào mới tạnh đây, chỉ dăm hôm nữa thì cả làng này chết trôi
hết thôi. Chẳng biết đời trước bị tội gì mà tổ tông chúng ta lại chọn vùng đất
này để sinh sống, đời chúng tôi có ai làm việc thất đức đâu mà ông lại vùi dập
thế này cơ chứ!
Tưởng rằng sau tiếng than bố mình sẽ quỵ
xuống, ông tổng Cò vội đưa tay ra đỡ bố. Nhưng cụ Cờ gạt tay con mình ra, trở
nên nhanh nhẹn như trước đây đi lại điện thờ. Cụ quay sang con giục:
- Thắp cho thầy nén hương! Thầy có lời,
trước tiên với thành hoàng, sau rồi với làng xóm!
Ông tổng Cò chắp hai tay trước bụng, ngập
ngừng thưa:
- Dạ, hương không còn ạ! Ngày nào chúng
con cũng thắp hương kêu Ngài, đến hôm nay không còn ạ!
Hai giọt nước mắt của cụ Cờ chầm chậm lăn
xuống gò má. Cụ biết ăn nói với dân làng thế nào đây, phải chăng cái tội tổ
tông của cả làng này phải chịu cảnh đói kém vì lụt lội như thế này? Phải hỏi
Ngài tại sao, phải thống thiết kêu cầu Ngài phù hộ hơn nữa chứ. Cụ đi lại điện
thờ vén tấm rèm tía lên. Sắc vàng của bộ quần áo đặt trên khám bỗng ùa xuống
như ngọn đèn bùng lên ánh sáng lung linh, đẩy lùi bóng tối vào trong góc đình.
Gần hai trăm sinh linh trú ngụ trong đình bị loá mắt, giật mình thảng thốt nhìn
quanh, không biết có chuyện gì đang xảy ra ở đây. Khi tiếng cụ Cờ sang sảng cất
lên: “Lậy ngài!”, thì mọi người mới nhận ra điều linh thiêng đang đến, tất cả
cùng quỳ mọp xuống chắp tay khấu đầu bái lên điện. Ngài về rồi! Phả Cứu Đại
Vương về phù hộ dân làng rồi! Thế là sau bao ngày cầu nguyện Ngài cũng linh ứng
ra tay cứu độ dân làng.
Ngày xưa, Ngài theo Thánh Gióng dẹp trừ
giặc Ân đã nghỉ quân ở đây, ngay trên đám đất đình này. Những chiếc chuôm rải
rác khắp cánh đồng chính là dấu tích vết chân ngựa sắt, còn ao đình là chiếc
giếng giời ban cho ngài lấy nước nuôi quân, chiếc cối đá khổng lồ có thể giã
một mẻ hai chục thúng gạo còn lưu lại ở góc sân đình kia. Từ đời nảo đời nào
đến giờ, người cao tuổi nhất như cụ Cờ nói lại, nước ao đình vẫn trong veo như
mắt mèo, ngọt như nước mưa. Ơn Giời, ơn Ngài đã cho dân làng được hưởng lộc từ
ao đình!
Khổ thế đấy, Trời đã thương lại chẳng
thương cho chót! Dân làng hay tự than thân trách phận như thế. Hễ có trận mưa
rào là cánh đồng lại ngập trắng băng nước, có cắm cây mạ xuống rồi cũng trôi
mất. Chẳng thể cấy hái được, người làng lại phải dầm mình trong nước be bờ đắp
trạch, xì xòm tát vét kiếm con cua con cá làm kế sinh nhai. Quá hè sang thu,
nhà nào có ruộng ở khu đất cao thì đôn đáo cả ngày cả đêm lo nước tưới cho cây
lúa sống được, mới có cái mà ăn để còn tồn tại được trên đời này. Nhưng mà mưa
đâu mà mưa khủng khiếp như lần này, không nhanh chân chạy ra trú vào đình thì
cả làng đã bị cuốn mất xác. Có ai làm nên tội gì mà ông giời gieo hoạ xuống
thế. Hôm nay Ngài về rồi, chẳng biết có phù trợ dân làng từ nay bớt khổ?
Sau ba lần khấu đầu, mọi người chưa hết
bàng hoàng thì sắc vàng lung linh trên khám đã dần dần lùi vào trong rồi tắt
hẳn, nhường lại không gian trong đình cho ánh sáng nhờ nhờ tối trở lại. Thế là
sao? Mọi người ngỡ ngàng, quay nhìn ra ngoài tìm kiếm có điều gì linh thiêng
đến đây. Nhưng ngoài trời vẫn xám xịt, mưa chưa có dấu hiệu ngừng. Ngài không ra tay cứu độ dân làng
sao?! Tiếng thở dài cố nén vào trong ngực. Tội tổ tông của làng này rồi, uy vũ
của Ngài chẳng thể thay đổi được.
Lý Ngang đứng dậy phủi quần, nhếch mép
cười hềnh hệch, hất hàm hỏi ông tổng Cò bằng giọng xách mé:
- Ông tổng đứng gần điện thờ thấy mặt
Ngài thế nào? Khi nãy tôi cố nhìn lên mà chẳng thấy cái gì sất, chẳng biết Ngài
hiển linh thế nào, các người chỉ bày chuyện.
-Anh là lý trưởng của làng, trước đình mà
ăn nói thế nghe sao được.
Ông tổng Cò cố kìm giọng
không để lộ thái độ tức giận của mình về lối nói cá đối bằng đầu của lý Ngang.
Hắn chỉ hơn thằng cả nhà có vài ba tuổi mà lúc nào cũng chỉ muốn bỡn cợt ông
trước dân làng.
-Thì đấy, ông thánh các ông thờ phụng có
linh thiêng thì cái làng này chả khổ!
Ông tổng biết, lý Ngang nói vậy chẳng
phải vì sự hiển linh của Ngài mà là có ý hiềm khích với gia đình ông. Không
biết từ đời nào, có mâu thuẫn gì không mà truyền đời đến nay dù không có xích
mích gì, thế nhưng người của hai gia đình có gặp nhau ngoài đường cũng phải cố tránh
không nhìn vào nhau kẻo rồi để lại hậm hực đến vài ngày sau cũng không nguôi.
Ông tổng là người cả nghĩ, hay đào sâu ngọn ngành mọi việc nên hay để ý suy sét
việc này. Phải chăng mỗi dòng họ đều có tính cách riêng, ông là người không thể
nói được một câu xu nịnh mà không thấy ngượng mồm, thấy mình hèn mọn trước
người được nghe những lời xu nịnh ấy. Còn gia đình nhà lý Ngang, từ dáng đi
bình thường cũng khúm na khúm núm, vai co rụt vào như con giun uốn mình chứ
chưa nói đến chuyện chỉ vì khéo luồn lọt mà có được chức lý trưởng truyền đến
ba đời. Ông ghét nhà lý từ cái dáng đi ấy mà ghét đến cả con người, cả dòng họ,
vậy thì mọi người trong chi họ nhà ông cũng thế thôi chứ chẳng phải là điều gì
bí ẩn cả. Cũng chính vì tính cách này mà cái chức chánh tổng danh giá nhất từ
ngàn đời nay của dòng họ mà ông đạt tới chỉ tại vị được có ba năm. Gia đình nhà
lý Ngang chắc phải hân hoan lắm cho nên thường lấy việc này để bêu riếu gia
đình ông.
Ngôi đình làng được dựng lên công của cụ
Cờ không nhỏ. Mâu thuẫn âm thầm giữa hai gia đình từ ấy càng trở nên quyết liệt
hơn. Trong mọi công việc của làng xã, nhà lý luôn tìm mọi lẽ để làm ngược lại ý
kiến của gia đình cụ Cờ, như để công khai tuyên chiến giữa hai dòng họ.
Năm ấy ông đồ Cờ ngoài bốn mươi, là người
thích giao du nên thường hay đi sớm về khuya. Hôm đó vào ngày cuối năm, thời
tiết đang chuyển mùa, trời mưa phùn lây rây cả chục ngày nay, không khí ẩm nực,
ông đồ dò dẫm bấm chân xuống con đường trơn trụa lần từng bước về nhà cho kịp
ngày ông công ông táo. Đến khoảnh đất đình làng bây giờ đã canh ba, ông đồ ngồi
xuống bên gốc đa, cạnh miếu thờ Ngài, muốn được ngắm nhìn làng xóm trong bóng
đêm để suy ngẫm và so sánh về tình cảnh của dân làng với các vùng đất sau gần
hai tháng đã đi qua. Tại sao ông giời cứ bắt làng mình phải nghèo mãi thế, giầu
nhất nhì làng như nhà ông, như nhà lý Ngao so với thiên hạ chẳng đáng gì. Cũng
nhà ngói cây mít thật đấy, nhưng khác nào gian bếp của người ta. Nói đâu xa,
cùng tổng này thôi, bên Đọ kia cũng đã có vài mươi nóc nhà đắp rồng đắp phượng
rực rỡ, xây được cái cổng làng nguy nga kém gì lầu son gác tía. Nhìn về làng
mình chỉ thấy toàn nhà tranh vách đất, đến chui ra chui vào cũng phải cúi thấp
đầu, khác gì cái chuồng vịt, người dân quanh năm chỉ biết quanh quẩn như con cá
kiếm mồi trong vũng nước làng chẳng đủ ăn. Có người như ông Nhút, cả đời chưa
bước chân sang tới làng Chuông ngay cạnh chứ nói gì đi đâu xa hơn, có người
cũng cố thoát ra vùng vẫy với thiên hạ nhưng rồi chẳng ai khá hơn được. Đã
nghèo rồi lại còn chịu cảnh cô độc nữa chứ, có ai đến làm gì với ngôi làng nằm
chon hon giữa âm u nơi đầu rừng cuối bãi, đường vào thì chỉ như sợi tơ mành
vương chẳng biết đi nẻo nào. Như ông là người thích ngao du, nhưng mới xa có
hai tháng đã thấy nhớ quay nhớ quắt cái vệt trắng của ao đình giữa màu xanh úa
u uất của xóm làng mà từ xa đã nhận ra. Phải chăng định mệnh đã bắt tội ai
người nấy phải chịu chăng mà có cố vượt qua rồi cũng chẳng thể? Ông đồ cảm thấy
tủi, nước mắt lẫn vào nước mưa chẩy tràn trên mặt. Ông đồ thở dài đứng dậy.
Nhìn sang bên kia ao đình, ông giật mình khi thấy trước mắt có những bóng đen
hình người đang lặng lẽ chuyển động. Có lẽ mình hoa mắt do đứng dậy đột ngột,
hay nước mắt và nước mưa làm cho tầm nhìn bị nhoè đi nên bóng những bụi cây
hiện ra như vậy chăng? Ông đồ lấy tay lau mặt, nhìn lại cho rõ. Nhưng lần này
đã trấn tĩnh lại, mắt nhìn không bị mờ lại thấy đoàn người hiện lên càng rõ nét
hơn. Hình như có cả những tiếng nói lao xao như tiếng gió. Ma chăng? Từ trước
tới giờ đã ai nhìn thấy ma đâu, ông đồ tự trấn mình cho đỡ sợ. Nhưng không thể
nhầm được, những bóng đen kia cử động tay chân như một con người. Thế thì là
người hay là ma!? Có con cá vật mình dưới ao đình, nước tung lên bàng bạc trong
đêm. Ông đồ chờn chợn, buột miệng quát: “Ai!”. Sau tiếng quát của ông, bên kia
ao đình lập tức toá lên những đốm lân tinh xanh lét. Khi ánh lân tinh tắt thì
những bóng đen cũng biến mất.
Ngay hôm sau ông đồ kể lại chuyện xảy ra
đêm qua cho mọi người nghe và ông cũng kết luận luôn, đó là quân tướng của Ngài
trở về. Làng ta phải có một nơi thờ tự để tưởng nhớ tới Ngài, để Ngài phù hộ độ
trì cho dân làng mới mở mày mở mặt lên được. Có thờ có thiêng có kiêng có lành,
cứ thành tâm cầu đảo xem sao. Đất thiêng của làng là nơi đây đây, không thế thì
sao mà đã nhiều lần lụt trắng làng mà nơi đây chẳng hề hấn gì. Mái đình còn là
nơi để thiên hạ nhìn vào, có nghèo nhưng không hèn, mình dám ngẩng đầu hãnh
diện thì cuộc sống từ đó mới đi lên được! Ông đồ bày tỏ suy nghĩ của mình đã ấp
ủ bấy lâu nay với dân làng. Lý Ngao tập trung cả làng lại sân nhà mình để vận
động mọi người phản đối ý định của ông đồ. Ông ta đỏ mặt nói gay gắt:
-Mọi người biết dựng đình tốn kém thế nào
không!? Làng mình cái ăn cái mặc còn thiếu, vậy lấy đâu ra tiền của, đi ăn cắp
của thiên hạ chắc! Chỉ cần một cái nghè nhỏ bên gốc đa là thể hiện được tấm
lòng của mình với Ngài rồi. Nếu Ngài là người vì nước vì dân có linh thiêng thì
cũng chẳng vì thế mà bắt tội, chẳng để dân làng phải khổ. Tôi thử hỏi, ở làng
này đã ai gặp ma chưa, thế mà ông Cờ cậy đòi có ít chữ nghĩa định loè dân đen
chúng tôi chắc.
Có không ít người thấy lý lẽ của ông lý
có phần đúng. Dựng đình sẽ tốn kém thế nào ai cũng biết cả, chẳng nhẽ nhà kia
đóng góp mươi thúng thóc nhà mình lại không có một đấu, người đời nhổ vào mặt
cho, trong khi đó phải lo từng bữa vẫn còn đói. Mặc dù rất kính nể ông đồ thế
nhưng trong trường hợp này mọi người vẫn vào hùa theo lý Ngao, cho rằng chuyện
quân tướng của Ngài hiện về chỉ là do ông đồ đi đường xa mệt mỏi hoa mắt nhìn
ra vậy. Sống mấy mươi đời ở làng sao không biết tính cách dân làng mình ra sao,
chuyện đóng góp sẽ gặp phải phản đối nhưng ông đồ không rầu lòng. Ông thử liều
nước đi cuối cùng, đứng lên trước mọi người quả quyết:
-Nếu mọi người không tin, đêm nay ra gốc
đa cùng tôi!
Ông đồ nói xong mới hối lại, bởi sự việc
ấy chưa được kiểm chứng chắc chắn nhỡ ra đêm nay bóng đen không xuất hiện thì
sao. Khi đó bao nhiêu lòng tin của dân làng với gia đình ông sẽ bị đổ trôi hết.
Nhưng mình đã vận động bà con thì lời nói của mình phải xác thực, mọi người
phải thấy rõ được sự việc nếu không thì là loè mọi người như lời lý Ngao nói à.
Tối đó, những ai muốn được tận mắt nhìn
thấy quân tướng của Ngài ông đồ bắt phải tắm rửa sạch sẽ, rồi ra cánh đồng đứng
dầm mưa cho hết hơi người. Đến canh ba, hơn chục người theo sau ông lặng lẽ
tiến đến gốc đa. Lần đầu tiên trong đời, mà có lẽ cũng là người đầu tiên trong
nhiều đời của gia đình ông phải đối mặt với bộ mặt lưỡi cày, nét mặt đặc trưng
của gia đình lý Ngao vênh vác thách thức, đã phải cố nín nhịn không vạch trần ý
đồ xấu xa của ông ta, lại nhìn những tia nước bọt bắn ra sau mỗi câu nói, cặn
trắng đùn ra hai bên mép của ông ta ông đã thấy kinh tởm. Thế mà lúc này đây
hơi thở khò khè sền sệt nước dãi, đậm mùi xác chết của hắn ngay sau gáy khiến
ông buồn nôn. Hình như hắn ta đang run lắm hay sao mà thỉnh thoảng tay lại bám
níu vào tay ông nhưng lại lập tức rụt lại, có lẽ là xấu hổ. Da tay hắn lạnh và
trơn nhẫy như da rắn. Con người hèn mạt, ông càng khảng định hơn nhận xét của
mình khi da thịt của hắn ngay kề. Có lẽ cả gia đình
nhà ông cũng cảm nhận ra điều này. Linh cảm chăng? Mải vướng bận vào cái ý nghĩ
hằn học với lý Ngao nên ông quên mất việc quan trọng hơn cần làm. Cho đến khi
ai đó run rẩy thốt lên:
-Có phải kia không ông đồ?!
Những bóng đen đã xuất hiện, đúng y như
những gì đêm qua ông nhìn thấy. Bây giờ thì lý Ngao thực sự run, miệng lắp bắp:
-Lậy Ngài!... Ngài...hiển linh, xin...xin
phù hộ độ trì!
Ông đồ không còn sợ như đêm qua, hãnh
diện đứng thẳng người bắc loa tay hỏi sang bên kia ao:
-Lậy Ngài! Có phải Ngài hiển linh đó
không!?
Vừa dứt lời, ánh lân tinh xanh lét lại
toá lên. Những bóng đen dần biến mất trong ánh lân tinh lả tả rơi xuống. Chỉ
còn lại đêm thẫm trước mặt, ông đồ quay lại hỏi lý Ngao nấp sau lưng mình:
-Ông lý đã tin hay chưa? Trước thánh thần
ông đừng có phỉ báng nữa mà mang tội. Tôi cũng chỉ nghĩ tới dân làng thôi chứ
chẳng phải riêng gì cho gia đình tôi cả.
Ông đồ muốn vạch mặt lý Ngao trước mặt
dân làng cho hả. Rằng lý Ngao không muốn dựng đình bởi mỗi khi có việc làng mọi
người phải tập trung đến sân nhà mình, để rồi mọi người phải mang ơn gia đình
nhà lý, coi nhà lý như đất thiêng của làng và tinh ranh hơn là bao nguồn lợi
của làng sẽ tập trung hết về đây. Ông đồ kìm lòng, có nói ra sẽ lại tăng thêm
xích mích giữa hai gia đình, rồi dân làng cho mình là người cố chấp, trước sau
thì mọi người cũng sẽ hiểu ra, việc dựng đình coi như đã thành công bước đầu
thế là toại nguyện rồi. Đây lại là một tính cách riêng của gia đình ông, không
muốn phải tranh chấp với ai.
Đời này chưa dựng được mái đình nguy nga
thì rồi đời sau sẽ làm được, những người đi trước cứ thể hiện cái tâm của mình
đã rồi con cháu sẽ biết đấy mà làm lên. Làng còn nghèo thì đình mái tranh vách
đất cũng được, thiên hạ chẳng vì thế mà chê trách. Nghèo nhưng làm sao dân làng
phải biết sống cho đàng hoàng, phải biết hãnh diện trước bàn dân thiên hạ,
người ta nhìn vào mái đình có nể phục hay không trước tiên là nhìn vào cách ứng
xử đó. Đó là lý lẽ mà ông đồ đưa ra bàn trước hội đồng tiên chỉ của làng. Bây
giờ ông đồ có đưa ra ý kiến gì thì mọi người đều nhất trí, có người còn cho
rằng Ngài đã mách bảo ông việc này. Lý Ngao từ hôm nhìn thấy quân tướng của
Ngài khi gặp mặt ông đồ đều cúi đầu chào lễ phép. Dân làng nhà góp bụi tre, nhà
góp đống rơm, nhà góp đấu gạo, nhà nghèo quá xin được góp công sức... để dựng
đình. Còn điện thờ, lý Ngao sẽ đảm nhận tất từ hương án đến khám đặt bài vị,
rồi cả bộ triều phục đầy đủ cả. Phần việc này lý Ngao không để cho ai góp cùng,
bởi có vậy Ngài mới hiểu hết lòng thành tâm của mình được. Ở cao xanh Ngài nhìn thấy hết cả đấy.
Nhưng dù có đóng góp thế nào đi chăng nữa
công lao dựng lên ngôi đình người được nhắc đến nhiều nhất vẫn cứ là ông đồ.
Đời lý Ngao nể sợ ông đồ chứ đến đời lý Ngang lại vẫn thế thôi, truyền kiếp rồi
cứ phải hậm hực thù ghét nhau. Nếu ngài có linh thiêng thì đến hôm nay mái đình
cũng đã được lợp ngói đoàng hoàng, dân làng đã chẳng phải chen chúc dưới gầm
trời sũng nước mưa, dưới nóc đình sập sệ tồi tàn, lại còn mấy ngày nay có đứa
trẻ không được miếng cháo nào đang khóc hết hơi, khản tiếng như tiếng con mèo
hen kia, Ngài không thấy sót ruột sao. Ngồi vạ vào đám nào là lý Ngang lại châm
chọc như vậy, Ngài có hiển linh thì bắt tội những ai đã gạ gẫm dân làng làm
đình để rồi năm đó có nhà phải thiếu ăn. Lúc mọi người cho rằng ánh sáng vàng
trên điện thờ ùa ra lý Ngang có sợ thật, nghĩ rằng Ngài đã hiển linh, thể nào
Ngài cũng bắt tội mình nói xằng, thế nhưng đến lúc mọi người thì thào cho rằng
ánh sáng vàng đang lui vào trong thì cũng là lúc lý Ngang ngẩng đầu lên để xem
mặt Ngài thế nào. Chẳng có ánh sáng nào cả, chẳng có Ngài nào hiển linh cả,
thần hồn nát thần tính cả thôi, đói quá nhìn vào sắc vàng của bộ quần áo trên
ngai nên mắt hoa đấy mà, cho nên lý Ngang mới mạnh mồm châm chọc ông tổng Cò
vậy mà không sợ mang tội. Lý Ngang dạt mọi người ra, đi về chiếc phản gụ kê ở
góc đình, nơi dùng cho các vị chức sắc ngồi bàn việc làng việc xã nay dành
riêng cho gia đình nhà lý Ngang nghỉ ngơi. Khi đi ngang qua nơi gia đình cụ Cờ,
lý Ngang ngầm huých chân vào lưng chị đĩ Nhụ, con dâu cả của ông tổng Cò, đang
ngồi buồn gục mặt xuống đầu gối.
Không cần ngẩng đầu lên nhưng chị đĩ Nhụ
cũng biết ai vừa huých chân vào lưng mình. Hắn đi tới đâu, cái mùi hôi nách
nồng nặc như mùi gián đã vẫy cánh bay lên trước ai mà không nhận ra. Giữa lúc
rối ruột thế mà vẫn còn nghĩ đến chuyện ấy, cái loại rồ như hắn khiến đàn bà
phát sợ thế nhưng mỗi khi hắn ỡm ờ thì ở làng lại khiến không ít loại đàn bà
như chị cứ thèm thuồng xán vào. Đã nhiều lần chị đĩ Nhụ cố cầm lòng dứt ra khỏi
hắn nhưng lại chẳng đừng mỗi khi cái bàn tay lạnh và trơn như da rắn ấy đụng
chạm vào da thịt mình. Chị đĩ Nhụ buông tiếng thở dài thườn thượt, chống tay
đứng dậy chuẩn bị bữa cơm chiều. Gạo mang theo hôm chạy lụt chẳng được bao
nhiêu, không dè xẻn thì rồi nhà cũng lâm vào cảnh đói ăn như mọi người. Đã vậy,
cụ Cờ bữa nào cũng bớt lại một phần cho những đứa trẻ nhà khác. Thây kệ người
ta chứ, thân mình không lo cứ lo chuyện người dưng. Về làm dâu nhà này hơn chục
năm rồi nhưng chị đĩ Nhụ vẫn thấy hậm hực, không thể chịu nổi khi thấy nhà
chồng ai cũng tỏ ra hào phóng với thiên hạ. Mà công việc ruộng vườn ở nhà này
chỉ rặt những đàn bà con gái quán xuyến cả chứ trông cậy gì được hai ông con
trai quanh năm vắng nhà, đến như nửa tháng nay lụt lội thế này biết có mất xác
ở đâu không mà chẳng thấy tin tức nữa. Ông thì già cả, lại được bà mẹ chồng năm
mươi ba tuổi rồi còn bụng chửa vượt mặt, chả thể nói trước được nhỡ đâu đẻ đúng
vào ngày này thì rồi việc lại đến tay mình chứ còn ai nữa. Có năm cô con gái,
ba cô lấy chồng xa chẳng trách làm gì, một cô lấy chồng làng cũng chỉ biết lo cho
gia đình nhà chồng, cô út mới tám tuổi thì khác gì có thêm đứa con thơ. Mà sao
già rồi, đã là ông bà có cháu nội mười ba tuổi rồi mà còn khoẻ, chuyện chăn gối
vợ chồng vẫn cứ dồi dào như nước lụt là thế nào. Chẳng nhẽ mình mới ba mươi mà
cứ để đêm nằm ổ rơm vẫn thấy lạnh thấu xương. Cái mùi hôi gián trên người lý
Ngang thoảng qua ngửi thấy chỉ muốn nôn, thế nhưng mới có một lần hắn luồn tay
bắt hộ con đỉa ở kheo chân thôi mà cái mùi hôi ấy lâu không ngửi lại thấy thèm.
Những lúc ấy, hắn không vồ vập như chồng mình, cũng không hừng hực như mọi đàn
bà hay tưởng tượng ra, mà cơ thể hắn trơn nhẫy như một con rắn trườn bò trên da
thịt mình buồn buồn, rờn rợn. Có lẽ cái cảm giác rờn rợn tuy sợ đấy nhưng đàn
bà là vậy, phải bị khuất phục mới là hạnh phúc.
-Cứ mưa thế này chỉ ba hôm nữa thì gạo
cũng hết, cụ bảo nấu cháo cho mọi người cùng ăn thế thì phải rút mái đình xuống
để mà đun à, lúc ấy chỗ trú chẳng còn thì khốn khổ hơn. - Chị đĩ Nhụ vừa thổi
lửa vừa nhấm nhẳng với cụ Cờ.
Cụ Cờ biết tính cháu dâu, âu nó cũng vì
gia đình chồng thôi cho nên ăn nói chòng lỏn thế cụ không lấy làm bực.
-Lúc này không thể chỉ nghĩ tới bản thân
mình được, phải nấu cháo thì mới đủ cho những nhà khác nữa, còn cái đun thì bảo
thanh niên bơi ra kéo củi trôi ngoài kia vào mà dùng.
Ấm ách trong lòng thì vùng vằng làm mình
làm mẩy thế thôi chứ đã nấu phải cho ngon, chị đĩ dim nhỏ lửa vừa đủ để nồi
cháo sôi lăn tăn, có thế hạt gạo mới chín rền. Đôi đũa cả trong tay chị kiên
trì đánh thật đều, thật nhuyễn, cho thêm mấy hạt muối, múc ra bát để riêng cho ông và bố chồng, còn
đâu chị đặt ra cạnh cửa đình mời mọi người cùng ăn. Trong lòng chị đĩ Nhụ
thương những con người nhà chồng lắm, nhưng còn cái chuyện chị lòng thòng với
lý Ngang cũng bởi hoàn cảnh. Chị không sao hiểu nổi mình, tại ma quỷ xui khiến hay bùa ngải gì chăng mà trong người chị cứ thấy
hừng hực thèm khát. Chị múc thêm một bát mang lại cho mẹ chồng. Bà có vẻ mệt
hơn hôm qua, ngồi tựa cột thở khó nhọc.
-U ăn cho nóng. Dễ thường u sắp sinh em
rồi, cố ăn còn lấy sức mà rặn.
-Tôi lo lắm, ông trời mưa gió thế này,
đầu lại thấy váng vất, chẳng biết có vượt được.
-U cứ nói gở, u già rồi nó thế.
Nói rồi chị đĩ Nhụ ngồi thần người nghĩ
về bản thân. Lẽ nào mình cũng giống u, năm ba tuổi rồi mà chuyện ấy chẳng hết,
cái số nhà chồng mình lấy phải toàn người như thế. Chẳng biết hồi còn sung sức
u có khi nào “dại dột” như mình. Chắc là không, chị đã nhiều lần săm soi để ý
từng lời nói, từng bước đi của u, chưa khi nào chị thấy có ánh mắt đưa ngang
hoặc đi ngang về tắt không minh bạch. Những anh chị em nhà chồng, ai cũng giống
bố như đúc cùng một khuôn chẳng lẫn vào đâu, cả cái tính lầm lì ít nói cũng
thế. Mà sao những người đàn bà như chị cứ thèm được nghe những lời mật ngọt rót
bên tai. Đã hai tháng không được gần chồng, mà nhà lý Ngang cũng tỏ ra thờ ơ,
chị đĩ Nhụ thấy trong lòng ấm ức, cái lũ đàn ông chỉ chỉ biết tham vọng cho bản
thân, còn phận người đàn bà thui thủi xó nhà như con gà kiếm ăn quanh quẩn
trong vườn chẳng được để ý tới. Chị không thể suốt ngày suốt tháng cặm mặt
xuống ruộng như u được. Chị đĩ Nhụ khi còn con gái là người thích ngao du cho
nên mới gặp được anh Dược ở hội Lim bên Kinh Bắc và chỉ tháng sau đã nên vợ nên
chồng. Lấy chồng rồi, có muốn mặc lại bộ mớ ba mớ bẩy để nhớ lại những ngày vui
vẻ hội hè cũng không dám, chị chống cuốc đứng thẫn thờ nhìn về hướng Bắc. Thẫn thờ đến nỗi để
đỉa bám vào bắp chân hút no mòng cũng không biết, để rồi lý Ngang đi qua luồn
tay xuống dứt con đỉa ra, dứt mạnh tới mức chị đổ xiêu vào cái cơ thể hôi rình
mùi gián ấy đã mấy năm nay chẳng thể rời.
Bà cụ ăn cố hết bát con gà cháo, hơi thở
nhẹ nhàng hơn, chị đĩ bớt lo, trong bụng khấp khởi mừng, chắc đêm nay sẽ không
phải nâng giấc vất vả như mọi đêm. Phải ra ăn bát cháo để còn lấy sức, mình gục
xuống bây giờ thì gia đình này còn biết trông cậy vào ai. Nhưng từ sáng tới giờ
cũng đã có hạt cơm nào vào bụng đâu mà sao vẫn còn ngang dạ, chị đĩ ngồi tựa
vào cột đình cạnh bên u, cố nén tiếng thở dài vào sâu trong ngực, mệt mỏi nhìn
ra cửa. Chị đĩ Le em chồng, thay mặt gia đình múc cháo cho mọi người, tiếng vét
đáy nồi quèn quẹt mà vẫn còn nhiều người chưa được bát nào. Khổ thân chưa kìa,
ông cụ Cật chỉ húp có vài húp còn lại đổ vào miếng lá chuối quấn sâu kèn. Cụ
len lén giấu sau vạt áo để phần mang về cho người ở nhà. Nhà Bân thậm chí không
ăn, đổ luôn bát cháo vào vạt áo mang về chỗ gia đình mình. Dáng đi của anh ta
lúc cúc như chú gà trống kiếm được miếng mồi. Bốn đứa con nhà Bân xúm lại múc
cháo ở vạt áo bố ăn ngon lành. Thế thì chị còn lòng nào mà ăn.
Bây giờ là mấy giờ, đã nửa tháng nay chẳng ai có
thể đoán định được thời giờ. Nhưng hôm nay, vẫn còn nhọ mặt người mà trong đình
đã yên lặng như mọi người say ngủ thế. Không còn tiếng than thân trách phận của
người già, không tiếng khóc thều thễu của bọn trẻ, lũ thanh niên cũng không tụ
tập vào góc đình cười ré lên vô lo. Phải chăng ông giời đã hành dân làng này
đến mệt mỏi, chán nản lắm rồi sao, hay họ thất vọng bởi Ngài chẳng ra tay cứu
giúp. Chị đĩ Nhụ nhìn quanh, ánh mắt bỗng gặp phải tia mắt của cô Thị. Cô út
hiện giờ của nhà chồng, mới tám tuổi nhưng không ai dám gọi cô là trẻ con, bởi
ánh mắt lúc nào cũng thấy buồn bã nhìn vời vợi về phía xa. Không ai dám nhìn
thẳng vào đôi mắt của cô bé Thị, họ sợ như là nhìn thấy được nỗi nhọc nhằn của
chính cuộc đời mình trong đó. Cô bé Thị ngồi ôm gối nhìn miết ra ngoài mưa
nhưng chị đĩ vẫn cảm như ánh mắt ấy đang xoáy sâu vào tâm can chị khiến chị cụp
mắt xuống lảng tránh. Đêm nay chị muốn đến với lý Ngang, nhưng liệu có dám
không khi ánh mắt của cô út có thể lắm nhìn thấu cả đêm đen như bọn thanh niên
vẫn đồn thổi? Chị đĩ gục đầu xuống gối, hiếng mắt nhìn về nơi gia đình nhà lý
Ngang. Góc đình dành cho nhà lý Ngang rộng thênh, chẳng ai dám lại gần. Họ đang
ăn cơm. Mùi cơm gạo chiêm bầu thơm lừng. Thằng Ngà, con trai trưởng của nhà lý
gỡ xương con cá mè hồi chiều nhà anh trương Bân lội ra ngoài mưa bắt được đem
biếu. Mùi cá mè luộc chưa được kỹ lại không có gia vị, tanh nồng.
Nhà lý ăn ở độc địa như vậy mà chẳng phải
ai cũng ghét. Đấy là cách sống của nhà người ta, ảnh hưởng gì tới mình, mà thậm
chí mình còn được lợi nữa thì ghét gì. Như nhà trương Bân đấy chẳng họ hàng
thân thuộc gì, kiếm được con cá cũng mang biếu nhà lý. Còn nhà mình đây, nấu
cháo cho mọi người ăn liệu rồi có ai biết ơn hay ăn xong quẹt mỏ là hết. Cuộc
đời cứ dở ngang dở ngược như thế cho nên chị mới phải lòng lý Ngang, cũng chả
trách.
Mải nghĩ vẩn vơ đến khi nhìn lên thì bóng
đêm trùm xuống tối mò từ lúc nào không hay. Ai đó ngầm dẫm vào chân mình ý tứ.
Lại nhà lý chứ ai. Cái mùi hôi gián ấy đang bay lượn phía trước. Chị đĩ Nhụ hồi
hộp nhìn quanh, không biết cô Thị còn ngồi chỗ khi nãy hay không, đã ngủ hay
còn chong mắt nhìn vào đêm? Không chị sẽ không đi theo cái mùi hôi gián phía
trước kia nữa! Chị ngồi nép vào cạnh chiếc chõng. Mẹ chồng đã ngủ say, hơi thở
đều đều. Cái mùi hôi gián kia bay lại gần chị, rồi lại thêm một cái giẫm nhẹ
vào chân ý tứ. Chị chỉ nhìn thấy toàn bóng đen trước mặt mà sao hắn lại tinh
thế, nhìn thấy cả bàn chân chị khuất sau lần váy. Hay là hắn cũng nhìn thấu màn
đêm như cô Thị? Hắn là ma à! Chị đĩ Nhụ đứng dậy tấp tểnh bước theo như bị ma
gọi. Đi thế này không được, sẽ bị ai đó nhìn thấy ngay, chị đĩ ngồi xuống nhẹ
nhàng lê từng bước chân thăm dò, nếu có đụng phải ai chị ngồi im xem phản ứng
của người đó thế nào đã rồi mới đi tiếp. Cái mùi hôi gián định hướng cho chị đĩ
đi tới đích. Chị chưa kịp phân biệt mình đang ở chỗ nào trong đình thì một bàn
tay lạnh và trơn như con rắn trườn vào bên cạnh sườn. Chưa lần nào chị bị giật
mình vì những hành động bất chợt thế này của lý Ngang. Chị bị vô cảm chăng hay
chai lì với cuộc đời rồi, chị hay tự vấn mình mỗi lần chót “dại dột” với lý
Ngang. Nhưng chị vẫn buông một câu như một người đàn bà thông thường:
-Khiếp! giật nẩy mình. Đang ở chỗ nào
thế?
Lý Ngang ghé sát miệng vào tai chị đĩ thì
thào:
-Nói to thế! Ở dưới gầm điện thờ.
Chị đĩ Nhụ lần này không còn vô cảm được
nữa, giật nẩy mình, hoảng hồn co dúm người lại:
-Chết thật, ở đâu không ở, chỗ này Ngài
bắt tội vật chết cả họ.
-Ngài nào thì ngài, khi sống cái chuyện
này chẳng ai đừng. Cô không nghe chuyện cả thần tiên lẫn ma quỷ đều như thế này
cả sao, có gì phải sợ. Mà cái ông Ngài của họ nhà cô dựng lên có thiêng gì!
-Thôi im đi! Tôi sợ lắm!
Chị đĩ Nhụ muốn chuồi ra nhưng bàn tay lý
Ngang đã luồn vào dưới váy thì chị chẳng thể cưỡng nổi. Tiếng thở ừ hữ như
tiếng chó rên của lý Ngang bên tai lại lần nữa khiến chị đĩ hoảng sợ ngồi bật
dậy co dúm người:
-Không sợ bị tội với Ngài nhưng thở to
thế bên ngoài kia nghe thấy thì chỉ có bỏ làng mà đi, cứ ừ hữ như con chó!
-Ngài đang che chở cho mình rồi, mưa to
thế này thì có hét lên cũng nghe thế chó nào được.
Lý Ngang nhào lại lộn váy chị đĩ lên, đè
ngửa chị xuống. Hơi ẩm của đất thấm qua lần áo lành lạnh khiến chị đĩ Nhụ không
thấy mình u u mê mê như mỗi lần trước, chị trừng mắt nhìn vào khối đen nặng nề
đang từ từ dấn lên người nặng trịch đến nghẹt thở. Cơ thể chị bé nhỏ, yếu đuối
cố dướn lên vùng vẫy để thoát ra khỏi mớ hỗn mang nhưng chẳng thể. Chị bất lực
với chính cuộc đời mình.
*
* *
ĐANG LÚC CHỊ ĐĨ NHỤ CỐ VÙNG
VẪY ĐỂ THOÁT RA KHỎI THÂN HÌNH NHỚP NHÚA mùi hôi gián của lý Ngang thì bất chợt
một tiếng thét đau đớn vang lên. Tiếng thét bật lên xé toang màn đêm như tiếng
sét. Những đốm lửa được nhen lên run rẩy rồi trong chốc lát bùng lên sáng rực
khắp gian đình. Chị đĩ co chân đạp lý Ngang, vùng dậy chạy bổ về trái đình,
sống áo còn quên không vuột lại cho ngay ngắn. Linh cảm của người đàn bà báo
cho chị biết, u đã chuyển dạ đẻ. Chị xô dạt đám người đang vây xung quanh chiếc
chõng, nhào lại nâng vai u dậy. Sao cơ thể u lại nặng thế này! Người chị oằn
xuống cố sức nâng u lên. Chỉ có cơ thể người sắp chết mới nặng thế. Không,
không phải, tại mình mệt mỏi quá đấy thôi, tại cái chuyện đồi bại khi nãy mà
mình bị mắc tội, Ngài đang quở phạt mình đấy thôi. U còn khoẻ lắm phải không u.
U mà nằm xuống đây thì cả đời con không rửa hết tội. Chị đĩ gục đầu vào mái tóc
u khóc nấc lên.
-Chị đĩ, đừng khóc nữa đi!
Tiếng bé con dứt khoát
nhưng dịu dàng bên cạnh, chị đĩ ngẩng lên nhìn. Cô Thị đấy âu! Hôm nay tôi mới
dám nhìn thẳng vào mắt cô, thì ra cô là con người dịu dàng sống tình cảm lắm.
Tha lỗi cho tôi, cô nhé!
Nằm cạnh u, đang ngủ say
thì tiếng thét bật lên khiến Thị choàng tỉnh. Mới tám tuổi, khi tiếng thét đau đớn của u bật lên khiến cô
nhận ra nỗi đau của đời người đàn bà. Thị gào lạc giọng:
-Thầy ơi!
Rồi Thị nhao lại ôm lấy cơ
thể u đang oằn lên cố cưỡng lại không để cho mình bị truội khỏi cõi đời. Đôi
tay nhỏ bé, yếu ớt của Thị chỉ biết ôm chặt lấy hai vai u, cố giúp u níu lại
với cuộc đời mình. Khi bàn tay nhớp nhúa mồ hôi của chị đĩ Nhụ chạm phải tay
mình, Thị chờn chợn, rùng mình chút nữa tuột tay khỏi vai u. Chị đĩ đi đâu, làm
gì mà mãi lúc sau mới thấy có mặt Thị không biết, thế nhưng khi tiếng cọt kẹt
của chiếc chõng khẽ khàng rên lên, tiếng người chuyển động như tiếng gió thoảng
qua thì Thị đã đoán chừng có những chuyện không hay về chị. Chuyện không hay
thế nào thì với tuổi của Thị không thể hình dung ra được khiến cho những ý nghĩ
bức bối xuất hiện dằn vặt, khiến cô thao thức mãi. Kiếp đàn bà ở làng này cô
đơn vậy sao mà cứ phải vật vã trong đêm. Cả u cũng thế, đến lúc sinh nở cũng
phải chọn đúng lúc đêm hôm mưa gió, lụt lội thế này. Nhưng sao bàn tay chị đĩ
lại run thế này, Thị nắm chặt bàn tay chị đĩ như sợ rồi chị cũng bị tuột khỏi
cuộc đời này mà trôi đi mất. Nhiều khi thấy ánh mặt chị đĩ hoảng hốt, thất
thần, nhìn ai cũng như van lơn Thị thấy thương chị. Chị ấy cũng khổ lắm
-Hai cái cô này có im đi
không nào, để tôi còn làm!
Hai chị em muốn khóc nhưng
có khóc được đâu mà chị đĩ Hồi gắt gỏng. Trời lạnh mà trên mặt chị đầm mồ hôi.
Chị vén váy u lên bảo Thị giữ lấy.
-Giặn mạnh vào nào! – Chị
đĩ Hồi giục u: - Cố đi! Mạnh vào! Thằng cu hay cái đĩ đây, sắp ra rồi, bà cố
lên!
Chị Đĩ Hồi dùng hai bàn
vuốt xuôi xuống bụng u, mắt lo lắng nhìn chăm chắm vào khe giữa hai chân u. Chỉ
có chị mới biết tình trạng của u thế nào.
-Ra đến đây rồi! Cố chút
nữa thôi nào!
Thị thấy đầu đứa bé đã ra
được một đoạn rồi dừng lại. Chị đĩ Hồi gào lên:
-Sao lại dừng lại! Mạnh lên
lần này nữa là ra rồi, không cố được à! Bà giết con bà đấy!
Chị đĩ Hồi nhìn vào mắt u
để động viên và cũng để mong u tha lỗi cho việc mình cần phải làm ngay tức khắc
không thì nguy cho tính mạng của đứa bé và bà đẻ. Nách chị kẹp chặt một bên
chân u, tay trái giữ chặt chân bên kia, rồi chị đĩ lách bàn tay phải vào trong
cửa mình u. U thét lên đau đớn cùng cực lắm khiến mọi người xung quanh không
cầm được nước mắt. Họ thương cho u và thương cả cho chính họ nữa. Lôi được đứa
bé ra, bàn tay chị run cầm cập, bế đứa bé không vững nữa phải trao ngay cho chị
đĩ Nhụ.
Chị đĩ Nhụ ghé miệng vào
mũi đứa bé mút sạch dớt dãi. Đứa bé thở hổn hển rồi khóc thét lên lanh lảnh.
Tiếng khóc như thứ ánh sáng khác bừng lên thay cho ánh lửa bập bùng đỏ quặch.
Trời sáng rồi kìa! Ai đó reo lên mừng rỡ. Tất cả đều quay đầu nhìn ra ngoài.
Màu trắng bàng bạc từ bên ngoài đang lách qua khe cửa tràn vào trong đình. Hình
như tạnh mưa rồi hay sao bà con ạ! Đúng rồi! Tạnh mưa rồi! Mải để ý đến bà tổng
Cò sinh con nên không ai nhận ra tiếng mưa rền rĩ đã dừng từ khi nào. Mọi người
chen nhau ra ngoài để được tận mắt chứng kiến ông
trời đã nương tay tha không đầy đoạ dân làng nữa.
Chỉ còn gia
đình ông tổng xúm quanh bên mẹ con bà tổng. Bà tổng đã bớt đau đớn nhưng máu
nơi cửa mình vẫn còn ri rỉ ra ướt đầm cả chiếc áo để lót dưới mông. Ông tổng lo lắng:
-Không cầm máu được thì
nguy mất!
-Làm sao bây giờ, thầy? –
Chị đĩ Nhụ biết chuyện gì đang xảy ra với u chồng.
-Kiếm đâu được ngải cứu
đây, nước ngập nửa tháng thì cây gì sống nổi nữa. Ra gọi thằng Sức lại thầy
nhờ! Còn cái Le, cạo ít nhọ nồi hoà vào bát nước để u mày uống xem sao.
Thị ôm em trong lòng.
Thương đứa em tội nghiệp muốn được khóc to lên cho hả nhưng không khóc được,
đôi mắt của cô nhìn đăm đắm ra khoảng sáng nhờ nhờ ngoài ô cửa. Phía đuôi mắt
của cô chau lại những vết nhăn đau khổ của người đã trải qua những thử thách
khắc nghiệt của đời người. Đứa em rúc đầu vào ngực chị muốn tìm nguồn sống cho
một đứa trẻ nhưng không được, cái miệng hớp hớp như miệng con hến. Nó ọ ẹ khóc
rồi thiu thiu ngủ.
Sức là con rể của ông tổng
Cò chạy lại, bẩm:
-Dạ! Thầy gọi con có việc
gì?
-Con cái Nhất đã đỡ sốt
chưa? Cứ để đấy cho thầy lo, anh xem liệu có thể đi được tới Đồng Trung không,
ở đấy chắc không bị lụt, kiếm cho thầy ít lá ngải, ít tía tô không thì u anh
nguy mất.
Bà tổng gượng dậy gọi
chồng:
-Có mệnh hệ gì tôi chịu,
ông đừng bắt tội chúng nó, nhỡ ra làm sao thì tôi lại mang hận cũng không thể
sống nổi đâu. Cầu trời cho tôi qua được đến lúc nước rút hết là toại nguyện
rồi!
-Bà nằm xuống! - Chị đĩ Nhụ
cầm hai cổ chân u khép chặt lại, giơ cao lên.
Sao ông tổng không biết,
anh cu Sức có giỏi bơi lội thật đấy nhưng đi qua cánh đồng Phệ rộng mênh mông
lúc này cũng nguy hiểm lắm. Anh cu Sức đi rồi khiến ông thêm một nỗi lo nhưng
chẳng nhẽ ngồi nhìn bà ấy chết dần mà không cố sức cứu. Dù anh cu Sức có qua
được nhưng liệu có kịp về, chỉ chừng vài giờ nữa thôi không cầm được máu thì
tính mạng bà ấy nguy. Bát nước nhọ nồi cũng chẳng có tác dụng gì, ông tổng nhìn
vợ bất lực, mệnh trời giáng xuống gia đình thế nào đây! Cụ Cờ lo lắng đến nghẹt
thở, lồng ngực đau nhoi nhói nhưng vẫn phải cố chịu không để mọi người thấy
thêm lo lắng. Cụ vạch chiếc chăn ra nhìn mặt cháu:
-Thằng bé giống mẹ nó quá,
sống mũi cao này, cái trán phẳng này. Đặt tên cháu là gì đây.
Cụ Cờ vừa dứt lời thì Thị
đã ngẩng lên, ánh mắt đanh lại, nói dứt khoát như một câu mệnh lệnh:
-Đặt tên em là Sơn!
Cụ Cờ rân rấn nước mắt nhìn Thị. Cái con đĩ Thị mới từng ấy tuổi đời mà đã
suy nghĩ già giặn như người lớn. Nó khát khao mong muốn từ nay dân làng không
phải chịu cảnh đồng trũng lụt lội nữa đây. Nhưng liệu các Ngài có giải thoát
cho không? Đôi mắt của nó lúc nào cũng nhìn thăm thẳm về phía xa, thẫn thờ và
bất lực như đôi mắt của thầy nó nhìn vợ chết dần mà bài thuốc chữa trị mình có
trong tay cũng đành chịu thua số trời, ánh mắt phải chịu đựng nỗi đau đớn của
kiếp người, lại như minh phán cho nỗi khổ do con người gây ra. Mọi người sợ
nhìn vào mắt nó chính là sợ nhìn thấy tội lỗi của mình, sợ mình tự đưa ra lời
phán xử cho mình. Ánh mắt của thằng cu Sơn liệu có giống
ánh mắt của chị nó không đây, trời còn tối quá cụ nhìn không tường nhưng chắc
là cũng lại buồn buồn như ánh mắt của các anh, các chị nó thôi. Chẳng biết từ
đời nào, dòng họ này ai cũng đều có ánh mắt rụt rè hiền lành quá, chỉ sợ nhìn
thẳng vào mắt người khác. Ánh mắt này liệu rồi
đến khi nào mới có được người đỗ đạt cao, làm nên ông to bà lớn đây? Khó lắm,
bởi ánh mắt này chỉ để mọi người cảm thông nhưng không bị phục tùng. Đã bao đời
nay, dòng họ này mới có được một người làm tới chánh tổng là duy nhất có chức
sắc với làng với nước, nhưng cũng chỉ được vài năm. Bị mất chức cũng tại hiền
lành quá đấy thôi, người đời dễ bắt nạt. Cả làng này thế cả, chẳng mấy ai dám
bon chen với thiên hạ. Tại đồng đất của làng này nó thế, quanh năm suốt tháng
ai cũng phải lo toan vật lộn với hết ngoi ngóp chạy lụt mùa hè lại đến xây lưng
với giá lạnh để lo từng giọt nước cho mùa đông thì làm sao đủ thời giờ so đo
với thiên hạ để mà làm nên, làm sao dám ngẩng đầu hãnh diện mà nhìn thẳng vào
người khác mà không buồn, không hiền lành dễ sai bảo. Cứ nhìn vào mắt cái đĩ
Thị là thấy được của cả làng.
Không có đủ vải để thấm máu của u chảy ra, chị đĩ Nhụ phải lấy xảo tro hứng
dưới gầm chõng. U mệt lắm, nằm sượt bất động, hơi thở thoi thóp. Thấy u hít sâu
một hơi dài rồi ưỡn ngực lên, chị đĩ cắn chặt môi chờ đợi cái điều xấu ập đến.
Chị ôm chặt hai chân u, thốt lên bằng tình thương tận đáy lòng:
-U!
U rướn mắt lên nhìn chị, cố sức nói thành những tiếng đứt quãng:
-U chưa... đi được...được... đâu, u phải cố sống... sống đến khi nước rút
hết để còn về... qua... nhà đã! Chết ở đây phải tội với các Ngài, ... mình là
phận đàn bà con ạ...!
Chị đĩ đã cố nén khóc nhưng lần này thì không thể nữa rồi. U ơi! Chị đĩ kìm
tiếng gọi vào trong để cho tiếng khóc oà ra nức nở. U ơi! U muốn ra đi mà cũng
không được thanh thản, đừng cố cưỡng lại mệnh giời rồi xuống dưới ấy khổ lắm,
quỷ sứ lại hành u mất thôi.
-U mày có chết đâu mà mày khóc thế hả!
Những cụ bà của làng đã đến ngồi quanh để u có bầu có bạn, đỡ tủi người
trước lúc đi xa, ai cũng kéo vạt áo lên chấm khoé mắt. Vâng, cháu nghe lời các
bà, khóc lúc này làm rối lòng mọi người, nửa tháng nay ai cũng khổ lắm rồi. Máu
của u đã thôi chẩy, có lẽ là trong người không còn máu để mà chẩy nữa đấy thôi
chứ có phải đã cầm được đâu. Da u tái thâm, dau dúm lại thế kia đã chắc gì đợi
được đến lúc nước rút hết. Chị đĩ Nhụ mang chiếc áo lót ra ngoài giặt để lau
lại chỗ u nằm cho u sạch sẽ. Máu từ chiếc áo loang ra hoà vào dòng nước, tím
ngắt khắp khoảng sân đình. Giặt xong chiếc áo, chị đĩ Nhụ đứng thẫn thờ nhìn ra
cánh đồng Đỗ đoán định xem đến khi nào thì nước sẽ rút. Trên trời đã hé ra
những khoảng xanh ngắt chắc chẳng còn mưa nữa nhưng nước dường như đã bị ứ lại
không còn chẩy xiết như mọi khi, chẳng biết đến khi nào mới cạn. Mưa như thế
thì đâu chẳng ngập nước mà không rút chậm. Có tiếng ì ì như tiếng sấm chuyển,
chị đĩ Nhụ lắng nghe. Cũng không hẳn là tiếng sấm bởi như là tiếng đó đang chuyển
động sau bờ tre bên kia ao đình. Chị đĩ Nhụ rướn mắt lên nhìn rồi hỏi mấy thanh
niên đã lội hẳn ra ngoài sân đình xem có thấy gì không. Không ai nhìn thấy gì
sất nhưng chị đĩ vẫn không rời mắt khỏi bờ tre. Kia rồi, những khối đen trùi
trũi như hàng đàn con trâu mộng bị dồn lại mắc sau bờ tre.
-Cái gì thế kia, các ông các bà ơi! Sau bờ tre kia kìa! – Chị đĩ Nhụ thất
thanh gọi.
-Gì thế! Làm gì mà mày tru tréo lên khiếp thế?
-Các cậu thanh niên tinh mắt nhìn xem là cái gì kia, đấy nhìn ra đằng sau
bờ tre ấy.
-Cái gì đen trũi như đàn trâu ấy! Chẳng lẽ ông trời thương làng mình thả
trâu xuống cho.
-Trâu gì mà dài thế?
Lý Ngang lội hẳn ra tới giữa sân đình. Nước ngập tới ngang thắt lưng. Nhìn
ngó lúc lâu, lý Ngang vẫy tay lại gọi con cháu:
-Thằng Ngà, thằng Khoai, tất cả chúng mày đâu, ra đây!
Mấy đứa con, cháu nhà lý Ngang tất tả lội ra. Lý Ngang chỉ tay về phía bờ
tre, thì thầm vào tai chúng rồi ẩy chúng bơi về phía đó. Tất cả những thanh
niên trong làng thấy vậy đều ào ra cố sức bơi theo con cháu nhà lý Ngang. Hình
như lũ thanh niên đã nhận ra vật gì nên gắng sức vượt lên nhau để đến trước.
Nước tung lên như một đàn cá quẫy trong lưới. Thằng Ngà đứng được lên gò đất
cao bắc loa tay thông báo về cho lý Ngang:
-Gỗ lim thầy ơi! Nhiều lắm!
Lý Ngang nhẩy lên huơ tay:
-Mấy anh em mày tập trung kéo về sân nhà mình, kéo ngang ao đình, về lối
gốc sung ấy, không bị vướng cây!
Không chỉ là thanh niên nữa, nghe lý Ngang nói hối hả vậy cả đàn ông, đàn
bà, trẻ con những ai biết bơi đều lao ra dòng nước cố sức bơi sang để tranh
phần. Mà cái làng quanh năm lụt lội này thì ai mà không biết bơi, thành thử
trong đình chỉ còn lại gia đình nhà ông tổng. Tiếng dô ta kéo đẩy ran như tiếng
nước vỡ bờ. Ngà bơi về, tay quyệt nước mắt mách lý Ngang:
-Con xí được cây to nhất nhưng thằng Thiu con nhà Duân giành lấy bảo nó sờ
vào trước.
-Mày không làm gì
được nó à! - Nghĩ lại thấy con mình còn bé, lý Ngang xỉa tay sang bên kia chửi:
- Mẹ cha con nhà Duân, mày còn mang ơn tao đã giáo giở thế hả! Mày sang nhanh
nói với chúng nó, sau lụt nhà có đói đừng đến vay của tao nữa.
Lý Ngang hét lên the thé khiến ông tổng tò mò ra xem có chuyện gì. Bên kia
ao, một cuộc thuỷ chiến đang xảy ra, người đứng trên cây gỗ kẻ bơi dưới xô đẩy
nhau, tiếng chửi bới la hét om sòm. Đâu còn những gương mặt não nề như mấy hôm
vừa rồi, ai cũng đằng đằng sát khí cố tranh cho mình được vài cây gỗ. Nhưng kết
cục chỉ thấy đánh chửi nhau chứ chưa cây gỗ nào được kéo đi. Ngà lại bơi về
thông báo với lý Ngang:
-Không kéo được thầy ơi, nặng lắm!
-Tập trung cả mấy đứa vào, kéo từng cây một!
-Rồi, bẩy tám người rồi nhưng không nhúc nhích, hay cứ để đấy khi nào nước
rút mang về.
-Không được, nước rút thì mang về làm sao được, để đấy ai trông. Chúng mày
không đánh nhau nữa, tập trung kéo cho từng người một, nhanh tay lên không thì nước
rút hết bây giờ.
Ngà lại bơi sang bên kia. Dường như mọi người đều nhận ra không thể nhà nào
nhà nấy tự làm được, tất cả các trai đinh tập trung vào cây gỗ phía ngoài của
con cháu nhà lý Ngang đã xí phần trước. Tiếng dô ta đồng loạt hô vang. Cây gỗ
vẫn không suy chuyển khỏi vị trí. Tất cả cùng ráng sức lần nữa, các múi thịt
phồng lên, những khuôn mặt đỏ căng, nào dô ta. Nhưng cây gỗ vẫn không chuyển
đến một ly.
Lý Ngang có phần nóng ruột, lội ra tới chỗ sâu ngang ngực đành phải quay
vào bởi không biết bơi. Lý ngang vào đình hậm hực dậm chân bành bạch, lẩm bẩm
chửi con cháu là lũ ăn hại, nước đang chảy thế mà không biết làm thế nào để đẩy
cây gỗ đi. Thị đang bón từng thìa nước cháo muối cho em, chậm rãi nói như lời
phán:
-Gỗ giời cho để làm đình đấy, làm sao mà đưa về nhà được!
Lý Ngang giật mình nhìn con bé, nó nói cái điều mà lý đang nghi hoặc nghĩ
tới. Ông tổng cũng thất thần, có thể thế lắm, ông buột miệng nói với lý Ngang:
-Này anh lý, giời cho gỗ để làm đình thật đấy, nếu không thì tại sao rừng
Vàng cách xa thế mà gỗ lại trôi về đến
làng mình được.
Lý Ngang với ông tổng thì chẳng khi nào đồng nhất ý kiến được vì vậy trong
lòng còn nghi ngờ nhưng lý Ngang vẫn cự lại vài câu:
-Nước thế kia thì sao không về tới đây được, ông thử nhìn về rừng Vàng xem
nào, mênh mông nước khác nào dòng sông.
-Nếu giời cho làng làm bẩy gian đình thì sẽ có sáu mươi cây cột cái, còn
cho làm năm gian thì bốn tư cây, anh bảo thanh niên đếm thử xem có phải vậy
không!
Cứ phán như ông thánh, nếu không phải thì ông sẽ mất mặt với tôi. Muốn làm
mất mặt ông tổng cho nên lý Ngang lội ào ra ngoài gọi với sang bên kia:
-Chúng mày đếm xem có bao nhiêu cây to có thể làm được cột cái!
Lúc sau cu Ngà bơi về thông báo:
-Có bốn tư cây to có thể làm cột cái được, còn những cây nhỏ thì nhiều lắm,
mà cây nào cây nấy như được đẽo gọt, bằng chằn chặn. Bây giờ thế nào, thầy?
-Còn thế nào nữa, gọi hết về!
Chẳng lẽ con cái đĩ Thị ấy là con giời chắc, nhà nó đoán đúng thế? Nước bây
giờ sao lạnh buốt, lý Ngang thấy rờn rợn vội vàng lội lại vào đình. Thế là lần
nữa mọi người phải nghe theo gia đình ấy, cái đận làm đình trước lý Ngang còn
là đứa trẻ chưa biết được hết nỗi bực tức của bố thì nay đến lượt mình, không
biết rồi đến đời thằng Ngà liệu có chuyện gì nữa không. Có thờ có thiêng có
kiêng có lành nhưng khối làng không có đình sao người ta vẫn giầu có, vẫn làm
ông nọ bà kia được, sau lụt không lo cứu đất cứu ruộng đói rã họng thì cứ ra
đình ngồi mà sống, lúc đấy có còn phán được nữa không. Rồi, ông sẽ có cách, mọi
người sẽ phải theo ông! Làm cách nào đưa được gỗ về mới là giỏi.
Chờ cho mọi người trở về hết, ông tổng Cò tập trung lại trước điện thờ
tuyên bố:
-Đấy là gỗ giời ban để làng làm đình, cho nên mọi người không thể kéo về
nhà được, bây giờ làng phải có cái lễ và có lời với Ngài trước đã. Tôi đề nghị
các cụ đứng lên phía trên này. Cụ tiên Khởi, cụ tiên Huề đâu mời lên trên này
cho. Mời Cụ tiên Khởi làm chủ lễ như mọi khi.
-Khăn áo không có, ăn mặc thế này làm lễ các ngài giận chết. Mà tôi hỏi ông
tổng, tại sao ông biết đấy là gỗ làm đình?
-Cụ hỏi tại sao, tôi cũng không biết trả lời thế nào, buột miệng tôi nói
vậy thôi. Có lẽ là do Ngài xui.
Tất cả dân làng đứng cúi đầu kính cẩn trước điện thờ. Bà tổng bảo chị đĩ
Nhụ đỡ ngồi thẳng dậy, cố mở mắt nhìn
lên điện thờ. Có phải một lần nữa Ngài hiển linh? Những thân hình gầy khô, nước
da tái nhợt, những ánh mắt mỏi mệt ngước nhìn lên điện thờ mong mỏi điều tốt
lành Ngài sẽ mang đến. Khi tiếng cụ tiên Khởi cất lên mọi người đều khuỵu chân
quỳ mọp xuống, dường như nỗi khổ của trần gian họ đã phải gánh chịu quá sức
không thể đứng vững được nữa rồi.
-Hôm nay ngày mười tám tháng năm năm bính tuất, con dân làng Trằm kính cẩn
thỉnh cầu Ngài, có phải giời đã ban gỗ xuống làm lại đình xin Ngài linh ứng cho
chúng con được biết. Chúng con tuy sức hèn lực mọn nhưng cũng xin dốc lòng dốc
sức tôn tạo lại nơi thờ phụng tươm tất để Ngài ngự, có nơi đến để chúng con tỏ
lòng thành kính tưởng nhớ tới Ngài. Ngài đã có công gầy dựng lên mảnh đất này
cũng xin Ngài một lần nữa linh ứng phù hộ độ trì cho con dân làng Trằm từ nay thoát
khỏi bể khổ. Kính mong!
Trên điện thờ không hương khói. Những con dân làng Trằm cũng không có được
bộ quần áo tươm tất để hành lễ. Đến chủ lễ cũng chỉ có bộ quần áo nâu bạc, sờn
hết các đường chỉ khiến cụ tiên mọi khi giọng khấn sang sảng thế mà hôm nay run
rẩy không rõ tiếng, bài khấn nghĩ đến đâu nói ra đến đấy chứ có nhớ bài bản lớp
lang như mọi buổi hành lễ khác. Con cũng như mọi con dân ở làng này thôi, chỉ
biết làm theo tâm của mình chứ không được chu đáo như nơi khác, cụ tiên thầm
nghĩ vậy, mong được Ngài đèn giời soi thấu cảm thông. Vái xong ba vái dài cụ
tiên Khởi đi lại chiếc trống để bên cạnh điện thờ thúc liền ba hồi. Tiếng trống
như luồng sinh khí mới tràn đến khiến những gương mặt con dân làng Trằm trở lên
rạng rỡ. Tiếng trống thúc giục mọi người ùa ra sân đình. Lý Ngang giật giọng
gọi mọi người dừng lại:
-Khoan đã! Chúng ta hãy mượn Ngài tấm rèm làm dây kéo. Con cái đĩ Thị đâu,
mày là người cho rằng gỗ này giời ban liệu Ngài có linh ứng, vậy mời bố con ông
tổng kéo về giùm cho.
Liệu có còn ai tin được nữa không khi những cây gỗ kia hàng chục thanh niên
kéo không nổi, với miếng lụa mỏng mảnh bố con ông ta sẽ làm được gì, lý Ngang
mừng thầm với đề nghị đánh đố cha con ông tổng của mình lại được dân làng ủng
hộ. Cu Ngà dường như hiểu được ý cha, sốt sắng trèo lên hạ tấm rèm xuống đưa
tận tay đĩ Thị. Dân làng phấn khởi hò reo như ngày hội.
Chị đĩ Nhụ nhìn cha chồng lo lắng, liệu rồi Ngài có linh ứng mà giúp cho,
không thì từ nay sẽ chẳng ai tin gia đình mình. Cầu trời khấn phật, lậy Ngài ra
tay cứu giúp! Nếu điều linh diệu chưa từng ai chứng kiến mà đến bây giờ có thật
thì liệu rồi cái chuyện đồi bại đêm qua của mình... Chị ôm mặt không dám nghĩ
tiếp. Ông tổng chẳng hề biểu lộ sự lo lắng như chị đĩ Nhụ nghĩ, ông bình tĩnh
nhìn trời mây, nhìn dòng nước đang ngày một rút nhanh đắn đo tính toán. Dân
làng nhìn ông tổng chờ đợi. Lát sau ông ra lệnh dứt khoát:
-Nào, các trai đinh cố lên lần này nữa, sẽ đưa tất cả gỗ về được trước cửa
đình!
Mọi người lội theo sau ông tổng. Thị trao đứa em cho chị đĩ gọi với theo
thầy:
-Cho con theo với thầy ơi!
Ông tổng quay lại bế con đi
theo. Nước đã rút nhiều, ông tổng đi vòng theo đường bờ ao, nước chỉ còn sâu
tới thắt lưng. Đám thanh niên bơi tắt qua ao sang trước bám xung quanh cây gỗ
chờ lệnh. Ông tổng ra lệnh:
-Tất cả trai tráng vào hết
bên trong bờ tre, khi nào tôi hô thì cố sức đẩy gỗ ra. - Ông đặt đĩ Thị lên cây
gỗ đầu tiên, buộc tấm rèm vào xung quanh thân cây, bảo con: - Con giữ chặt lấy
tấm rèm, ngồi chắc chắn vào, đừng sợ.
Ông tổng nhìn dòng nước rồi
hô:
-Bắt đầu! Đẩy mạnh ra! Nào,
dô...ô... ta...a!
-Dô ... ô ... ta ... a ... a!
Tiếng dô ta theo của đám trai tráng nhất loạt vang lên rền như tiếng sấm
chuyển. Những cây gỗ to như con trâu mộng nhích dần ra khỏi bờ tre. Khi cây gỗ
đầu tiên trườn thoát khỏi bờ tre thì lập tức cả một dãy dài những cây gỗ phía
sau thúc vào nhau ùng ục như tiếng trống thúc, rồi tất cả nối nhau từ từ trôi
sang bên đình khác gì một con rồng chuyển mình.
Lúc những cây gỗ bắt đầu chuyển động, đĩ Thị giật mình xoài người ôm chặt
lấy thân cây, nhưng ông trời đã ban cho cô bé tám tuổi cái suy nghĩ già giặn
của người lớn thì cũng không tiếc gì ban thêm cho cô lòng dũng cảm, sau một lúc
giữ thăng bằng đĩ Thị chống tay ngồi thẳng dậy nhìn về phía trước như một kỵ mã
ung dung trên lưng ngựa, tấm rèm đỏ như đốm lửa bập bùng nhen lên. Bên kia, dân
làng đã ra hết ngoài sân đình, chắp tay vái dài để đón rước lộc giời ban cho
làng. Không ai dám nhìn lên, những mái đầu rủ gục xuống giấu ánh mắt, có người
còn thất thần sợ hãi run cầm cập, chẳng lẽ lại có chuyện thần kỳ chỉ có trong
tưởng tượng nay đang diễn ra ngay trên mảnh đất nghèo xác sơ của mình sao! Chỉ
có Ngài linh thiêng phù trợ mới được như vậy.
Hồi sớm, khi đĩ Thị phán đó là gỗ giời ban, ông lý đã nghi hoặc có khi đó
là sự thực, biết đâu cũng lại giống như chuyện bố ông đã tận mắt nhìn thấy
những bóng ma, gia đình ấy lại một lần nữa khiến những người trong gia đình ông
tin vào một chuyện thần tiên, ma quỷ khác. Nhưng quỷ thần cũng chẳng thể bắt
tội những ai muốn củng cố thêm lòng tin vào họ, đó là lý lẽ lý Ngang tự trấn
mình để có những hành động muốn làm mất thanh danh của gia đình nhà ông tổng,
để thoả lòng đố kỵ chẳng biết có từ bao giờ giữa hai dòng họ. Khi những cây gỗ
bắt đầu chuyển mình, lý Ngang thực sự lo sợ, mồ hôi chẩy tràn trên mặt. Là
người đầu tiên lập cập quỳ xuống vái tạ, nhà lý lo sợ, biết đâu mình đã phạm
tội bất kính rồi sẽ bị trừng phạt nào giáng xuống chăng. Tội của nhà lý thì
nhiều lắm, hay phỉ báng thánh thần của cái làng này, mà cái tội đêm qua làm ô
uế nơi linh thiêng là tội trọng. Thế ra thần tiên, ma quỷ là chuyện có thật,
nếu không thì tại sao những cây gỗ kia lại tự trôi về ao đình!
Cụ Cờ ngồi trên bậu cửa, thẫn thờ nhìn vào không gian phía trước. Cụ nhìn
thấy cờ xí rợp trời, đoàn binh hùng tướng mạnh của Ngài rầm rập tiến qua làng.
Cụ nhìn thấy những bóng rồng uốn lượn vờn mặt trời, những mái đao cong vút như
toà sen của mái đình nguy nga. Người già hay tưởng tượng ra những chuyện thần
tiên, chứ con trẻ chúng giỏi giang hơn nhiều lắm, chúng còn làm ra chuyện thần
tiên nữa kia. Khi anh cu cả quả quyết sẽ đưa được gỗ về cụ lo lắm, bằng cách
nào đây, nếu không chỉ có bỏ làng mà đi mới hết thẹn. Cụ chắp tay cầu nguyện
Ngài. Thế mà Ngài đã thấu. Anh cu cả giỏi lắm! Cụ không ngờ anh cu tính được
chính xác khi nước rút nhanh dòng chẩy sẽ xoay chuyển như thế nào để đưa được
gỗ về khiến mọi người tin đó là chuyện trời xui đất khiến thần mách bảo. Bây
giờ cụ mới thấy được hết tầm hiểu biết của con. Nó cũng lại như những người ở
gia đình này cả đây mà, chẳng bao giờ bộc bạch khả năng của mình cho thiên hạ
biết. Hôm nọ, bắt đầu có những hạt mưa rơi xuống anh cu đã nhất quyết đưa hết
mọi người ra đình, thế mà thật. Từ ngày còn trẻ, cụ đã ước ao làng mình có được
mái đình bề thế, nhưng lực bất tòng tâm, cái ăn cái mặc của từng nhà còn khó
nói chi đến chuyện đóng góp cho việc phù vân. Đến nay thì giời giúp anh cu cả
thực hiện hộ cụ được điều này rồi. Ở nơi mảnh đất còn
nghèo khó này, mái đình sẽ là nơi đến để mỗi người bộc bạch nỗi khổ của mình,
giúp con dân của làng quấn túm bên nhau hơn. Điều này chắc chẳng ai nghĩ tới.
Đi đến đâu thấy ai cũng khoe về mái đình của làng, thế thì tại sao người làng
mình lại không được khoe, không được hãnh diện, dù chỉ là cái hãnh diện như mấy
ngày nay thôi, cùng nhau chung một mái nhà trong lúc gặp phải nạn thuỷ tặc.
*
* *
CHỊ ĐĨ NHỤ CHƯA KỊP VÉN HẾT ÁO LÊN, CÁI MIỆNG CU SƠN ĐÃ VỘI NGOẠM LẤY đầu
vú mút tồm tộp hóp hai bầu má. Mút cái vú khô của chị có được gì đâu, khổ thân
em, sinh ra mà không được biết mùi vị sữa mẹ thế nào. Chị đĩ ôm ghì cu Sơn vào
lòng như sợ nó cũng tuột khỏi mình như u đã tuột xa khỏi gia đình này. Về làm
dâu mới được hơn chục năm nhưng chị thấy tình cảm của mình gần gũi với u như
chính u là người đã sinh ra mình và sẽ gắn bó với mình đến hết cuộc đời. Thế mà
lúc này đây, chị ân hận về việc làm tội
lỗi của mình đêm hôm đó, cần có u để bộc bạch và chỉ có u mới hiểu chị, an ủi, động viên được, giờ thì không thể rồi. U
mong được về chết ngay trên căn nhà u đã bắt đầu vất vả cuộc đời làm dâu, làm
vợ, làm mẹ từ năm mười sáu tuổi. Ông trời cũng động lòng thương cho u được về
nằm trên chiếc giường của mình nửa ngày mới bắt đi. Nhưng mà tội cho u
quá, chiếc giường chưa kịp khô, mọi người đi đưa tang phải bấm chân xuống bùn,
bám níu vào nhau không là ngã, chiếc quan tài trên vai những thanh niên khoẻ
mạnh nhất làng nhưng vẫn bị chao đảo như đưa võng. Tội nhất vẫn là cu Sơn, mới
được có hơn một ngày làm người đã phải mặc áo xô của mẹ. Chị đĩ Nhụ kìm tiếng
khóc nấc vào trong lòng. Tiếng khóc có thể kìm được nhưng những giọt nước mắt
thì không thể đừng. Những giọt nước mắt là của giời ban riêng cho con người để
biểu lộ tình cảm thì đừng có giấu vào trong làm gì lại phải tội. Ôi chao tội
lỗi của con người! Ông trời sao lại ban cho chị cái nỗi khổ của người đàn bà
lớn thế, lúc nào cũng muốn được đàn ông âu yếm vuốt ve trên làn da của mình, để
rồi phải đầy đoạ tấm thân cho lý Ngang, để rồi được tiếng nhục. Mùi khói rơm
hăng hắc thoảng qua, chị nhìn xuống bếp. Ánh lửa rơm
leo lét cháy, ngọn lửa được giữ đều đều cho nồi cháo chín rền. Cô Thị đấy! Chị
quay đi không dám nhìn vào bóng đen nhỏ bé, bất động in trên vách. Cô Thị
ơi, mỗi lần cô cất tiếng ru em trong đêm
là tôi muốn được ôm cô vào lòng như ôm cu Sơn thế này nhưng tôi cũng cầu xin
cô, lát nữa đòi lại em cô đừng chạm vào người tôi, cô nhé!
Đĩ Thị khom lưng bưng bát nước cháo lên đặt lên bàn, cởi vuông khăn đen
trên đầu xuống lau sạch những dòng mồ
hôi chảy bết trên mặt. Gương mặt đỏ hồng vì hơi lửa càng khiến ánh mắt cô bé
long lanh vẻ đanh quánh già dặn. Lau thật sạch mồ hôi trên người xong rồi đĩ
Thị đi lại giường bế giằng lấy em trên tay chị dâu, không nói không rằng một
câu. Chị đĩ Nhụ nhẫn nhịn buông cu Sơn, quay mặt đi giấu những giọt nước mắt
đang trào ra. Không, đĩ Thị không ghét chị dâu mà còn rất quý nữa kia, nhưng
tình cảm của cô chẳng khi nào thể hiện ra ngoài. Khi còn sống u vẫn thường nói
đùa, khó đăm đăm như đĩ Thị rồi không biết lớn lên có thằng nào dám gần. Còn
lúc này, không ai có thể bế cu Sơn được, thậm chí nấu nước cháo cho em cũng
phải tự tay đĩ Thị nấu, mỗi khi em trở giấc, dù là lúc nửa đêm cô cũng ngồi dậy
dỗ em chứ không cần nhờ tới người lớn. Đĩ Thị sinh ra đã là người lớn, cứ nhìn
chị bế đứa em còn to hơn mình rất gọn gàng, chắc chắn thì chẳng ai dám nói cô
tám tuổi. Đĩ Thị ngồi xếp chân bằng tròn trên trường kỷ, đặt cu Sơn nằm gọn
trong lòng, tay xúc từng thìa nước cháo nhỏ thổi thật kỹ rồi ghé vào miệng cho
em mút. Những giọt mồ hôi lại chảy truội trên má Thị. Cái miệng cu Sơn chum
chúm mút thìa nước cháo như miệng con hến hớp nước.
Hầu hết các nhà trong làng đều tường tranh vách đất, cho nên sau mỗi trận
lụt lại phải tốn ít rơm, vài cây tre, lặn ngụp moi bùn dưới ao lên làm lại
tường mới. Cũng phải mất cả tuần nhà cửa, đường xá trong làng mới quang quẻ
sạch sẽ. May mà trời nắng ráo được luôn. Còn các thiệt hại không đáng kể, bởi
đã hàng đời nay dân làng Trằm năm nào cũng phải trải qua tình cảnh này, nhà nào
cũng chuẩn bị nơi cất giữ đồ đạc cao ráo, chắc chắn không sợ bị nước cuốn trôi.
Nhưng trận lụt này, mỗi khi nhìn ra cánh đồng trắng băng, rồi sau lụt ngày nào
cũng phải đối mặt với những bụi tre vàng úa đến nhức mắt mọi người nhận ra cuộc
đời mình chẳng lẽ cứ phải sống bấp bênh thế này sao, chẳng lẽ cứ buông mặc cuộc
đời cho thiên nhiên hành hạ mà không đả động gì. Năm nào cũng cầu cứu Ngài
nhưng chẳng nhẽ cứ ngồi không chờ Ngài mang phúc đến cho. Ngài có ra tay độ
giúp chỉ là ngầm xui khiến, chứ như cái đận gỗ lim trôi về đấy, chẳng qua bên
kinh Bắc đốn gỗ chưa kịp mang về chứ Ngài nào có đốn được và không có sức
người, sức nước thì sao tới được cửa đình.
Chuyện làm đình cứ gác lại đã, trước mắt phải tự cứu lấy mình, không rồi
thế này mãi sống sao nổi. Những làng như Già, Miễu... là những nơi mọi năm đứng
trên cao nhìn về cánh Trằm cứ như được thưởng thức phong cảnh Tây Hồ, đến năm
nay không chuẩn bị gì khối nhà mất trắng mới thấy, mới nháo nhào lo sang năm
thế này nữa thì chết đói. Các làng cử đại diện lên tổng kêu cầu, rồi cả tổng
lại kéo nhau lên huyện xin trợ giúp. Đích thân tri huyện Thăng xuống tận làng
Trằm xem xét thực địa rồi cùng nhau bàn cách ngăn không cho nước tràn về.
Chị đĩ Nhụ thở dài, ngồi buông xuôi bên mép giường, đôi mắt vô hồn nhìn
riết xuống nền nhà. Nghe rõ tiếng cụ Cờ gọi, chị dạ ran nhưng không tài nào
thoát ra khỏi trạng thái thẫn thờ, cứ trân trân nhìn mãi đâu. Tới khi cụ Cờ
chống gậy đi vào giục, chị mới bừng tỉnh.
-Cụ gọi con có việc gì ạ! – Chị đĩ Nhụ đứng dậy chắp tay thưa.
-Chị mệt mỏi sao, để tôi bảo đĩ Thị làm cho.
Chị đĩ trọng nhà chồng ở chỗ, ai cũng được tôn trọng như nhau, dù chị chỉ
hắt hơi sổ mũi thì thậm chí cụ Cờ cũng sẵn lòng làm giúp để chị nghỉ ngơi. Cũng
chính vì thế, chồng đi biền biệt, đến về đưa tang mẹ mấy ngày lại đi ngay chị
chẳng dám giận. Chị đĩ vội thưa:
-Cháu không sao đâu, có việc gì cụ sai bảo, để em cháu còn chơi với cu Sơn.
-Anh cu Diệc tệ quá, chẳng biết làm ăn gì mà hai bố con đi biền biệt thế?
-Dạ, nghe đâu nhà cháu theo bạn buôn chè trên Thái về, phải lo gom hàng nên
không ở được lâu. Cháu Nụ ở trên Hà Nội đã có người chăm bẵm, cụ không phải lo
cho bố con cháu.
Cụ Cờ thở dài:
-Chẳng biết rồi có khá lên được, số kiếp làng này khổ lắm cháu ạ! Thôi,
cháu giúp ông đun ấm nước rồi đem ra cánh đồng Thỏ cho các quan. Cũng may, làng
mình gặp được ông quan tri nhiệt tình với dân.
Chị đĩ xuống bếp lấy chiếc siêu đất mang ra bể múc nước. Chiếc bể được xây
bằng cát trộn với mật mía, dùng chứa nước mưa chỉ để pha trà, nước uống ngọt
như pha đường. Cụ Cờ uống trà kỹ tính lắm, mỗi buổi sáng chỉ hai chén mắt trâu
nhưng trước khi pha chiếc ấm da lươn nhỏ trong lòng bàn tay phải được cọ rửa
thật sạch, nước đun thật sôi già, tráng ấm tráng trà xong nước đã hạ nhiệt một
chút rồi mới châm vào, như vậy cánh trà không bị nát, uống không bị nồng. Thời
gian chuẩn bị bao lâu để nước hạ nhiệt vừa đủ chị đĩ có kinh nghiệm lắm, đó là
thời khắc thảnh thơi chị hay nghĩ về chồng. Chị ước mong, qua một đêm ân ái,
sáng ra chị sẽ được ngồi pha trà cho chồng, như vậy có hạnh phúc nào hơn thế.
Đằng này anh ấy cứ đi biền biệt quanh năm. Chị đĩ chậm rãi múc từng gáo nước,
đổ từ từ vào siêu và lắng tai nghe tiếng nước reo róc rách. Chẳng biết chị đã ảnh
hưởng cái tính mơ mộng của nhà chồng từ khi nào nữa. Từ hôm u mất đến nay mới
thấy ông cụ vui, chị phải pha trà thật ngon để đãi khách. Ông cụ vui là cả nhà
sẽ vui trở lại, không còn ủ dột như những ngày vừa qua, chị sẽ nịnh khéo đĩ Thị
cho chị chăm bẵm cu Sơn, có vậy chị mới đỡ nhớ chồng con và cũng là để yên lòng
u dưới cửu tuyền. Chị đĩ rút nắm rơm cho vào bếp, cúi người xuống thổi lửa.
Bỗng trong bụng cuộn lên như có khối tròn chuyển động, rồi nhoi nhói đau khiến
chị co rúm người lại, mặt tái mét, những giọt mồ hôi lăn xuống má. Cơn cớ gì
thế này! Chị đĩ cố giữ hơi thở cho đều và suy đoán về nguyên nhân cơn đau bụng
bất chợt. Khối tròn trong bụng lại cuộn lên, nhưng lần này nó chuyển dần lên cổ
khiến chị buồn nôn. Chị bụm miệng kìm cơn nôn khỏi trào ra kẻo rồi có ai nhìn
thấy. “Khổ tôi rồi!” - Chị đĩ thốt lên thành tiếng. “Có mang rồi!... Với ai
đây?” – Lần này tiếng thốt được kìm vào trong. Chắc chắn không phải với chồng
rồi, mấy ngày anh ấy về là mấy ngày nhà có công có việc trọng đại như thế hai vợ
chồng nào được gần nhau lấy một khắc. Với ai thì chị đĩ biết ngay rồi nhưng
không dám nghĩ tới. Chẳng nhẽ vào ngày ấy mà cũng có mang được sao, chị đã có
kinh nghiệm để tránh cho nên lấy chồng hơn chục năm mới chỉ có được một đứa
con. Vậy đúng là trời báo hại cho kẻ lăng loàn rồi,
chuyện này mà lộ ra thì chỉ còn biết chết đi cho rảnh. Nhưng có phải chết rồi
là hết tiếng xấu, người đời sẽ còn dựng dậy mà chửi rủa cho nữa. Bỏ làng mà đi
rồi chết ở đâu thì chết thôi!
Tai hoạ sao lại giáng xuống chị lúc này, lúc mà gia đình nhà chồng cần chị
hơn lúc nào hết. Chị đĩ như người mất hồn sách siêu nước đi về phía sông Vàng,
bước chân sục vào những vũng bùn còn sót lại sau trận lụt mà không muốn tránh.
Sao sông Vàng không sâu, không chảy cuồn cuồn như dòng sông Đuống bên kinh Bắc
để chị lao mình xuống đó cho hết nỗi nhục. Cái phận của người đàn bà là phải
gánh chịu những bất hạnh để cho thằng đàn ông được thoả mãn thế này sao. Chẳng
biết hắn ta sẽ nghĩ thế nào về cái đêm đầy biến động ấy, liệu rồi hắn có mảy
may quan tâm đến hậu quả mình đang phải mang đây?
-Chị đĩ làm sao thế? Có mệt bảo đĩ Thị làm cho, mấy ngày nay chị vất vả quá
rồi. Chị mà ốm to là khổ cho cả nhà đấy.
Ông tổng Cò nhìn con dâu lo lắng.
-Dạ! Con không sao, tại đêm qua cu Sơn quấy quá con không ngủ được.
Chị đĩ nén tiếng thở sâu, cố trấn tĩnh lại để mọi người khỏi nhận ra chị
đang rối lòng. Chị lấy siêu nước được ủ kín trong chiếc xảo cùng bộ ấm chén đặt
xuống bờ cỏ pha trà. Chị cố giấu ánh mắt không nhìn về lý Ngang. Chả biết hắn
vui vì chuyện gì mà bản mặt nhơn nhơn càng khiến hàm răng thêm chìa ra, hai cục
cặn trắng sùi ra hai bên mép như hai hạt cơm. Cái bộ mặt khủng khiếp, bộ mặt
của quỷ dữ, thế mà sao chị lại vùi mình vào mà không thấy tởm. Thì ra mình còn
kinh tởm hơn cả hắn nữa. Liệu rồi đứa con trong bụng đây có xấu xa như bố nó?
Không, không thể giữ nó lại được, bây giờ mới chỉ là giọt máu, chưa có linh hồn
đâu mà sợ mang tội. Phải bỏ nó đi thôi!
Mình đàn bà con gái nghe sao được chuyện làng chuyện nước, chị đĩ lấy cớ
vậy ngồi ra xa để cho cánh chức dịch bàn chuyện. Ngày mới về quê chồng, chị
thích đứng nhìn màu xanh non mướt của
những bạt cỏ đang cựa mình trỗi dậy trên mảng nâu non khổ hạnh của cánh đồng
sau lụt để tìm cảm giác khắc khoải, bồn chồn. Chị đứng nhìn cánh đồng hàng giờ
liền, suy tư mà không biết mình đang nghĩ về việc gì, chị buông tiếng thở dài
thảnh thơi. Còn bây giờ, chị sợ mình sẽ mang thêm tội nếu như ánh mắt lại vương
phải một mảng xanh nào đó, bởi chị chỉ là người đàn bà không thể tự mình bung
phá như những ngọn cỏ ấy được.
Khi mọi người đã thưởng thức song tuần trà, lại tiếp tục đi dọc theo con
sông Vàng để bàn luận về công việc thì chị mới đứng dậy thu dọn ấm chén mang
về. Ông tổng dặn với theo con dâu nhớ nghỉ ngơi cho khoẻ khiến chị xúc động,
nước mắt chẩy tràn trên mặt. Bước chân chị đĩ khấp khểnh qua những bờ ruộng.
Chị đi vòng về đường cống Rô. Một bên là đầm ấu, một bên là nghĩa địa, hai hàng
xà cừ um tùm xoà kín, con đường trở nên hun hút như dẫn vào cõi tịch mịch, chị
đĩ ngồi xuống cạnh mép nước ôm gối. Nước mắt ơi cứ rơi đi, chỉ có nước mắt để
rửa nỗi nhục này thôi. Hay bây giờ mình sẽ trèo lên một cành xà cừ nhẩy xuống,
có thể cái thai sẽ tụt ra! Không được, gia đình nhà chồng đang gặp khó khăn,
mình có chết gia đình chồng bị mang tiếng thất đức nên hai người con dâu chết
liền, còn nếu có gẫy chân què tay lại là gánh nặng của mọi người. Còn cái Nụ
nữa, con gái mới mười tuổi đầu mà chỉ thích đi ngao du thiên hạ. Nó giống cả
thầy cả u nó đấy mà. Cái đận lụt này nó không có ở nhà nên chị đỡ vướng bận, có
thời giờ chăm sóc u. Lần này nó bảo đi sẽ lâu về, dỗi chị đây mà, tại chị cứ
gọi nó là cái đĩ ra ngoài thiên hạ nghe xấu lắm. Khi còn con gái, ở quê chị
người ta gọi chung người phụ nữ còn trẻ là cái gái, còn ở quê chồng cứ đàn bà
là cái đĩ tất, mới về nghe cũng thấy ngượng nhưng rồi thành quen từ khi nào.
Máu thịt của chị đã là máu thịt của con dân làng Trằm này rồi. Đôi lúc chị cũng
trách chồng sao không bám vào đồng đất quê mình mà sống như những con người của làng mà cứ ảo tưởng mãi đâu, liệu rồi có mở mày
mở mặt được hay lại bị chê cười. Nỗi cực này chị không đổ tại cho chồng không
gần gũi với vợ thường xuyên để khiến chị thèm khát, tại chị tất cả, chị phải
một mình gánh chịu lấy đừng để liên luỵ tới ai. Chị đứng dậy về mà chưa tìm ra
được cách gì cho ổn.
Sau lưng chị, bên phía nghĩa địa có tiếng cành cây khô bị gẫy. Những tiếng
răng rắc khẽ khàng, chậm rãi như phát ra từ bước chân của con thú rình mò chuẩn
bị phóng ra vồ con mồi. Chị quay lại, sợ hãi nhìn quanh. Bây giờ chị cũng đang
là bóng ma đây, có gì phải sợ những bóng ma nữa, chị chỉ sợ con người thôi.
Những mớ cỏ vàng bủng, thũng nước nằm rệp im lìm trên những ngôi mộ. Bỗng chị
giật mình lùi lại, suýt nữa rơi xuống đầm bởi lý Ngang bất ngờ hiện ra trước
mặt như một bóng ma.
Lý Ngang khừng khực cười, tiếng cười mắc nghẹn trong cổ, giọng ỡm ờ nhèo
nhẽo như con sâu:
-Đúng là con dâu nhà tổng, ra đây ngồi mơ mòng, thế bà nó có mơ về tôi
không đấy. Này nói thật với bà, cái đêm hôm ấy đời người mấy ai có được một lần
lên tiên như thế.
-Đời tôi đang nhục nhã đây, loại cầm thú như ông sao không bị nước cuốn đi
cho rảnh nợ! – Lần đầu tiên trong đời chị đĩ Nhụ to tiếng với người khác.
Lý Ngang ngỡ ngàng, há hốc mồm, mắt trân trân nhìn chị đĩ. Nhưng với bản
chất của con người lanh lọc lý Ngang hiểu ngay chuyện gì, đưa tay sờ bụng chị
đĩ, hạ giọng thì thào:
-Có chửa rồi phải không? Đêm hôm ấy chứ gì, biết ngay mà, như nước lụt thế
không chửa sao được.
Chị đĩ đã định bụng không nói với lý Ngang chuyện này, thế mà sơ ý một tí
hắn đã nhận ra ngay. Hắn không là quỷ dữ thì là gì nữa. Không, không thể để con
người này dây dưa đến cuộc đời mình lần nữa, chị đĩ quày quả bỏ đi. Lý Ngang
chạy theo kéo chị đĩ lại, mắt vằn đỏ, răng nghiến trèo trẹo.
-Sợ mọi người biết phải không? Này, tôi cấm bà bỏ nó đi đấy, nó là con giời
bà biết không, cái đêm ấy là Ngài ban cho, bà bỏ đi là có tội với thần linh
đấy. Bà là người có chồng chẳng nhẽ lại không chửa được hay sao mà khi nãy tôi
thấy bà lo lắng thế, cho nên mới đón đường ở đây để hỏi rõ. Đúng là linh tính
của tôi chẳng sai.
Hắn còn leo lẻo gì nữa chị đĩ chẳng thể nghe được, tai chị đang ù đi, mắt
như có màn sương vàng đục giăng đằng
trước, bước chân chỉ muốn khuỵ xuống mỗi khi vấp phải mô đất trên đường. Tấp
tểnh về đến cổng nhà, chị phải vội ngồi thụp xuống cạnh giếng nước để đón cơn
buồn nôn đang dồn lên. Mùi rau răm hăng hắc thơm ngay cạnh, chị bứt một nắm vò
nát trong tay. Thứ này có thể dứt cái sinh linh tội lỗi đang lớn lên trong bụng
mình đây. Chị đĩ Nhụ ngập ngừng đưa nắm lá rau răm lên miệng. Không thể được,
dù thế nào đi nữa chị không thể bỏ nó được, chị không tin nó là con giời như
hắn ta nói, chị sợ chính mình sẽ là kẻ thất nhân ác đức để rồi quả báo sẽ rơi
xuống nhà chồng. Chị sẽ tìm cách đi khỏi làng. Nhưng như thế nhà chồng chị sẽ
gánh chịu tiếng xấu để đời. Chị thẫn thờ ngồi bên hiên nhà, dằn vặt những toan
tính sao cho vẹn toàn cả đôi bên.
-Nẫy có người bên Thuận qua đây, anh cu Diệc đang ở Hà Nội, có dặn rỗi rãi
chị lên chơi với bố con nó. Mai đi sớm đi, chơi mấy hôm cho khuây, ruộng vườn
có vợ chồng anh cu Sức quán xuyến là được rồi.
Chị buồn bã ngước nhìn lên cụ Cờ. Ông cụ gẩy đám rơm ướt ngoài sân, gương
mặt đăm chiêu dưới vành nón.
-Dạ! chiều cháu sang nhờ cô chú ấy trông nom việc nhà giúp mấy bữa, chẳng
biết bố con cháu Nụ sống thế nào nữa.
Nói xong chị ngỡ ngàng với thái độ của mình. Không biết có phải mình đang
nói dối để thực hiện ý nghĩ trốn tránh khỏi làng, nếu là nói thực sao trong
lòng chị lại đang vô cảm thế này. Hay chẳng nhẽ là con giời thật cho nên được
xui khiến gần chồng để che lấp thân phận thực của đứa bé, cho nó cuộc sống của
con người đàng hoàng. Tạ ơn giời và phải tạ ơn gia đình chồng biết chiều lòng
con cháu đã giúp chị che đậy được tội lỗi, rồi chị sẽ làm tất cả để trả ơn. Đứa
bé sẽ không thể xấu xa như thằng cha nó được.
*
* *
LÝ NGANG CHƯA VỀ TỚI CỔNG NHÀ ĐÃ GỌI TƯỚNG LÊN:
-U thằng cu Ngà đã cơm nước xong cả chưa?
Chị đĩ Son mặc áo cánh lụa màu mỡ gà nghe tiếng chồng gọi từ trong nhà te
tái chạy ra:
-Có chuyện gì mà thầy cu Ngà gọi tướng lên thế? Xong cả rồi, thế có mình
ông về thôi à?
Lý ngang phẩy tay giục vợ:
-Làm thịt thêm ba con gà nữa, khẩn trương! Này u nó, thằng Ngà đâu?
Tiếng Ngà từ trong nhà nói vọng ra:
-Con đây, có chuyện gì thế?
-Sang nhà trương Bân, nhà thằng Duân, bảo chúng nó sang bên này ăn cơm tao
có chuyện bàn.
-Thừa cơm thừa gạo hay sao mà đãi cả làng thế, hơi sức đâu mà tôi phục vụ
chúng nó! - Đĩ Son cầm vạt áo phẩy tung lên tỏ thái độ tức giận với ý định của
chồng.
-Mày ngồi không cả ngày chỉ việc sai bảo người làm cũng lắm điều, loại đàn
bà ngu lắm, chẳng biết gì, tao đãi không chúng nó chắc, lần sau còn thái độ thế
tao vả vỡ mồm! Mà này, sao hôm nay ăn mặc đỏm dáng thế? – Lý Ngang tức giận gằm
gè với vợ.
Mưu sự cũng chẳng phải do lý Ngang nghĩ ra mà chính ông tổng gợi ý. Khi lội
qua cánh đồng Đỗ, phát hiện ra mạch nước sủi đùn dưới chân ông tổng bảo, nếu
đào cái chuôm ở đây thì cánh đồng nhà Lý chẳng lo thiếu nước. Ông tổng đăm
chiêu nhìn về cánh Chuông nói với mọi người:
-Các vị chắc ai cũng được nghe truyền thuyết về dấu chân ngựa của Thánh
Gióng rồi phải không, mỗi cái chuôm là một dấu chân ngựa, ao đình làng mình là
nơi Ngài đào lấy nước nuôi quân. Truyền thuyết thôi, còn thực tế là chính người
dân mình đào cả. Các vị thử nghĩ xem, vùng đất này làm gì có sông lớn chẩy qua, thế thì cấy hái
lấy đâu ra nước, những cái chuôm này chính là cái giếng giữa đồng các cụ đã đào
để lấy nước. Vậy sao làng mình cứ đến mùa đông phải khốn đốn về nước tưới mà
ngay bên Chuông kia chỉ có những cái chuôm ấy thôi chẳng phải lo nghĩ gì. Cánh
Đỗ nhà anh lý thử đào xem thế nào.
-Nhà tôi lấy đâu ra người.
-Cánh đồng nhà anh hơn trăm mẫu, sao không bớt một khoảnh cho người khác
coi như là trả công.
Ông tổng đã vạch cỏ chỉ đường cho mà đi, nay lý Ngang chỉ việc xông thẳng
vào. Chưa khi nào lý Ngang lại thấy vui như bây giờ, chuyện đồng đất là một,
lại còn chuyện với đĩ Nhụ nữa, nếu là con trai thì đương nhiên nó sẽ là trưởng
của chi họ nhà ông tổng. Như vậy, cái dòng họ Nguyễn đáng ghét ấy chỉ còn là hư
danh. Còn gì thâm thù hơn thế nữa, đúng là giời định cho họ nhà ấy tuyệt diệt
rồi. Lý Ngang vén ống quần đái ồ ồ vào gốc chuối ngay cửa bếp, trong lòng tưng
tửng niềm vui.
-Đẹp mặt nhỉ, chưa uống đã say, lột hẳn quần cho thiên hạ người ta nhìn.
Đĩ Son ngấm nguýt với chồng. Lý Ngang nhìn vợ hềnh hệch cười, cái miệng
loen ngoen quyết trầu khiến cho đôi môi trở nên bì bì thâm sì của vợ lúc này
cũng chẳng khiến nhà lý chê xấu.
-Của tao là củ ngọc hành, có phúc cho con đàn bà nào nhìn thấy.
Lý Ngang ngất ngưởng say men tình đi vào nhà, chùi chân vào chổi rơm rồi
ngồi xếp bằng tròn trên sập chờ mọi người về. Chưa biết chồng có niềm vui gì
nhưng cũng lây sang mình, đĩ Son soi mặt trong bể nước rồi kín đáo vục vốc nước
xoà lên lau cái miệng dính đầy bã trầu cho sạch. Mắt liếc nhìn chồng, đĩ Son
cười thầm về câu nói đùa khi nãy và nhớ lại ngày xưa. Ngày hai đứa còn là đứa
trẻ, đĩ Son lớn hơn hai tuổi, thỉnh thoảng thò tay xuống nghịch “củ ngọc hành”
của cu Ngang thích cởi truồng chạy lông nhông trên đồng. Cu Ngang nhiều khi tức
quá chửi vung vít rồi hai tay ôm chặt lấy bẹn, luôn miệng hét lên, của tao chứ.
Thế mà khi lấy nhau, đĩ Son nhắc lại lý Ngang không còn nhớ gì. Tưởng là người
vô tâm thế mà lại hay thù vặt. Ví như với nhà ông tổng chẳng hiềm khích gì thế
mà cứ nói tới là hằm hè chửi, chị có nói thì lại bảo tình ý gì với nhà Diệc mà
bênh. Anh cu Diệc chẳng phải mình chị thích mà con gái làng này, cả thiên hạ
nữa đứa nào chả thích, nhưng chị cũng biết cái bản mặt mình chẳng khiến anh ta
nhòm ngó tới nên chỉ thích thì để trong lòng. Bữa cơm này là để đãi các quan
trên về làng kinh lý, còn ý gì nữa thì chị chẳng biết nhưng hẳn phải có lợi nên
ông ấy mới hào phóng thế, loại người chẳng chịu thiệt với ai bao giờ.
Anh trương Bân cùng nhà Duân đến cổng rồi không dám vào, đứng thập thò
ngoài ngõ. Lý Ngang gõ sống quạt xuống sập, đằng hắng:
-Thằng nào đến cổng không vào nhà, thập thò như con chó dại thế hả!
Trương Bân cùng nhà Duân tay túm vạt áo khép nép đi vào, đứng lại bên cửa
lễ phép bẩm:
-Dạ! Ông lý gọi con có việc gì sai bảo!
-Nhà Duân nó khép nép còn được, anh là trương tuần, công việc ngày nào cũng
qua bên này làm sao mà run như rẽ thế còn làm được việc gì! – Lý Ngang dứ dứ
sống quạt vào mặt trương Bân mắng.
-Dạ công việc là lẽ khác, đằng này ông cho gọi là có ý gì con chưa hiểu.
-Đi vào, ngồi xuống đây! Có việc này bàn trước với hai anh, còn lát nữa các
quan trên về uống rượu liệu mà tiếp đãi mời chào cho đẹp lòng khách.
Trương Bân hàng ngày vẫn to tiếng nạt nộ người khác thế mà bây giờ khúm
núm, run rẩy như con chó bị dội nước lạnh. Hai người ngồi nép vào nhau ở góc
nhà. Lý Ngang gõ sống quạt xuống sập vẫy hai người ngồi lại gần. Trương Bân kéo
vạt áo lên mồm lau sạch quyết trầu, hai bên mép trề xuống thảm hại.
-Nhà hai anh ruộng cấy không đủ ăn phải không, tôi biết các anh vẫn hết
lòng với tôi, cũng muốn giúp đỡ, thế nhưng đời ai lại cho không người dưng thì
thiên hạ lại bảo tôi ngu. Nay có việc nhờ các anh mà cũng là cái cớ để rộng
lòng với gia đình nhà hai anh. Tôi sẽ cho mỗi anh mượn ba sào, cấy hái trong ba
năm, không phải tính toán hoa lợi gì cả.
Nhà Duân không hiểu chuyện gì đang đến với mình, hai tay chắp trước ngực
run rẩy hỏi cắt ngang:
-Dạ, ông lý nói gì con không hiểu, chuyện ruộng đất là thế nào ạ!
-Sao anh lại hèn mọn quá thế, nói đến lợi lộc một tí đã run như rẽ, số cái
làng này chẳng khá lên được cũng phải. Anh nghe cho rõ đây, tôi không cho không
các anh ba sào ruộng, ở đời có ai dại thế, mà các anh phải làm trả công cho
tôi. Tôi tính rồi, sức các anh làm được tôi mới nhờ.
-Dạ, con hiểu rồi, ông lý có việc nhờ chúng con chẳng dám nề hà!
-Tôi cho các anh mượn ba sào ruộng, đổi lại mỗi anh đào
cho tôi hai cái chuôm, bằng cái chuôm ở đồng Phệ ấy. Vừa sức cho nhà các anh
chưa? Ngoài việc ấy ra, các anh phải đối đãi thế nào cho vừa lòng tôi thì các
anh làm.
Chỉ cần nói ý nói tứ thôi, cả làng này ai chả biết quan hệ giữa nhà lý với
nhà ông tổng thế nào, muốn làm vừa lòng ông lý thì cả làng này ai cũng biết cả,
có điều được đặc ân như nhà Duân, nhà trương Bân thì chẳng phải ai cũng được.
Chẳng biết có phải anh cu Duân xúc động quá hay không mà ngồi ngay như phỗng,
mặt thần ra đờ dại. Trương Bân đứng dậy đá vào đùi anh cu Duân giục:
-Không lạy tạ ông lý còn ra cổng đón khách, ngồi ngây như chó ỉa thế à!
Anh cu Duân vẫn như bị mất hồn vía, khoanh tay cám ơn lý Ngang rồi tấp tểnh
chạy theo trương Bân ra cổng.
Đối đãi cho vừa lòng nhà lý ư!? Thế không có những bữa cháo nhà cụ Cờ thì
liệu nhà anh cu có được đủ người để mà đào chuôm cho nhà lý! Anh cu Duân không
phải là người bạc tình bạc nghĩa, làng này ai cũng biết, thế nhưng ơn nhà lý
lại cần phải trả. Anh cu Duân đứng ở cổng đón khách mà hai đầu gối run rẩy,
ngực nghẹn thắt lại như người bị lên cơn sốt ác tính.
-Mày sao thế, đói hay là bị ốm đấy? –Trương Bân nhìn nhà Duân, hỏi.
-Tôi không sao đâu, anh trương! Tại... tại mấy hôm vừa rồi dọn dẹp mệt quá
đấy thôi.
-Tao cũng được ơn ông lý, còn lạ gì tâm trạng nữa mà phải giấu. Ở đời nhiều khi gặp may lên người, nếu ba năm tới không lụt lội cũng dư dả
được chút ít làm dấn vốn.
-Vâng! Nhưng... biết đối đãi thế nào để trả ơn đây. Nhà cụ Cờ...!
-Ai cũng thế thôi, cho mình bát cơm đầy hơn thì mình biết ơn nhiều hơn.
-Nhưng...!
-Tao chả nhưng gì sất. Mày không phải họ hàng, tao mách ông lý thì nhà mày
chết đói. Có thế thôi mà đã run như rẽ, rồi không biết đến bao giờ mới có của
ăn của để.
Cái giọng dậy đời
bắt chước lý Ngang của ông anh họ xa chẳng lọt vào tai, anh cu Duân như người
mất hồn đứng dúm dó cạnh con chó đá ngoài cổng nhà lý Ngang chờ đón quan trên
về. Không run sao được khi mà gia đình ấy có biết bao chuyện khiến làng nước
bàn tán tới, nào là chuyện cụ Cờ gặp được quân tướng của Ngài hiện về, nay lại
cái đĩ Thị ngồi như bà thánh hô hoán kéo những bè gỗ về đình, cái việc đào
chuôm cho nhà lý, chuyện khơi sông Vàng cũng là do ông tổng khởi lên cả, bây
giờ ăn ở với gia đình nhà ấy chẳng ra gì thánh thần bắt vạ vào thân thì cả họ
không còn đất mà ở. Nhưng sao nhà lý ăn ở chả ra gì, báng bổ cả thánh thần mà
tới vụ thóc lúa vẫn đầy sân, mái ngói
lúc nào cũng đỏ au! Trời đất phù hộ độ trì, các ngài che chở, thân con
hèn mọn chẳng hiểu hết chuyện nhân gian, cho con được ăn cây nào rào cây ấy,
gia đình nhà ông tổng cũng tha thứ cho chẳng qua cũng vì miếng cơm manh áo. Nhà
Duân nén tiếng thở dài không để cho anh trương thấy rồi lại sinh chuyện. Cái
con người ấy thấy cái lợi trước mắt là quên hết cả bố mẹ mình là ai.
Các quan trên đã về,
người nào người nấy mặt đỏ phừng phừng vì trời nắng nóng. Nhưng dáng vẻ ai cũng
đường bệ như các vị thần tiên khiến nhà Duân khép nép, hai bàn tay xoắn chặt
vào nhau, không cất nổi lấy một lời chào cho phải phép. Trương Bân lúc này
chẳng thể bận tâm tới thái độ của ông em họ, cúi gập lưng chào:
-Lạy các quan ạ! Các
quan vất vả vì dân vì nước, chúng con chẳng giúp gì được thật là mắc tội lớn!
Trương Bân chạy lên
trước hướng dẫn mọi người:
-Mời các quan ra bể
rửa mặt rồi vào nhà nghỉ ngơi để cho chúng con hầu cơm, nước mưa mát lắm ạ!
Dường như chẳng ai
chẳng để ý tới hành động xun xoe của nhà trương, nếu hắn ta không tỏ ý cố tình
hạ thấp ông tổng trước mọi người. Trương Bân múc nước ra thau đồng mời quan tri
rửa. Quan tri huyện Thăng lùi lại mời ông tổng:
-Mời bác rửa trước!
Ông tổng chưa kịp
đáp lời lại quan tri thì trương Bân đã tiến tới chặn ngang trước mặt, lạnh lùng
nói:
-Dạ không, đây là
nước mời quan tri rửa, còn bác tổng đây người làng cả mời bác ra vại kia, có
chậu sành đấy. Quan tri chắc không biết, bác tổng chỉ quen dùng những đồ dân
gian thôi.
Thái độ của trương
Bân khiến quan tri huyện Thăng ngạc nhiên. Khi hiểu ra hành động của hắn ta,
ông tức giận quát.
-Anh có biết tôi
trọng bác tổng đây thế nào không, như cha như thầy tôi đấy! Anh là người của
làng xã mà hàm hồ thế à!
Trong lòng ông tổng
Cò biết sự thể việc làm của trương Bân là có ý gì nhưng vì việc làng việc xã đã
phải nín nhịn bước vào sân nhà này thì nín nhịn thêm lần nữa cũng đành bấm bụng
mà chịu cho qua. Ông dịu giọng nói với quan tri:
-Làng tôi vừa ngập
lụt xong, nước sạch quý lắm, rồi chú sẽ thấy dân làng phải chắt chiu từng gáo
nước thế nào.
Cho dù lý Ngang đích
thân quạt cho, còn nói nịnh rằng đây là chè ngon do anh trưởng con ông tổng
mang về và chén trà bốc hương dìu dịu cũng chẳng thể nào làm nguôi nỗi tức giận
trong lòng quan tri. Ở cái làng bé cỏn con thế này mà cũng
ganh ghét, đố kị nhau thì thử hỏi cả một huyện rộng lớn sẽ còn có biết bao điều
thị phi khác. Chả thế mà ông tổng đây là người ông kính trọng, với bản tính
hiền lành, ngay thẳng thế thì chịu sao nổi, đã phải xin từ quan sớm. Liệu rồi ý
định trợ giúp cho làng này thoát khỏi lụt lội của ông có được thực thi nghiêm
chỉnh, hay rồi lại tranh giành nhau để nghèo vẫn hoàn nghèo. Quan tri muốn bàn
nhanh công việc để rồi sang chào cụ Cờ còn về huyện sớm. Ông hỏi luôn vào việc:
-Hội đồng tiên chỉ
của làng đã đến đủ chưa, mời mọi người lên cả đây ta bàn việc.
Lý Ngang đón lời:
-Dạ bẩm, đến đủ cả
rồi ạ, còn chờ ở nhà dưới! Nhưng xin quan ngài thư thả dùng bữa xong đã, thời
gian còn nhiều ta bàn sau cũng chưa vội. – Lý Ngang quay lại phía trương Bân
quát: - Không dọn mâm còn đứng cả đấy à! Rồi tôi sẽ dạy cho anh biết cái lẽ đời
ăn ở thế nào để mà sống cho xứng đáng là con người đàng hoàng, cứ như thằng đầu
đường xó chợ thế là không được nghe chưa!
Trương Bân lũi cũi
bưng mâm cơm đặt lên giữa sập. Đàn ruồi được dịp bu vào như những hạt đỗ đen
rắc lên trên các món ăn. Lý Ngang phẩy ruồi, miệng chèm chẹp vẻ thèm thuồng,
vừa nuốt nước bọt vừa nói:
-Quan lớn về bất
ngờ, chúng con lại theo cả ra ngoài đồng nên không ngả được con lợn, chỉ có vài
món rau dưa mời quan lớn cùng các cụ tiên dùng tạm. – Lý Ngang mở chai rượu rót
vào chén. Mùi men thơm phức: - Rượu nhà con cất lấy, mời quan dùng thử. Nào mời
các cụ nâng chén, chúng ta cùng chúc cho quan lớn khoẻ mạnh, chúc cho công việc
mà quan lớn đã phải nhọc công với làng ta được hoàn tất tốt đẹp.
Hội đồng tiên chỉ
của làng ngồi mâm dưới cũng thay nhau lên chúc rượu tri huyện Thăng. Trong lòng
tri huyện Thăng không vui, chén rượu rót ra vẫn còn nguyên. Nếu không vì công
việc thì ông đã được cùng cha con cụ Cờ hàn huyên việc đời, việc thế sự và ông
sẽ đưa mấy bài thơ vừa viết để cụ chấp bút. Thế mà nay, nếu không có lời của
ông thì bác tổng đã chắc gì được câu chào mời tử tế chứ nói gì đến việc được
ngồi mâm trên cùng ông. Lý Ngang dùng đũa xua lũ ruồi rồi gắp miếng đùi gà vào
bát mời riêng ông, còn ông tổng dường
như chỉ là người thừa. Thái độ của hắn ta, của trương Bân thế là không được,
tri huyện Thăng thấy mình cần phải làm một việc gì đó để tỏ thái độ kính trọng
đối với ông tổng, để mọi người thấy mà cư xử cho phải phép. Ông bước xuống đất,
quỳ gối trước mặt ông tổng, tay giơ chén rượu ngang đầu, kính cẩn nói:
-Chén rượu này là
chén rượu của con dân làng Trằm mời, em kính cẩn dâng bác để bày tỏ tấm lòng
biết ơn và kính phục một nhân cách cao cả.
Thịnh tình của tri
huyện Thăng thế nào ông tổng biết cả, hai người quý nhau coi nhau như anh em
nhưng hành động thế này thì thật bất ngờ quá. Ông tổng lật bật bước xuống đỡ
quan tri đứng lên.
-Sao chú làm thế
này, chú là quan trên lại trước mặt con dân, không thể thế được! Tôi coi chú
như em, tấm lòng thế nào chúng ta hiểu nhau cả.
-Bác không nhận em
không đứng dậy! Bác dậy em, đũa phải có đầu, chưa khi nào em có dịp báo đáp.
Ông tổng hiểu, vị
quan tri luôn làm việc vì lợi ích của dân muốn gì, ông đón chén rượu rồi đỡ
quan tri dậy. Tri huyện Thăng rũ quần áo đứng dậy, quay sang phía các vị tiên
chỉ của làng nói chân thành:
-Lúc làm việc cần
phải phân biệt ngôi thứ, nhưng hôm nay tôi về làng cũng là vì việc tình việc
nghĩa, bữa cơm này là buổi gặp mặt thân tình của những người chung sức gánh vác
việc dân, vậy mời các vị ngồi cả lên trên này cho, có chật một tí càng thêm gắn
bó. Nào gia nhân, dọn cả lên trên sập cho, mời các vị, cụ tiên Khởi, cụ tiên
Huề bằng tuổi cha chú tôi, kính cụ lên trước!
Không thể từ chối
lời mời chân tình của quan tri, mọi người cùng ngồi hết lên chiếc sập gụ. Lý
Ngang tức bầm gan. Thế này còn ra thể thống gì nữa, làm gì cũng phải có trên có
dưới, có tôn ti trật tự thì nói mới có người nghe, không rồi nhờn mặt sai bảo
được ai. Còn ông ta nữa, chức tước mất
hơn chục năm mà người ta vẫn thưa gửi ông tổng là một cái gai rồi, lại chuyện
đã nhiều lần muốn hạ uy tín nhà ấy mà chưa khi nào thắng được lấy một lần khiến
bàn dân thiên hạ coi thường nhà lý, nay lại xảy ra chuyện này. Chiếc sập gụ chỉ
dành để tiếp quan trên, đến người nhà cũng chưa được phép nữa là, nhìn kìa
không biết bao cái đít thấp hèn đặt lên thì còn gì danh giá cho dòng họ Vũ nhà
lý. Quan tri và cả ông ta nữa, vẻ mặt đắc thắng chưa, hỉ hả rót rượu mời. Mà
đâu có phải rượu của làng!
Đúng là nét mặt quan
tri huyện Thăng trở nên vui hơn khi mọi người hiểu được tấm thịnh tình của
mình. Ông hứng khỏi nói:
-Chắc mọi người
không quên được chuyện của bác tổng chứ ạ. Tôi cứ muốn nhắc mãi, bởi không có
bác tổng thì tôi đâu có được như ngày nay. Chuyện là, tên Giáp, tên lính lệ ấy
chữ nghĩa cũng chỉ thuộc được vài ba câu trong tam tự kinh nhưng được cái khéo
ăn khéo nói, có tài bao biện, quan trên hài lòng lắm và lầm tưởng rằng hắn phải
làu thông kinh sử, muốn đặc cách cho hắn làm chân thư lại không phải qua cuộc
thi mà đích thân bác tổng đây ra đề. Chả là nhà nước ta đã bỏ thi cử, dùng
người chỉ qua tiến cử hoặc do người Pháp dựng lên hoặc bằng những con đường
riêng tư nào đó. Bài thi chưa kịp chấm thì quan tri huyện khi ấy vội vã xuống,
với vẻ mặt phẫn nộ ông ta đập bàn quát: “Có phải ông coi thường tôi không!
Người tôi tiến cử cho ông không thèm dùng, bày trò thi cử, hay ông coi đây là
vương quốc của riêng mình muốn làm gì thì làm, đến báo cáo lên trên cũng
không thèm có một nhời!”. Bác tổng khi ấy trông điềm tĩnh lắm. “Bẩm
ngài, nếu là việc trọng đại ảnh hưởng tới đời sống dân sinh thì quả là cái lỗi
không thể tha, còn đây là việc cỏn con ở phủ nhà mà không tự giải quyết nổi
phải trình báo lên trên mới dám làm thì thử hỏi ngồi ghế quan làm gì ạ!”
Tôi khi ấy chỉ là anh học trò nghèo, chứng kiến lời ăn tiếng nói chững chạc của
bác tổng thì phục lắm. Quan tri chưa hết sững sờ trước phản ứng của thuộc hạ
dưới quyền thì bác tổng lại tiếp: “Bẩm ngài, nếu lính lệ Giáp thực sự
có khả năng sao không dám dự thi.” “Thế ông định lấy ai?” Quan tri đuối lý.
“Dạ bẩm, bài thi chưa chấm xong nhưng theo tôi học trò Thăng đây xứng đáng”.
Tôi bàng hoàng không tin vào tai mình nữa. Mà tai tôi bị ù đi thật, chỉ biết
đại loại quan tri chê tôi còn trẻ thế biết việc gì mà làm, lính lệ Giáp đã phục
vụ ở phủ đường lâu, lại có học. Tôi kịp nghe thấy bác tổng đây nói câu: “Ngọc
bất trác bất thành khí” thì lính lệ Giáp ấp úng nói câu gì đó như là về
ngọc, còn quan tri đập bàn quát: “Đúng là nhân bất học bất chi lý”.
Ấy là khi đó quan tri mới nhận ra sự thiếu học ở tên lính
lệ. Nhưng dù có giận thì lính lệ Giáp vẫn được bổ về huyện phủ lãnh chức cai.
Các vị biết bài thi của tôi khi ấy viết về vấn đề gì không? Đạo sinh ra vạn
vật, Đức làm cho vạn vật tốt tươi, vậy thì Đạo là trời thực hành còn Đức là ở
con người chúng ta mà ra, bởi vậy trong chữ Đức có chữ Tâm. Tại sao chữ Tâm lại
đặt bên dưới? Chữ tâm như phao dầu đặt dưới, nguồn gốc của ngọn lửa soi rạng
chữ Đức là ở đấy.
Tri huyện Thăng bỗng
chợt nhận ra mình đã nói nhiều, nâng chén rượu mời mọi người như để xin lỗi đó
không phải do tính cách của mình mà những lời nói đó cứ như từ đáy lòng trào
ra:
-Nào mời các vị, tôi
nói nhiều quá phải không. Mời cụ tiên Khởi, da dẻ hồng hào thế này cụ còn khoẻ
lắm, cạn với tôi chén này. Chúc cụ thọ trên trăm tuổi để cùng dân làng khơi
thông được con sông Vàng, để chứng kiến con cháu làm ăn tấn tới.
Cụ tiên Khởi nhấp
chén rượu, phấn khởi nói:
-Làng này có phúc
lớn mới được quan trên quan tâm. Dân làng tôi ai cũng kính nể gia đình nhà ông
tổng, coi cụ Cờ là công thần của làng đấy, lẽ ra hôm nay phải mời cả cụ sang để
cụ có nhời.
Bữa cơm mà mình bỏ
ra lại là để tôn vinh gia đình nhà ấy sao, sự đời có nhiều éo le chẳng lường
trước được, phải dừng chuyện này ở đây, lý Ngang hắng giọng lên tiếng:
-Mời quan tri, mời
các cụ cạn với tôi chén này, khi nào có dịp chúng ta hàn huyên những chuyện ấy,
còn bây giờ việc cụ thể ra sao các cụ tiên chắc chưa tường hết. Nhưng bàn gì
thì bàn vấn đề đầu tiên phải thực có túc thì binh mới cường, dự định khơi sông
Vàng không phải bây giờ mới có, là người lo việc làng việc nước tôi đã nghĩ tới
việc này lâu rồi, nhưng thử hỏi cái làng đói ăn này vác thân còm chẳng nổi thì
thử hỏi đào bới được gì.
Hắn ta đã bộc lộ
ruột gan của mình. Tri huyện Thăng thở phào nhẹ nhõm khi mà vấn đề khó sử nhất
là liệu rồi đồng tiền bát gạo trên cấp xuống có vào nồi nhà dân thì lại được
giải quyết nhanh gọn nhất. Cũng đúng thôi, cái bộ mặt như con chó đói kia thì
làm sao che đậy được, mà không nóng ruột để bộc lộ ra. Khi mà biết bữa cơm được
lý Ngang mời về tư gia chứ không ở ngoài đình thì ông đã đoán định được trước
và yêu cầu nhà lý tập trung các vị trong hội đồng tiên chỉ bàn việc luôn. Giờ
thì dễ ăn dễ nói rồi, ông cười nhẹ để mọi người an tâm về việc thắc mắc của lý
Ngang đã được trù liệu cả.
-Ông lý quan tâm tới
việc này từ lâu, thế thử hỏi ông đã tính toán được phải dùng bao nhiêu người,
mất bao nhiêu công, chi hết bao nhiêu tiền gạo? Nếu ông trù liệu cả rồi sao
không bẩm lên để quan trên xem xét mà để tôi phải lội nước xuống tận nơi, xục
xuống bùn sông Vàng đo từng mét sông mất bao công sức, thời giờ. Báo cáo với
các cụ rằng, tôi nói vậy cũng là vơ vào lòng, hôm về đưa đám bác tổng gái tôi
thương quá mà cũng không nghĩ tới việc này, đến khi bác tổng đây đề xuất tôi
mới thấy mình còn nhiều thiếu sót với dân làng, với những người mà tôi kính
trọng lắm.
Quan tri xúc động
dừng lời. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn dồn về ông tổng bày tỏ lòng
biết ơn. Mâm cơm lạnh tanh, ruồi bu kín như lớp vải đen phủ lên trên. Lý Ngang thấy sức mình không thể lý lẽ được với quan tri,
trong lòng hậm hực, đành xuống giọng:
-Thực
tình là tôi cũng nghĩ tới, nhưng mà cái khó bó cái khôn, giờ thì trăm sự nhờ quan trên
thương cho dân làng, cụ thể thế nào quan trên dẫn đường cho chúng tôi theo.
-Vậy cụ thể thế này,
huyện sẽ đảm bảo phần lương ăn cùng những chi tiêu sắm sửa dụng cụ, hết bao
nhiêu thì ông lý cùng các vị hội đồng tiên chỉ giám sát và chứng nhận để tôi báo cáo với tỉnh cho minh bạch. Đó là
về phần khúc sông qua làng, còn phải khơi thông tận ra tới Cẩm Xuyên thì mới
đảm bảo thoát nước được nhanh và cũng giữ được nước cần thiết để cày cấy. Đã có
chỉ dụ của tỉnh và tôi cũng đã đích thân tới gặp những huyện phủ trên những
đoạn sông đó, họ đồng ý làm cùng ta nhưng dù sao làng mình là gánh nặng nhất và
được lợi nhiều nhất thì cũng phải có lời, có cư sử cho phải lẽ. Nhất là bên
Thuận Thanh kia, bởi phần sông Vàng qua đây là của họ và họ cũng không ảnh
hưởng gì việc lụt lội mà bỗng dưng đổ tiền đổ của ra cho người khác e rằng khó
lắm.
-Khó mấy thì chúng
tôi cũng gắng thuyết phục bên ấy. – Cụ tiên Huề vung tay đầy quyết tâm: - Cánh
họ Hoàng chúng tôi vốn gốc gác bên ấy, chẳng nhẽ họ không giúp được mình sao.
Mà khơi sông Vàng thì cánh Nam bên ấy mới có nước, chứ như bây giờ toàn bỏ
không có trồng trọt gì được.
-Có gì mà khó, mình
đào phần đất của mình chứ lấn gì sang ấy. – Lý Ngang cắt lời cụ tiên Huề.
Tri huyện Thăng cười
cái sự kém hiểu biết của nhà lý, rồi nhìn sang vị quan ngồi cạnh nói:
-Nếu dễ thế thì tôi
chả phải mời quan canh nông từ trên tỉnh về. Vậy thì mời các vị nghe quan canh
nông trình bầy cụ thể sẽ thấy việc cần phải làm thế nào.
Vị quan canh nông
còn trẻ, từ lúc ngồi vào mâm chưa nói nhời nào, nhìn quan tri rồi chậm rãi nói:
-Đúng như quan tri
huyện đây nói, chuyện phức tạp lắm, bởi phải mở rộng lòng sông từ phía Thượng
Bùi có vậy mới nắn dòng chẩy từ đầu nguồn không thì đào từ đây cũng coi như vô
tác dụng, nước vẫn tràn xuống làng ta từ phía đó. Vả lại nếu ta đào sâu phần
đất bên mình xuống, lúc nước rút thì bên Thuận Thanh lại khô kiệt. Cũng như
vậy, nếu phía Cẩm Xuyên không mở rộng lòng sông thì làng ta sẽ thành cái hồ
chứa nước. Các vị cứ yên tâm, chuyện này tỉnh đã có lời huấn thị tới từng huyện
phủ và đã có kế hoặch trợ giúp về ngân khố, còn công việc đốc thúc thợ đấu sao
cho hoàn thành được tốt thì tỉnh giao cho làng xã tự điều hành.
Lý Ngang thấy đến
lúc dùng uy quyền của mình, đứng lên nói dõng dạc:
-Nếu quan trên đồng
ý chu cấp lương thực thì coi như việc hoàn tất được phân nửa, nửa còn lại là
sức dân làng Trằm bỏ ra, tôi với chức vị lý trưởng tuyên bố thế này, tất cả
những ai có tên trong sổ đinh tuổi từ năm mươi trở xuống tới mười sáu đều phải
tham gia trực tiếp công việc, tôi sẽ không nhận một cắc nhỏ nào của bất kỳ ai
muốn đóng góp tiền để thay thế. Và xin quan tri ý kiến thế này, lương thực cấp
phát xuống đề nghị cất giữ ở kho nhà tôi mới bảo đảm không bị ướt, bị mọt và để
cho làng lập ra một nhóm lo việc cơm nước.
Việc gì rồi cũng
phải đến lúc vỡ ra, chuyện này không thể được, liệu rồi bát cơm của thợ đấu có
được đầy, bộ mặt lý Ngang thế nào sao ông không hiểu. Quan tri huyện Thăng
thẳng thừng:
-Ông lý nên để tâm
tới việc đốc thúc công việc, việc cơm ăn nước uống tôi đã trù tính cả rồi.
Còn ý nữa của lý
Ngang rõ ràng muốn bắt bí ông tổng bởi hai anh con trai biết buôn bán ở đâu mà
tìm về nhưng ý này cũng là một việc có ý nghĩa của con dân với làng xóm khiến
ông tổng băn khoăn. Ông chậm rãi lên tiếng:
-Xin hoan nghênh ý
kiến của ông lý, đó là việc thiêng liêng mà mỗi người cần tham gia. Việc hai
anh con trai tôi chưa về kịp xin các cụ tiên cho phép tôi, các cháu gái rồi bản
thân cả ông cụ nhà tôi chắc cũng sẽ tham gia để thay thế. Mạn phép có thêm nhời
thế này, gỗ làm đình đã đủ cả, chỉ thiếu gạch ngói vậy thì nhân đào đất sông
Vàng lên ta cắt cử người đóng gạch luôn. Tôi có người quen ở Bát Tràng, sẽ mời
về chỉ dẫn cách nung cho được đẹp được chắc. Ý các cụ thế
nào?
*
* *
NGỌN GIÓ MÙA ĐÃ TRỞ
VỀ MƠN MAN ĐÙA GIỠN TRÊN ĐẦU NHỮNG ĐÁM LÁ bưởi. Màu xanh bợt bạt dần. Những
trái tròn mọng đang bị cái lạnh đầu mùa thổi cho úa vàng. Mùi rơm khô hăng hắc
ùa cùng ngọn gió chạy dọc theo con đường sắt. Những đám bụi đường quẩn lấy
chân. Diệc nhìn những bước chân gắng gượng rảo bước của vợ lo lắng. Những bước
chân của chị đĩ Nhụ ngày xưa thoăn thoắt như quấn bện vào nhau đùa nghịch đám
cỏ may bên đường, những bước chân của con người sẽ phải bận rộn, phải vất vả cả
đời khiến anh thấy thương người con gái nhan sắc, có giọng hát cao vút lên như
tiếng hót của chú chim sơn ca giữa cánh đồng. Năm nào anh cu Diệc cũng ngong
ngóng tới ngày hội bên Kinh Bắc để được nghe tiếng hát ấy, để được ngắm nhìn
đôi chân thoăn thoắt trong đám chị em, để được trong lòng dào dạt niềm thương.
Thế mà đã lâu rồi anh không được nghe tiếng hát ấy, không được ngắm nhìn những
bước chân ấy. Có lẽ từ ngày cha mẹ gửi hai anh em lên Hà Nội học chỉ mong cho
con có được cái chữ để bằng anh bằng em, để thoát khỏi cái làng nghèo khó.
Nhưng hàng ngày sống giữa đám hàng hoá bề bộn, những thúng tiền xu, những sấp
tiền hào của chủ nhà thì hai anh em có sự so sánh. Liệu cứ dùi mài kinh sử mãi
cha mẹ có đủ tiền lo cho, để rồi gia đình sẽ khốn khó hơn mà sau này có làm nên
trò trống gì hay rồi lại được chức quan như cha mà gia đình không thoát khỏi
cái nghèo. Thế là cứ mải miết ngược xuôi, mải miết kiếm tiền đến quên mất tuổi
trẻ đã qua từ lúc nào, quên luôn cả những thú vui huống chi có được thời gian
để ngắm vợ, để thư thái nghe vợ hát. Cô ấy chắc cũng vậy, vùi mặt vào lo toan
việc nhà thì hơi sức đâu mà hát. Cô ấy vất vả vì nhà chồng. Thân phận mỗi con
người được thể hiện ra bên ngoài và những ai có nhận ra muốn tránh xa điều
không muốn cũng không thể được bởi đã bị núi kéo ràng buộc vào nhau bằng số
phận. Bàn tay của vợ đang níu lấy vai mình càng chặt hơn, Diệc lo lắng hỏi:
-U nó mệt lắm à? Sao
không nói để u nó ở lại nghỉ mấy hôm nữa hãy về.
-Em không sao đâu.
Hình như...!
-Trong người làm sao
mà không nói cho tôi biết? – Diệc đỡ vợ dừng lại hỏi.
Chị đĩ Nhụ thấy cổ
mình nghèn nghẹn. Chị không muốn nói ra điều xấu xa này. Chị có chết đi sẽ là
giải thoát cho bản thân, thế còn ai sẽ là người trả món nợ của mình cho nhà anh
ấy. Thôi đành sống lại ở đời, rồi đứa con oan nghiệt này sẽ đưa nó đi xa để
không còn dính dáng đến dòng họ nhà chồng nữa. Chị quyết định nói dấu chồng:
-Hình như em có mang
mình ạ!
Anh cu Diệc bị bất
ngờ, sững người nhìn vợ:
-Chết thật, sao
không nói trước để tôi còn lo, ai lại đi bộ thế này, hơn một tháng rồi phải
không, lúc này cần phải giữ gìn lắm đấy.
Rồi anh cu Diệc kéo
tay nải của vợ xuống, gọi với lên anh cu Dạ đang cùng cái đĩ Nụ đi vượt lên
trên:
-Chú Dạ
quay lại đây! Khẩn trương lên! Chú tìm thuê lấy cái võng để võng chị chú đi.
Con cái Nụ mang hộ u mày cái tay nải. Nào, nhanh lên!
Anh cu
Diệc cuống quýt giục. Chị đĩ Nhụ kéo tay chú Dạ lại.
-Không
phải tìm võng đâu chú, đường còn chẳng bao xa, tôi đi được!
Anh cu
Dạ nhìn dọc theo đoạn đường vắng, không lấy một bóng người, có tới được làng
cũng phải ba cây số nữa.
-Không được, để em
tìm võng! Cứ ngồi chờ đây, em chạy ù một tí thôi.
-Tôi đi được mà,
người có thai đi bộ nhiều cho dễ đẻ. Như hồi có mang cái đĩ Nụ, được ba tháng
tôi vẫn gánh phân gio ra đồng đấy là gì, ngã oành oặch có sao đâu. Bố nó để em
vịn là được rồi, tại mấy hôm thức khuya quá.
Cái thai trong bụng
không phải hơn một tháng mà đã qua tháng thứ ba. Khi bước xuống tầu, chị đĩ Nhụ
đã thấy bụng mình ấm ách đau. Chị biết lý do tại sao, nhưng biết nói với chồng
thế nào đây, đã bao lần dự định rồi mà không thể, nay bên cạnh lại có chú em
chồng và cô con gái, mọi người sẽ dễ dàng nhận ra sự dối trá của chị, thôi thì
gắng mà chịu đoạn đường hơn chục cây số rồi liệu sau. Ra ngoài cửa ga, chị đã
nhìn trước ngó sau, trông ngóng đám phu khiêng võng như cầu cứu lại như nài nỉ
đừng có họ ở đấy để rồi nhỡ ra chồng mình lại gọi thuê thì chị sẽ thấy nhục nhã
lắm, bởi chị đâu có xứng được như vậy. Và còn về đến làng nữa, hắn ta nhìn thấy
sẽ không khỏi giương giương tự đắc, chìa cái bộ răng vẩu ra mà thầm rủa nhà
chồng vô phúc. Chị mừng là sân ga xép vắng tanh, chỉ có cái nắng chông chênh
trên mặt đường. Đã có lúc chị nghĩ tới việc có thể cái thai sẽ bị tụt ra. Như
vậy có phải là cứu cánh cho chị hay lại là nỗi đau lòng cho nhà chồng? Cái thai
ba tháng sao mà giấu nổi. Cái đau dần nén sâu xuống dưới, không còn nhói buốt
khiến chị dễ chịu hơn. Chị gắng đi thật vững, thật tự nhiên bên cạnh chồng. Mặt
chị tái đi không phải do đau đớn nữa mà là trăm mối tơ vò hành hạ.
Anh cu Diệc thỉnh
thoảng quay sang nhìn vợ lo lắng. Từ năm ngoái hai vợ chồng đã tính tới chuyện
có thêm thằng cu nhưng thời gian gần nhau ít quá nên chưa được. Anh cu Diệc nhớ
lại cái đêm đầu tiên vợ lặn lội lên thăm chồng, chưa khi nào tình cảm hai người
lại ào ạt như vậy, vợ chồng bện xoắn vào nhau suốt đêm. Vợ ghì riết lấy anh.
Rồi còn nước mắt nữa, có lẽ tình cảm lâu ngày khiến cô ấy xúc động. Đúng là có
từ cái đêm hôm ấy, không biết là thằng cu hay cái đĩ đây?!
Mà sao lại có chửa
vào lúc này, việc đào sông, đóng gạch của làng đang cần người, lấy ai chăm sóc
cho cô ấy. Mà với cái số khổ vận vào thân rồi thì cô ấy chẳng thể ngồi một chỗ
để cho người khác hầu hạ. Cái đận xưa, chân bị chín mé sưng to như bắp chuối,
bảo thuê người làm không chịu, cứ lội ào vào phân gio để rồi xuýt nữa phải cưa
chân, thế mà vẫn chẳng chừa, việc gì cô ấy cũng tranh giành làm chỉ sợ người
khác không bằng lòng. Lần này thì không thể thế được, cái thai chắc không được
khoẻ cho nên mới đau bụng thế, rồi nguy cho cả tính mạng mẹ cả tính mạng con
chứ chẳng đừng. Anh cu Diệc bỏ va li xuống, kéo tay vợ, nói cương quyết:
-U nó để tôi cõng,
không thể đi thế này được!
Chị đĩ Nhụ bàng
hoàng, giật mình co người lại phản ứng. Không! Không thể được! Con người chị
đầy tội lỗi, đứa con trong bụng chị là oan nghiệt của anh thì sao chị dám làm
thế được. Ôi! Nếu đứa con này thực sự là của anh thì chị sẵn sàng để anh cõng,
đó là hạnh phúc mấy ai có được.
-Không được đâu
mình, thiên hạ nhìn thấy người ta cười cho, mình là đàn ông sao thế được.
-Thời buổi nào mà u
nó nói thế, mình thương vợ mình thì mặc thiên hạ muốn cười gì thì cười. Tôi
trèo đèo lội suối quen rồi, cõng u nó có thôi đường thì có đáng gì.
-Em van mình, đừng
làm thế! Em khỏi rồi.
Thực sự chị muốn quỳ
xuống mà van xin anh tha tội, chị còn muốn sống là để đền đáp lại, trả món nợ
tình người cho nhà anh thôi, xin anh đừng làm thế chị càng thêm đau lòng lắm.
Nước mắt ầng ậng dâng lên, chị lén lau để anh không nhìn thấy. Không biết kiếp
trước chị ăn ở thế nào để rồi kiếp này bị đoạ đày, có phải giời phật giao cho
hắn nhiệm vụ phải hành hạ chị. Hắn có hành hạ gì thì chị cũng chịu đựng được,
chỉ xin trời phật bảo hắn buông tha gia đình nhà chồng chị.
Lời van xin của chị
chắc chẳng thấu tới trời phật. Ngay sau khi tiễn quan tri, bộ ba lý Ngang,
trương Bân cùng nhà Duân cùng ngồi lại bên mâm cơm còn ế nguyên bàn tính kế
hoạch, làm sao hạ được uy tín của gia đình ông tổng với làng nước. Hơi men
khiến bộ mặt quắt của nhà lý càng teo tóp thêm, bộ răng vẩu chìa dài ra giắt
nguyên sợi thịt gà lòng thòng. Lý Ngang cậy sợi thịt gà ra khỏi kẽ răng, búng
vào cạnh mâm, cất giọng è è trong cổ:
-Tôi thử hỏi các
anh, ở làng này ai mang cơm ăn áo mặc cho nhà các anh. Chắc các anh lại bảo ông
tổng chứ gì, tôi biết tỏng đi, đời các anh sao mê muội thế, nhà ông ta mới doạ
ma một tí mà các anh đã sợ rồi, thử hỏi cái đình ấy nuôi sống nhà các anh chắc,
rồi đào con sông các anh đã được hưởng cái gì, ruộng đất nhà các anh một manh
vài gầu nước là đủ, vậy thì ai được lợi nhiều nhất, không phải là nhà ông ta
thì là nhà ai. Cứ để ngập úng may ra các anh còn kiếm được con tôm con cá đắp
đổi qua ngày.
Trương Bân cùng nhà
Duân chỉ biết cặm mặt xuống mâm cơm, tay xoe đôi đũa lắng nghe từng lời của nhà
lý. Đúng là nhà lý nói có lý thật, ruộng đất ở làng này chỉ có nhà lý và nhà
ông tổng là nhiều, hai nhà được lợi nhiều. Thế nhưng nghĩ lại, sống bì bõm
trong nước vào ngày hè, còn mùa đông chỉ biết rang thóc cắn chắt cả ngày, cái
khổ chỉ có những nhà như nhà trương Bân, nhà Duân là được nhiều hơn, lo ăn từng
bữa không đủ, nếu nước nôi thuận hoà thì chẳng phải niềm vui của riêng ai. Nhà
Duân băn khoăn:
-Thế nhưng, ai mà
chả mong có được như thế, cả ông cũng vậy. Giờ ý ông là chống lại việc khai mở
sông Vàng, thế là thế nào chúng con chẳng hiểu.
Lý Ngang bực mình
đập đôi đũa xuống chiếu, mắt trợn sòng lên, nghiến răng chửi nhà Duân:
-Sao anh ngu thế, ai
chả cần nước, thế nhưng cứ để cho nhà tổng điều hành cái làng này thế à! Các
anh ăn bát cơm của tôi thì các anh phải trả ơn tôi chứ!
Trương Bân hiểu ý,
quát mắng nhà Bân:
-Thằng này ngu lắm,
nói mãi chẳng vỡ vạc ra được tí nào. Bây giờ làm cách nào để hạ uy tín của ông
tổng xuống nghe chửa, có thế thì nhà mày mới có bát cơm dư dả. Thế còn ý ông thế nào, sai chúng con, chúng con
sẽ làm hết lòng.
Lý Ngang chưa hết
bực, gắt gỏng:
-Tôi mà nghĩ ra cách
thì cần gì gọi các anh lại!
Trương Bân sốt sắng
ngồi dịch sát vào bên lý Ngang, ghé vào tai thì thào:
-Giờ con mới nhớ
lại, khi nãy cụ tiên Huề có nói sẽ sang thuyết phục bên Thuận Thanh, thế thì tại
sao mình không làm thế. Nói thực với ông, trai đinh bên ấy ngồi uống rượu với
con suốt, giờ cho ít tiền sai việc gì chúng nó làm tuốt.
-Thằng này khá! –
Không ngờ chuyện chỉ có đơn giản vậy, lý Ngang rót rượu đầy chén đưa cho trương
Bân. – Phải sang bên ấy nói cho họ biết, khơi sông Vàng là họ sẽ bị mất hết
nước, sẽ bị mất nồi cơm. Thằng nào mà không nghe!
Anh em, vợ chồng anh
cu Diệc về đến nhà mặt trời đã đứng bóng. Nhà vắng tanh, đến cả con lợn, con gà
cũng rục đầu vào bờ bụi nào ngủ không thấy bóng con nào. Anh cu Diệc đẩy cửa,
dìu vợ vào giường. Cái đĩ Nụ xục vào buồng trong, chạy xuống nhà ngang, lần ra
cả bụi tre để tìm mà không thấy ai. Đĩ Nụ xịu mặt hỏi u:
-Cụ đâu rồi u?
-U không biết. – Chị
đĩ Nhụ mệt mỏi trả lời con.
-Chắc là ra sông
Vàng cả. Đĩ Nụ đặt cho u nồi cháo để thầy ra ngoài ấy xem, hình như chú Dạ ra
luôn rồi hay sao không thấy về nhà.
Ra đến cửa anh cu
Diệc còn quay lại dặn vợ:
-U nó nằm nghỉ, đi
lại nhiều nguy hiểm lắm đấy, tôi ra ngoài ấy một lát, kiếm ít lá ngải về u nó
uống cho mát, cái thai sẽ yên.
Anh cu Diệc tất tả
chạy ra sông Vàng. Không biết cụ có ra ngoài ấy? Chắc chắn cụ sẽ ra rồi, anh
thừa hiểu tính cụ, thà rằng mình có phải chết đi chăng nữa nhưng sẽ không để
tiếng xấu với làng nước, hai anh em anh không kịp về cụ ra làm thay rồi. Thế
còn đĩ Thị, liệu có bế cu Sơn ra ngoài đó? Không phải bỗng dưng trong lòng anh
cu thấy chộn rộn, có làm thì giờ này chí ít cụ cũng phải về rồi chứ, lại cả đĩ
Thị chắc mang cu Sơn ra ngoài đấy cũng không về cho, không biết là chuyện không
hay với làng hay là với chính gia đình mình đây!? Mồ hôi chẩy tràn xuống mắt
anh cu cũng không nghĩ tới vuột đi cho đỡ sót. Rặng sà cừ còn tốt um sau trận
lụt không thể che khuất hết đám người đang tụ tập hai bên bờ sông Vàng. Làng xã
ra đông thế mà mình không về kịp. Bảo chú Dạ về trước nhưng anh cu sợ mình anh
không lo được việc chị dâu nên cứ nán theo cùng về tới đầu làng. Nhưng mà sao
giờ này còn tụ tập ngoài ấy làm gì nữa?
Chuyện gì không hay
rồi! Anh cu Diệc nghe rõ từng tiếng chửi bới thô tục của cả hai bên bờ sông.
Anh lách mọi người lên được phía trước thì một loạt gạch đá bên bờ Thuận Thanh
được đám thanh niên ném tới tấp sang. Họ không hề có ý định ném doạ, có hòn
gạch lát sân hẳn phải mang từ nhà ra đập vào thân cây sà cừ ngay cạnh xuýt văng
vào mặt khiến anh cu Diệc phải lùi lại. Thế này đâu có phải ngày khởi công khơi
sông mà là cuộc dàn quân đánh nhau giữa hai thôn. Tiếng hò hét chửi càn ngay
sau lưng, anh cu Diệc quay lại thì xuýt bị tay thước của trương Bân va vào. Anh
giữ tay trương Bân lại hỏi:
-Chuyện gì thế anh
trương?
Trương Bân dường như
phải chửi cho đủ câu mới trả lời anh, một tay chống nạnh, tay kia cầm thước xỉa
xói:
-Mẹ cha cái quân
Thuận Thanh du thủ du thực, chỉ trộm chó bắt gà là giỏi, có giỏi thì lội qua
bên này, ông đánh cho tuốt xác!
Mặt vẫn còn đỏ phừng
phừng đầy vẻ tức giận, trương Bân nói mà cái mồm há ra như muốn nuốt sống anh
cu Diệc:
-Anh cậy buôn tây
bán đông kiếm được nhiều tiền nhiều của thì coi thường cái làng này chứ gì!...!
Hắn ta còn nói gì
nữa anh không cần biết bởi anh đã nhìn thấy ông mình đang đứng cách không xa.
Ông cụ chắp tay như vái xin đám thanh niên đang lăm lăm cuốc xẻng trong tay,
mặt đằng đằng sát khí, chỉ như chực đợi lệnh là xô dạt ông cụ để xông lên chiến
đấu:
-Tôi xin các anh,
thế này còn ra thể thống gì nữa! Về đi! Việc này để làng xã họp bàn, mời quan
trên về xem xét.
-Chúng nó dám nói tổ
tiên làng mình là lũ trộm cắp trôi dạt về đây, bị giời đầy đoạ thế mà chịu được
à! Mình đào đất nhà mình chứ có đào mồ móc mả nhà chúng nó đâu mà chúng nó ngăn
cản.
Anh cu Diệc khó khăn
lắm mới lách được qua đám thanh niên đến gần bên ông mình. Sắc mặt cụ Cờ tái
nhợt, tay chân run lẩy bẩy, vừa nói vừa thở hổn hển, có lẽ do xúc động và mỏi
mệt quá. Anh đỡ vai ông kéo ra khỏi đám đông. Nhưng cụ Cờ dứt khoát không theo.
-Sao bây giờ anh mới
về! – Cụ Cờ gắt anh cu Diệc: - Ông không thể về được, các anh mà xông sang đánh
nhau là tôi chết trước mặt các anh ngay!
Dường như hành động
của cụ Cờ chẳng làm lay chuyển ý chí của đám trai hai làng. Lý Ngang đứng giữa
đám người chỉ tay lên trời, ra giọng kêu gọi:
-Ở đây tôi là người giải quyết việc làng, đề nghị ông cụ không được ngăn cản,
đây không những là chuyện cơm ăn mà còn là danh dự! Chúng mày, ném mạnh vào!
-Ném đi!
-Đứa nào về nhà
chuyển gạch ngói ra đây, ném đất thế này ăn thua mẹ gì, đống gạch vỡ ở sau
chuồng lợn nhà tao ấy! – Nhà Duân nhẩy lên kích động.
Đến nhà Duân hiền
lành mà còn phản kháng quyết liệt thế hẳn sự việc đã xảy ra phải tồi tệ lắm, để
cụ ở đây không thể được, anh cu Dược nài nỉ:
-Thế thầy con đi đâu
rồi?
-Thầy anh lên quan
rồi. Ai đời đang êm ấm, mà nào có bên nào thiệt thòi hơn bên nào đâu mà bỗng
dưng thù hằn đến thế này cơ chứ! Giời ơi!
Cụ Cờ đuối sức lắm
rồi, phải tựa vào cháu mình mới đứng nổi. Mặt trời đã ngả sang tây. Những bóng
người đổ rạp xuống cạnh bóng cây. Ánh nắng chiếu xiên
trên khuôn mặt cụ Cờ, những giọt nước mắt đã bị vón khô lại như những giọt nhựa
chuối. Ông cụ đứng không nổi nữa ngã khuỵ xuống. May mà đã lường được trước,
tay anh cu Dược còn đỡ kịp cụ. Vừa khi ấy anh cu Dạ cũng tìm được ông mình, anh
nhanh chóng xốc cụ lên vai chạy về nhà.
Đĩ Nụ bưng nồi cháo
đặt lên trên bàn rồi múc ra hai bát. Nó cho đường vào bát nguấy đều, thận trọng
thổi cho nguội.
-Để u ngồi bàn ăn
cũng được, con mang vào để cụ ăn cho nóng. Bữa sau con thịt con gà nấu cháo cho
cụ, cháo đường cụ ăn không quen.
Đĩ Nụ thận trọng
bưng bát cháo vào buồng trong cho cụ. Anh cu Dược đỡ cụ ngồi dậy. Tưởng chừng
sự việc bên sông Vàng sẽ quật ngã cái tuổi ngoài tám mươi của cụ nằm bẹp xuống
giường nhưng cụ Cờ đã gạt tay cháu ra, gắng gượng ngồi dậy, tìm guốc định bước
xuống giường. Đĩ Nụ vội đặt bát cháo xuống cùng cha đỡ cụ.
-Cụ ăn bát cháo cho
lại sức đã, từ sáng tới giờ rồi còn gì! - Đĩ Nụ năn nỉ.
-Cụ cứ yên tâm đi,
cụ về là hai bên giải tán luôn rồi.
-Sao thế!?
Đã sống ngoài tám
mươi năm trên cõi đời, đã đi đó đây nhiều nhưng chưa khi nào cụ Cờ lại thốt lên
một câu hỏi đầy ngạc nhiên thế. Dân hai làng đang hoà hữu, con sông Vàng là của
bên ấy, bên này có khô hạn lại cùng rủ sang tát nước cho nhau, thế mà nay khơi
cho rộng cho sâu để cùng hưởng hạt nước trời ban là đánh nhau. Và rồi can ngăn
mãi, thuyết phục mãi chẳng ai nghe ai, thế mà cụ vừa về là lại kéo nhau về
theo. Lại còn hát hỏng đâu ở ngoài cánh Đỗ của nhà lý kia nữa. Chẳng lẽ lỗi là
ở cụ, ở gia đình này, nhất định cụ phải sang nhà lý hỏi cho rõ căn nguyên.
Ngọn đèn sắp cạn dầu
leo lét cháy, ánh sáng cố bấu víu vào đâu đó cho vững để mà bùng lên nhưng
không nổi nên cứ ngả nghiêng chực ngã xoài xuống lụi dần. Khuôn mặt lý Ngang gồ
ghề những hốc tối chẳng khác gì cục đá, của trương Bân thõng thệu như miếng
khăn rách nát. Nhà Duân dường như sợ phải nhìn vào những bộ mặt đó nên gục mặt
xuống bàn. Hơi men đã hùa cùng cái nhọc mệt trong ngày đang cố quật ngã ba con
người này. Làm sao mà quật họ ngã được, ánh mắt lý Ngang vằn những tia sáng đỏ,
nhoài người qua bàn lay nhà Duân.
-Đã say rồi sao?
Mang thêm cho chai nữa, gọi mà không đứa nào thưa à!
Nhà Duân chưa khi
nào lại được uống thoải mái như hôm nay. Uống cho bõ công gào thét từ sáng sớm,
uống để mình vui vì có rượu và bạn rượu, uống để tỏ lòng thành với nhà lý.
Nhưng rượu của nhà lý thế nào mà uống đến thế mà chưa thấy ngấm, những câu chửi
bới hồi ngày cứ văng vẳng ngay bên tai, đôi cẳng chân sao cứ tấp tểnh chỉ chực nhẩy lên như lúc anh cu
Diệc xuất hiện, nhà Duân ngẩng lên thì đám người bên sông Vàng lại hiện ra mồn
một trước mặt. Vui! Phải uống thêm vài chén nữa, lần này sẽ nhấp tí một để xem
rượu nhà lý khen có thật là ngon, hết mấy lít rồi mà sao chả thấy say, hay nhà
lý sót tiền đổ thêm nước lã vào. Đĩ Son mang rượu lên. Sao hôm nay không đỏm
dáng như hôm quan tri về, váy vén lên tận bẹn khoe hai bắp chân như cột nhà, áo
thì chả mặc mỗi cái yếm buộc trễ thế trơ hai cái vú thẽo thẹo như vú lợn sề,
phát khiếp. Thế mà thằng trương kìa, mắt đỏ ngàu nhìn thòng thọc vào mụ ta. Hắn
say rồi.
Bỗng tiếng cụ Cờ
ngoài cổng gọi vọng vào:
-Ông lý có nhà không
đấy!
Đàn chó xồ ra sủa
nhặng xị. Lý Ngang giật mình nhỏm dậy, hỏi:
-Ai thế?
-Tôi đây!
Lý Ngang hốt hoảng
buông chai rượu đang rót xuống giục hai bạn rượu:
-Cụ Cờ đấy! Xuống,
xuống dưới kia!
Lý Ngang đẩy hai tên
xuống cửa sau, cố dặn lại:
-Về ngay đi, ngày
mai cứ thế mà làm!
Cụ Cờ lẩy bẩy bước
qua bậc cửa vào nhà. Đàn chó quẩn lấy chân. Lần đầu tiên cụ bước chân vào nhà
lý. Hơi rượu nồng nặc, mùi thức ăn thừa ngai ngái tanh, cụ rùng mình lành lạnh.
Biết được thế này thì chẳng vào để cho cái cảm giác chờn chợn khiến cụ mất tự
tin.
-Chết thật, tối tăm
thế già cả rồi còn đi ra đường làm gì, con cháu đâu, rõ khổ, ngồi xuống đây thở
đã rồi hãy nói, xem chừng nhọc quá đấy cụ ơi. – Lý Ngang kéo dài giọng nói như
đùa như cợt ông cụ.
Quả thực đi tới đây
cụ đã thấy hơi thở mình nặng nhọc lắm rồi, muốn ngồi xuống ghế cho dễ thở nhưng không có đống thức ăn trên
bàn kia cụ chẳng thèm ngồi, huống hồ. Cụ cố nói cho nhanh thắc mắc của mình
nhưng cứ bị đứt quãng bởi hơi thở nặng nhọc và mất bình tĩnh:
-Tôi... hỏi thật anh
lý... tại sao hôm nay lại ra cơ hồ thế, anh là lý... trưởng hẳn anh phải biết.
-Tại con cháu bây
giờ ngỗ ngược thế, cụ bận tâm làm gì, để sức cho khoẻ mà sống lâu.
Anh ta nói thế là cụ
biết không thể tiếp tục câu chuyện nữa rồi. Cụ trách mình sao lại vội vàng đã
sang bên này, chờ anh tổng về rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi, sự thể thế nào rồi sẽ
rõ cả. Già cả rồi lại suy nghĩ sai lầm vậy sao, tại cụ nóng ruột quá, làm việc
gì cũng phải đàng hoàng, minh bạch.
Cụ Cờ về rồi, lý
Ngang vươn vai thở sâu sảng khoái, thế là nhà ấy đã bị mình cho vố đau, giờ thì
cứ vắt sức ra mà lo việc không công đi. À mà còn đĩ
Nhụ về rồi sao không thấy mặt, đến tháng này chắc cái bụng đã nhôm nhổm lên
rồi, ngày mai phải gặp bằng được để xem sao. Lý Ngang lên giường vừa ngáp dài
vừa gọi vợ lên dọn mâm, giấc ngủ đến cùng men say lâng lâng.
Vợ chồng sống với
nhau gần hai chục năm buồn vui thế nào thoáng qua nét mặt biết ngay, cái bộ
răng chìa ra cười hơn hớn thế niềm vui phải lớn lắm, chưa bao giờ đĩ Son được
thấy. Chả biết trong làng ngoài xã có việc gì, nào có bao giờ ông ấy tâm sự lấy
một câu, hôm nay vui thế thể nào cũng hục vào háng vợ, đã vậy cho nằm chỏng
khoè một mình. Hồi nãy, cái tay trương cứ chòng chọc nhìn vào đùi mình, hắn say
rồi nhưng cái tình tính tang thì càng say càng khiếp, hắn đang mang ơn chẳng
nhẽ không bắt hắn trả ơn. Đĩ Son luổn sau bếp chặn đường, để cho nhà Duân chui
qua bờ rào trước, đến lượt trương Bân vửa tuồn người ra thì bị thị kéo chân trở
lại. Trương Bân giật mình, hốt hoảng tưởng bị ma lôi.
-Làm gì mà u ơ như
bị ma bóp cổ thế!
-Bà làm em hoảng
hồn, còn hơn bị ma bóp cổ. – Trương Bân tỉnh hẳn rượu nhận ra sự việc, ỡm ờ. –
Bà lý có việc gì sai bảo, có cần cu Duân không hay chỉ mình em.
-Lên gác rơm chuồng
trâu!
Càng về khuya gió
mùa càng tràn về mạnh hơn. Buôn buốt lạnh. Hơi rơm cùng mùi phân trâu tê tê
cay. Trở trời, đàn trâu khó ngủ phì phì thở suốt đêm. Trương Bân nhỏm dậy nhìn
trời.
-Canh tư rồi đấy,
tôi về đây.
-Lát nữa, về làm gì
vội. Sao lũ trâu thức suốt đêm là thế nào nhỉ.
-Bà thì có khác gì
trâu. – Trương Bân vần đĩ Son ra.
-Hỗn hào thế à! Về
làm gì giờ này!
Tiếng gà gáy canh tư
râm ran.
-Ngày mai quyết liệt
lắm, về ngủ cho lại sức.
-Tối mai mang theo
cái bao tôi xúc cho ít thóc. Về đi!
Như một người lính
trước khi ra trận được động viên kịp thời, ánh sáng ban ngày vừa rạn ra sau
khối mây hình thù giống như một lưỡi gươm treo lơ lửng phía trên rặng tre,
trương Bân đã sấn nhát mai xuống lòng sông Vàng. Dường như chỉ chờ tiếng thịch
của lưỡi mai cắm vào đất, trai đinh của Thuận Thanh tay dao tay đòn kéo nhau ra
sát mép nước sông Vàng tuyên chiến. Họ bắc loa miệng réo to về phía làng Trằm:
-Đúng là tổ tông
chúng mày toàn quân trộm cướp, tờ mờ sương đã ra đào trộm rồi hả!
Và cũng chỉ chờ
tiếng chửi bên kia cất lên, lập tức nhà Duân vơ đòn gánh chạy khắp làng và cứ
đến trước cổng nhà cụ Cờ là dừng lại cố tình gào to hơn:
-Có làng nào nhục
như làng này không, chúng nó đào mồ móc mả tổ tiên lên mà cứ đắp chăn ngủ khò
là thế nào, hở giời!
Không phải chờ đến
khi nhà Duân gào lên cụ Cờ mới biết sự tình. Cả đêm cụ không ngủ, ngong ngóng
chờ thầy cu Dược về. Chả biết quan bận việc gì mà chưa thấy về. Đến khi trương
Bân vác mai đi ngang qua ngõ cụ càng thêm rối ruột. Chẳng hiểu sự thể ra sao,
khi làng có việc thì trương Bân lúc nào cũng cắp cái thước ở nách nạt nộ mọi
người chứ đâu lại xăng xái công việc thế này? Ngoài tám mươi năm sống trên cõi
đời đã khi nào cụ biết sét nét con người, thế mà nay sự thể cứ mù mờ chẳng biết
những người con của làng Trằm này đang mưu mô việc gì, liệu quan có về sớm nay
không, nếu không giải quyết nhanh sẽ lại sinh chuyện mất thôi. Cũng chẳng phải
chờ nhà Duân kêu gọi, cụ Cờ lặng lẽ hướng về sông Vàng. Các khớp xương lạo xạo
mỗi khi chuyển động, từng thớ thịt đau như dần, bụi đường bị ngọn gió heo may
cuốn theo cùng bước chân khó nhọc của cụ.
Và dường như chỉ chờ
đến khi cụ Cờ tiến về sông Vàng, lũ trai đinh, dẫn đầu là nhà Duân với vẻ mặt
hùng hổ kéo nhau theo sau. Như được tiếp thêm sức mạnh, trương Bân cắm phập cái
mai xuống lòng sông Vàng, tay giơ lên trời, thề:
-Tao mà không vặn cổ
được lũ Thuận Thanh chúng mày thì tao không về!
Quân Trằm đồng thanh
hô:
-Quân trộm gà bắt
chó!
Quân Thuận Thanh hò
vang:
-Ê...ê...! Đồ cướp
đường!
Lý Ngang đi tới kích
động:
-Ném bỏ mẹ chúng nó
cho tao, thằng nào bị sao tao nuôi!
Quân Trằm nhất loạt
ném gạch đá sang bờ bên kia.
Quân Thuận Thanh có
người đã lội xuống mép nước, sợ gạch đá trúng phải vội lùi lại phía sau.
Trương Bân cùng nhà
Duân lội ào xuống sông, tay vung đòn gánh, miệng gào lên tuyên chiến.
Tình thế ngày càng
căng, rất có thể sẽ dẫn đến đổ máu, cụ Cờ gạt anh cu Dược và anh cu Dạ đang kéo
cụ về, quỳ xuống chắp tay vái hai bên:
-Tôi lạy các anh!
Các anh không thể làm thế này được!
Những giọt nước mắt
của cụ lăn dài xuống.
Những giọt nước mắt
của cụ đã khiến không ít trai đinh của cả hai bên buông gạch đá xuống, lùi lại
phía sau.
-Chả nhẽ phải chịu
nhục trước quân trộm gà bắt chó bên kia sao!
Lý Ngang tiến lên
trên chỉ tay như ra lệnh. Hưởng ứng theo, trương Bân cùng nhà Duân lội ra xa
thêm, vung đòn gánh thách thức:
-Có giỏi đứng lại,
ông sang phang què từng thằng!
Bị kích động lại,
quân Thuận Thanh tiến lên, gạch đá lại ném tới tấp sang bên Trằm.
Nhà Duân chùn bước
ôm đầu rục xuống nước né tránh. Còn lại trương Bân, như người lính cảm tử, giơ
đầu ra hứng chịu mũi tên hòn đạn của kẻ thù.
Bỗng thấy trương Bân
ôm đầu, một dòng máu chảy qua kẽ tay. Dòng sông Vàng loang một vệt đỏ.
Bên Trằm, vài trai
đinh lội ào xuống sông dìu trương Bân. Trên bờ hét lớn căm thù:
-Đổ máu phải trả máu!
Bên Thuận Thanh giật
mình, đứng chững lại. Sự việc khiến họ không ngờ tới, những viên gạch đá ném ra
chỉ để đe doạ.
Bên Trằm nhất loạt
rút dao từ sau lưng áo ra, chỉ chờ lôi được trương Bân vào bờ và có ai đó hô là
tiến lên, vẻ mặt đằng đằng sát khí.
Lúc này các cụ tiên
chỉ của làng cũng đã có mặt, tất cả cùng cụ Cờ giang tay ra cản bước đám trai
đinh lại. Tiếng cụ Cờ khan như tiếng gió, cố nói to:
-Các anh mà làm
chuyện này là tôi lội xuống sông chết trước mặt các anh đấy!
Lý Ngang với vẻ mặt
tức giận, gí mồm vào sát mặt cụ Cờ nói gằn:
-Nếu muốn chết sao
lúc nãy không dám đương đầu như thằng trương Bân, bây giờ chỉ dám nói xuông.
Nước sông tới thắt lưng xuống để tắm mát à.
-Anh là lý trưởng mà
dậy con dân thế à! Các anh mà xông lên là tôi chết ngay để xem có dám bước qua
xác tôi không.
Vừa nói cụ Cờ vừa
bước ra giữa sông Vàng. Đám trai đinh được kích động cùng hò nhau xông lên.
Tới giữa sông, cụ Cờ
ngồi xuống. Nước ngập qua ngực, ngang cằm, rồi mái tóc bạc chìm dần xuống phất
phơ giữa dòng nước.
Đám trai đinh dừng
bước tiến lại. Anh cu Dược, anh cu Dạ, cả đĩ Thị bổ xuống sông, rẽ nước chạy
lại bế cụ Cờ lên.
Người cụ Cờ cứng
lạnh như khối đá tảng. Không thể đặt cụ nằm xuống được bởi chân tay cụ bị co
cứng trong tư thế ngồi khoanh tròn chân, tay chắp trước ngực.
Ông tổng cùng quan
tri huyện Thăng về đến đầu làng đã nghe thấy tiếng khóc thảm thiết từ phía sông
Vàng vọng lại, tiếng người già con trẻ gọi nhau. Linh tính có chuyện chẳng
lành, ông tổng sấp ngửa chạy. Mọi người hối hả chạy theo. Bên bờ sông, người
đứng chắp tay, người quỳ vái, quây thành vòng tròn. Cả người dân làng Trằm, cả
người dân Thuận Thanh đứng lẫn với nhau. Tiếng gào xé lòng của đĩ Thị. Tiếng
nấc hụt hơi của đĩ Nhụ. Ông tổng rẽ mọi người bổ vào.
-Cha! - Ông tổng gào
thất thanh.
Cụ Cờ vẫn trong tư
thế ngồi chắp tay, vững như đá tảng. Tri huyện Thăng chen vào, kéo tay ông tổng
để hai thầy trò ôm lấy cơ thể cụ Cờ. Lúc sau chân tay cụ mềm lại, rồi thân
người từ từ nằm xuống trong vòng tay con trai.
-Tất cả dân Thuận
Thanh nghe đây, lỗi này ở các người, bây giờ về đốn cây bắc cầu qua sông để
mang quan tài sang lo hậu sự cho cụ! - Tiếng lý trưởng Nhất của Thuận Thanh
đanh như tiếng súng bên mang tai, lũ trai đinh lặng lẽ lội qua sông về làng.
Lý trưởng Nhất quay
lại quỳ xuống trước mặt ông tổng tạ lỗi:
-Trăm lần lạy bác,
tất cả là lỗi tại tôi! Bác cho phép dân chúng tôi lo chu toàn cho cụ để tạ lỗi.
Ông tổng đỡ lý
trưởng Nhất dậy.
-Ông đi vắng, đâu có
phải lỗi ở ông. Hai bên đang hoà thuận thế mà bỗng dưng nên cơ đồ này.
Ngọn gió mùa ào về
mạnh hơn, kéo rạp ngọn phi lao xuống như cúi đầu lạy linh hồn cụ Cờ, rặng xà
cừ xào xạc như tiếng than ai oán. Những
khối mây đen từ mạn Bắc trôi về, bầu trời xầm xì. Số cụ vất vả thế, mưa bây giờ
thì khổ, tấm thân cụ nằm bên bờ sông thế này thì lạnh lắm, linh hồn bị cuốn
theo mưa theo gió thì tội. Những đám mây đen vần vũ trôi ngang qua làng Trằm.
Một vài giọt mưa lạnh nhỏ xuống. Lúc sau, những tia nắng trong như thuỷ tinh
rạn ra. Mây đen kéo đi, bầu trời trở nên trong sáng. Nhưng cái lạnh đang dần
ngấm sâu vào cơ thể, ai nấy rét run cầm cập. Đau thương này chẳng phải của
riêng nhà ông tổng, cầu chưa kịp bắc xong, những người dân Thuận Thanh lội ào
xuống sông Vàng để sang tiễn đưa cụ. Không ít người trằm mình xuống dòng nước
lạnh, than trời sao nỡ nhẫn tâm.
Cây cầu bằng vải trắng được bắc từ giữa lòng sông Vàng tới bờ để linh hồn cụ Cờ có lối lên. Cây cầu tre được bắc xong để cụ chứng minh cho mối giao tình giữa hai làng. Tiếng kèn, tiếng nhị réo rắt tiễn cụ về với tổ tiên. Tiếng trống thùng thùng như tiếng lòng quặn thắt của người ở lại. Chiếc quan tài sơn son như ngọn lửa bùng cháy lên bên bờ sông như lời hiệu triệu dân hai làng cùng chung sức khai sông mở bến mới. Nhát mai của tri huyện Thăng như lời hứa với người mà ông tôn kính.
Khi nắm đất cuối cùng đã nèn chặt tấm thân xác cụ Cờ xuống ba tấc đất, mọi người kéo nhau ra về thì bỗng có người khách qua đường dừng lại. Người ấy gọi ông tổng lại hỏi nguyên do vì sao đám tang có đông người đau thương như vậy. Ông tổng kể rõ ngọn ngành. Ông khách lắc đầu nói chậm rãi:
- Thế thì hai làng phải bắc cây cầu đá mới tạc được công ơn của cụ. Nhớ chân cầu phải yểm
rùa đá mới yên ổn, lâu bền được.
Ông khách hỏi tuổi,
hỏi nhà. Ông khách lại lắc đầu:
-Tuổi ông nhà hướng
này không được rồi. Rừng mất - nhà mất, chợ tan – nhà tan!
Nói rồi ông khách đi
thẳng. Mọi người xúm lại hỏi tại sao ông không hỏi, vậy tránh hoạ bằng cách
nào.
-Phúc hoạ đời người!
Ông tổng buông tiếng thở dài, đầu cúi gục
xuống, dường như chuyện này với ông đã biết từ lâu rồi.
*
* *
CU SƠN TỤT KHỎI LÒNG
BỐ LŨN CŨN CHẠY LẠI CHỊ, MẮT CÒN NGẤN NƯỚC. TỘI cho con chị, bằng tuổi ấy nhà
có khó mấy thì giờ này cũng đang đùa nghịch với nhau ở sông Vàng, đằng này ành
ãnh ẵm em, lại còn lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa giúp anh chị, không lúc nào ráo
mồ hôi trên lưng áo. Ông tổng thở dài, vợ mất, rồi đến ông cụ mất, dồn dập
trong vòng có vài tháng, lại được ông khách qua đường phán chẳng ra gì, người
cả nghĩ như ông không buồn sao được. Buồn như đá đeo trĩu bên người khiến ông
thay đổi hẳn, ngày xưa hay cười là vậy bây giờ nhà có hai cái bóng âm thầm bên
cu Sơn. Ông muốn ôm con để vơi nỗi buồn, nhưng cu Sơn chỉ bám dịt lấy chị khiến
ông chẳng biết làm gì. Ngày nào cũng như ngày nào, lặng lẽ như đá tảng bên bàn
nước, uống hết ấm trà này đến ấm khác, khi nào có công có việc cần lắm mới ra
khỏi cổng rồi vội vội vàng vàng cáo từ ra về. Tiếng trống thùng thùng từ sân
đình dội về cũng không làm ông thay đổi tư thế ngồi.
-Đến giờ làm lễ rồi,
thầy không ra ngoài đình à? - Đĩ Thị dưới bếp hỏi vọng lên.
- Còn mưa không con?
-Tạnh rồi, thầy ra
ngoài ấy không các cụ lại mong!
-Thầy biết rồi!
Ông trả lời con như
tự nói với lòng mình. Hôm qua các cụ sang mời lại, ngày mai làm lễ cất nóc
đình, xoắn xoả nhất định ông tổng phải ra, chuyện buồn của gia đình gác lại để
vui với bà con. Mọi lần thể nào các cụ cũng xin ông vài chữ hoặc góp ý nên làm
thế nào, nhưng lần này việc lớn thế không dám để ông bận tâm. Và thực sự ông
cũng thấy lòng mình dửng dưng. Ông đứng
dậy xỏ guốc, đi ra ngoài đình cứ như người rỗi thì đi chẳng có chủ định gì. Ông
ngó đầu vào bếp dặn con:
-Tí nữa đĩ Nụ về bảo
nó trông chú cho một lát rồi ra đình mà chơi, không thì bảo nó cơm nước, con bế
em ra đấy cũng được, trời tạnh rồi đấy.
-Vâng!
Ông biết nó vâng đấy
nhưng rồi sẽ chẳng buông em cho người khác. Không khéo nó bị trầm cảm, rồi lại
khổ cả đời. Nó cứ như là cái đòn gánh sinh ra để gánh hoạ cho nhà chăng mà sao
lúc nào cũng chỉ lo cho người khác. Mà không thế thì cu Sơn chẳng ai trông nom,
rồi lại sống lay lắt, sài đẹn chứ sao được trùn trũn thế. Ông tổng cầm guốc lên
tay, dò dẫm sục từng bước chân xuống mặt đường lầy lội bùn đất, chập chững
những ý nghĩ về cô con gái. Đi đường trong làng lát gạch nghiêng sạch sẽ nhưng
lại phải qua cổng nhà lý, lần nào đĩ Thị cũng nhắc sợ gì thầy cứ phải tránh
thế. Nó rồi sẽ ngang bướng chứ chẳng hiền lành như những người trong dòng họ
đâu. Đúng là chẳng có gì phải sợ, thế nhưng đánh đổi cái vất vả để không phải
ấm ức trong lòng thì ông sẵn sàng. Đi qua nhà ấy đến con chó đá ở ngoài cổng
ông cũng cảm thấy nó đang chầu chực trong bóng tối, nhe răng chỉ rình đớp trộm.
Nếu như hôm ấy không cần phải lên trình báo quan tri, ông ở nhà thì sự việc sẽ
không diễn ra như thế. Đúng là loại người ấy khác gì chó chỉ rình đớp trộm. Ông
cũng tự nhận thấy từ ngày ấy ông sinh ra tính bẳn gắt, hay văng những câu dung
tục, nhiều lúc muốn kìm mình nhưng cái lý chẳng đè được cái tâm tự trào ra
ngoài.
Mấy hôm rồi mưa xà
xã khác gì mưa dầm tháng hai, chỉ khiến con đường lầy lên chứ chưa đủ để ngập
cánh đồng. Nhưng nếu là mọi năm dưới đồng Phệ đã bàng bạc màu nước, nay thửa
ruộng nhà nào cấy sớm mà màu xanh mướt quá, như vậy là việc khơi sông có hiệu
quả rồi. Ông dừng lại nhìn về phía sông Vàng, màu đất mới vật lên vàng ánh như
sợi dây tơ hồng vương cuối cánh đồng. Công việc cũng được khá rồi đấy, ông ngạc
nhiên thốt lên, trong lòng chộn rộn niềm vui. Từ ngày ông cụ mất ông đã không
một lần đi về phía ấy, không một câu hỏi thăm công việc mỗi khi các con đi làm
về. Cũng bởi nhà lý làm ông đau quá. Ngay cả tri huyện Thăng cũng bị vạ lây, vì
vô cớ bắt người tra hỏi để tìm ra nguyên nhân xô xát giữa hai làng, nhà lý kiện
khiến ông bị mất chức. Người trong một làng thì cũng ví như cùng nhà cả thế mà
cắn xé nhau vậy sao. Ông có nhân từ mấy thì cũng không thể giữ hoà khí để giữ
ấm tình làng nghĩa xóm được. Có tiếng chân người chạy lép nhép phía sau, ông
quay lại. Thì ra trương Bân. Hắn cắt đầu trọc từ khi nào ông không biết, nhưng
như vậy thấy hợp với bộ mặt quắt bằng hai ngón tay chéo với hai bên lưỡng quyền
nhô cao như hai cục đất gắn vào. Bộ mặt của tên đồ tể. Trương Bân chạy, tay
thước vung vẩy như chỉ chực vụt người, miệng lẩm bẩm câu chửi cha bố ai đấy ông
tổng nghe không rõ. Chắc là có ai đó bất tuân lệnh nên trương Bân chạy về đình
tìm lý Ngang báo cáo. Thế của lý Ngang và trương Bân bây giờ cũng thay đổi
nhiều lắm, hôm nào đi làm về anh cu Diệc cũng kể lại vài vụ nạt nộ, đánh người
của họ. Chả gì quan tri bây giờ có họ xa với nhà lý.
Mưa thế mà nước ao
đình vẫn trong như ngọc, từng đàn cá mương rạn người nhao lên rỉa chân ông
tổng. Bước chân vào sân đình bao giờ thân thể cũng phải sạch sẽ, ông tổng bứt
nắm cỏ kì cọ cho sạch bùn bám vào chân. Không biết ai đánh trống mà tiếng dồn
khoẻ khoắn, từng nhịp dứt khoát. Hẳn anh ta phải có cơ thể cường tráng, có ý
chí mạnh mẽ. Chắc chỉ là người qua đường, nhanh lên kẻo anh ta đi mất không
được gặp mặt làm quen, con người thích giao du xưa trong ông trỗi dậy. Hay
chăng trong đám thợ có người như vậy. Nếu được thế thì đình làng gặp phúc lớn.
Ông vội vàng dạt mọi người đi thẳng về nơi đặt hương án. Bên chiếc trống không
có người, chiếc dùi gác ngang mặt trống, tiếng thùng thùng đã tắt lặng từ khi
nào ông tổng không rõ, mọi người lên tiếng chào ông cũng không để ý.
-Ai vừa đánh trống
đấy cụ? - Ông hỏi cụ tiên Huề đang loay hoay cài lại cúc áo.
-Ông ra rồi đấy ư,
đã phân được cho ai cầm chầu cho buổi lễ đâu, ông ra rồi thì cứ như mọi khi ta
tiến hành.
-Không, tôi hỏi là
vừa rồi ai đánh trống?
-Nào tôi có biết.
Thì người làng cả chứ có ai.
Người làng cả! Từ
trước tới nay có ai dóng được những hồi trống hùng tráng thế đâu! Thế thì ai,
hay ông nghe nhầm do ảo giác đem đến khi mà trong lòng ông lúc nào cũng canh
cánh về một mái đình khang trang? Mà biết đâu vừa rồi đó đúng là người làng mà
bấy lâu nay ông tự giam mình trong nhà nên không biết được. Làng có đình lớn
rồi thì cũng cần phải có những người như thế mới xứng. Ông như người đi xa về,
đi tới từng nơi, vuốt từng cây cột cái, sờ từng bệ đá, ngắm từng chi tiết hoa
văn, từng nét khắc tinh xảo. Bề thế thì chưa bằng nhiều nơi ông đã qua, nhưng
được thế này là mỹ mãn rồi. Ông hởi lòng hởi dạ. Ông đi về nơi đầu hồi, nheo
mắt ngắm lấy đường thẳng sẽ đặt cây nóc. Ba tốp thợ từ ba nơi khác nhau, mỗi
tốp một gian không ai biết việc ai làm, liệu rồi cây nóc có được thành một
đường thẳng. Nỗi lo khiến ông quên việc tìm ra người đánh trống.
-Mời ông tổng vào
làm lễ, đến giờ rồi!
Các cụ tiên chỉ của
làng kính trọng mời ông đứng lên trên như người chủ lễ. Ông tổng còn đang vuốt
lại nếp chiếc ao the cho thẳng thì đường thước của trương Bân xua lũ trẻ vung
qua vung lại trước mặt khiến ông phải lui lại tránh, bùn đất văng cả vào người.
-Bọn trẻ con lui hết
ra ngoài bờ ao kia, chỗ của chúng mày ở đây à!
Trương Bân vung
thước như múa gậy làm oai với bọn trẻ, thế nhưng đường thước chỉ quanh quẩn
xung quanh người ông tổng như bỡn cợt. Trẻ con chạy ré lên, lùi chỗ này chỗ
khác lại tiến lên thành thử chẳng đuổi được ai. Có đứa trẻ nào ném đất vào
trương Bân, rồi giả giọng trêu:
-Ới ông trương, ông uống hết cả váy vợ để tôi phải cởi truồng hả ông trương!
Trương Bân nghiêng
đầu về phía đứa trẻ ấy chửi:
-Mẹ cha chúng mày,
đầu ông có sẹo cũng là để chúng mày có cái đổ vào mồm, dám bỡn cợt ông hả, từ
sáng đến giờ mới được có đấu rượu, chốc nữa ông đến nhà mày bắt thằng bố mày
đền rượu cho ông. Mẹ cha quân mất dạy!
Bọn trẻ ré lên cười
làm vui. Thì ra hắn cạo đầu là để khoe chiến tích, còn cái chuyện uống cả váy
vợ thế nào ông không biết, thế nhưng làm thế này còn ra thể thống gì nữa không!
Lễ giáo, khuôn phép của con dân làng Trằm đến thế này thôi sao! Cho dù hắn có
hằn có thù gì với gia đình ông thì trước nơi linh thiêng phải tỏ thái độ đúng
mực của người có vai có vế trong làng chứ. Anh cu Dạ thấy mặt thầy đã biến sắc,
biết được thầy đang gắng phải chịu đựng thế nào. Nếu như thầy không can ngăn
thì anh đã có biện pháp trừng trị cái thói ngông nghênh, cậy quyền cậy thế ức hiếp
người làng của trương Bân rồi. Đừng có gây hấn gì thêm con ạ, dân làng này đã
khổ lắm rồi, ai mang hoạ đến thì cũng lại phải tự gánh hoạ lấy thôi, anh cu Dạ
dằn lòng nghe lời thầy. Anh đỡ thầy mình đi lên hàng trên để làng chuẩn bị làm
lễ. Thầy lễ xếp áo ngồi xuống giữa chiếu. Tiếng chuông thỉnh vang lên. Các cụ
đứng sau chắp tay vái ba vái rồi quỳ xuống. Tiếng chuông thỉnh lần nữa vang
lên. Lần này tiếng chuông ngân nga bay vút như lời thỉnh cầu của con dân làng
Trằm gửi lên thượng ngàn. Tiếng chuông lần thứ ba vang lên. Lũ trẻ đang nô đùa
đứng chựng lại lắng nghe. Thế là trời xanh đã thấu tấm lòng của con dân làng
Trằm rồi mới cho tiếng chuông đanh đảnh vậy. Ông Tổng khấu đầu, lạy ba lạy.
-Vô phép các cụ!
Lý Ngang lom khom
lách qua hàng người đi lên ngồi xuống trước mặt ông tổng, liếc mắt nhìn thái độ
của mọi người có vừa lòng với hành động này. Không có đứa nào dám tỏ ý không
vừa lòng. Có vậy chứ, dân làng này cứ phải mạnh tay thì mới đâu vào đấy. Ở làng này ai có quyền hơn ta! Có được ruộng lúa tốt, có được mái đình khang
trang không có ta đây nhọc sức sớm hôm đôn đốc thì lấy đâu mà có. Nghe theo lời
tri huyện Châu quả là được việc. Nó trẻ người, là cháu ta nhưng không nghe lời
không được, dù sao cái đầu nó có hơn. Ta đây đấm thèm vào mấy hạt gạo của huyện
bổ xuống mà cái lão Thăng phải rào trước đón sau, phải cho con đĩ Nhụ quản lý
để trông chừng. Ta thích đuổi nó lúc nào cũng được, thế nhưng ngươi làm thế
khác nào vời đến cho ta xơi. Mà cái con đĩ ấy dạo này tỏ vẻ đoan trang, muốn
đụng vào người một tí cũng không xong, cái bụng phềnh phễnh thế chắc chắn con
trai. Lý Ngang hỉ hả trong lòng, quay xuống thì thào với ông tổng:
-Đĩ Nhụ đến ngày đẻ
rồi ông còn để ra ngoài ấy làm, nhẫn tâm thế.
Hắn ngồi chắn trước
mặt ông không thèm chấp, khác nào đứa trẻ thích làm hách, thế nhưng cái mùi hôi
gián quyện với mùi chua ẩm mốc trên người hắn bốc ra thì buộc ông phải ngồi
dịch ra và quay mặt sang nơi khác. Nhưng ông đâu được yên, hắn cố tình nhoài
người tận nơi, phả hơi thở nặng mùi vào mũi ông. Lại còn giả nhân giả nghĩa
nữa. Cốt cách của người đứng đầu dù chỉ là cái làng nhỏ bé thôi cũng phải quang
minh, chững chạc, trong buổi đại lễ thế này phải tỏ ra uy nghi, ông vẫn ước ao
được thế. Buổi lễ đình với ông đã hết sau tiếng chuông thứ ba. Còn tâm trí với
lòng dạ nào xem thầy cúng hành lễ ra sao, còn biết được dân làng hào hứng thế
nào. Tiếng chuông, tiếng trống như vọng về từ cõi hỗn mang, âm âm, u u. Anh cu
Dạ xốc nách ông đi trong một rừng người ngả nghiêng, những linh hồn xiêu vẹo.
“Cất nóc xong rồi thầy ạ!”. “Có khớp không?”. “Thẳng lắm thầy ạ!”. “Mọi người
có vui không?” “Dạ, vui lắm!”. Anh cu Dạ ghé vào tai ông, giọng hồ hởi. Nó vui
được thế chắc dân làng còn vui hơn. Còn ông, như người đi trong cõi mộng, mơ mơ
hồ hồ, trước mắt ông như có tấm màn màu vàng bao trùm lên trần gian.
-Ta về thôi! - Ông
tổng giục con.
-Các cụ dặn thầy ở
lại ăn cỗ.
-Không, ta về! - Ông
tổng dứt khoát.
Không ở lại uống hớp
rượu các cụ lại trách ăn ở không phải với làng, ông sợ điều ấy nhưng trong lòng
như có lửa đốt cồn cào không yên, thúc bách ông phải về. Ông không sợ phải ngồi
cùng chiếu với lý Ngang, ta sống với làng với nước chứ đâu gì việc đố kị ấy mà
mất tình làng nghĩa xóm. Nếu sợ vậy ông đã về từ lúc hắn ngồi xuống trước mặt
kia. Linh tính báo điều gì chăng?
-Đưa thầy về nhanh
con, sao chân thầy run quá, lại khó thở nữa, có lẽ cảm gió.
-Thầy để con cõng.
-Không, thầy còn đi
được!
Anh cu Dạ ôm ngang
người thầy dìu đi. Có lẽ thầy cảm thật, mặt tái nhợt, bước chân run lắm đi
không vững, phải cõng nhanh về đánh cảm không thì nguy mất. Anh cu Dạ chưa kịp
xoay người cõng thầy thì đĩ Thị hớt hải chạy đến.
-Thầy về ngay, chị
đĩ đẻ rồi!
-Gọi bà Sòn sang đỡ
chưa? – Anh cu Dạ hỏi.
-Bà ấy sang rồi, bảo
thầy về xem, chị ấy mệt lắm.
Đúng linh tính báo chẳng sai. Dạo này đĩ
Nhụ mệt mỏi lắm, bắt ở nhà không được, nằng nặc đòi ra chỗ thổi cơm cho thợ
đấu, thế thì nguy mất, mà ông quên không hỏi đĩ Thị xem nằm nhà hay ở ngoài cầu
Đá. Ông tổng hối hả bước thật nhanh, anh cu Dạ phải chạy mới theo kịp. Đi chậm
thôi thầy ơi, bị cảm mà ngã bây giờ thì khổ. Thầy không sao, anh chạy ù về
trước xem thế nào.
-Đi lối này cho nhanh, khi nãy tôi thấy
vợ chồng nó dìu nhau về nhà rồi.
Thế mới phải, đi đường trong làng có phải
qua nhà lý nhưng sẽ nhanh hơn. Ông không cần biết ai nhắc sau lưng, quay lại đi
vòng về đường trong làng. Bộ quần áo the đĩ Nhụ mới may cho dạo đầu năm, hôm
nay mới mang ra mặc đã dính bê bết bùn đất. Có tiếng bước chân chạy thình thịch
theo sau, ông không để ý làm gì cho mất thời giờ.
Trời lại đổ mưa. Những giọt nước nhoáng
nhoàng như tia chớp lao xuống trước mặt, ông vẫn cắm cúi bước. “Cất nóc xong
trời đổ mưa thế này làng ta phát lộc đấy nhẩy!”. Có ai đó nói chuyện với nhau ngay sau lưng
ông. Bước chân ông tổng chững lại. Ông vốn là người hay tự xét đoán mình, chẳng
hiểu tại sao ruột gan mình cứ rối như tơ vò, không biết mối nào mà gỡ. Thằng
cháu đích tôn ra đời là một mối, con dâu đang gặp nguy hiểm cũng là một mối,
đình làng rồi sẽ ra sao khi người đứng đầu làng chẳng ra thể thống gì cũng là
một mối, nhưng đâu phải những mối này khiến lòng ông đau quặn lại. Cất nóc xong
trời đổ mưa thế này, dân làng mừng là làng này có phúc lớn rồi, thế còn thằng
cháu đích tôn của ông thì sao rồi có là đứa quý tử của họ nhà?
-Con dâu đang nguy kịch, ông còn đứng lại
lẩn thẩn gì thế!?
Lý Ngang nóng ruột có kém gì ông tổng.
Đâu có phải lo lắng cho tính mạng mẹ con đĩ Nhụ, đâu có phải mừng vì có đứa con
ra đời, mà lý Ngang muốn mong được thấy nghiệt chướng thế nào.
-Anh theo tôi đấy à?
-Vâng, đến xem con dâu nhà ông đã bàn
giao lại đầy đủ chưa. – Mặc dù người đang run bấn vì hồi hộp nhưng lý Ngang vẫn
nói dối trơn truội.
Ông tổng dừng lại trước cổng nhà, lắng
nghe tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh đang vọng ra. Tiếng khóc lanh lảnh như mũi
tên xé màn mưa lao vào không gian. Tiếng khoẻ thế thì mẹ con nó chắc không sao
rồi. Có phải mừng quá mà bước chân không đưa ông tổng vội vàng vào với đứa cháu
đích tôn, cứ dùng dằng đứng ở cổng để cho mưa dội nước lên người. Cả đĩ Thị nữa
kìa, ngồi thần người ngoài hiên chứ không chằm bặp như hồi cu Sơn sinh ra,
chiếc khăn xổ tung vương trên vai để mưa hay mồ hôi bết bệt mái tóc. Tiếng khóc
của đứa trẻ khoẻ nhưng khàn khàn, lạ lẫm. Ông thấy cơ thể mình nhão nhuội như
bị nước mưa vò nhào. Có lẽ do mệt mỏi quá chăng? Ông tự vấn mình.
-Kìa thầy, sao lại đứng ở cổng, mưa gió
thế này?
Anh cả Diệc chạy ra giục, ông mới biết
rằng lòng mình đang dửng dưng. Ông vào nhà lau khô người, cố tỏ ra sốt sắng
nhưng cứ thấy chân tay mình lóng ngóng, không muốn chạm vào đứa bé. Đứa bé được
ủ ấm trong mấy vuông vải, chỉ hở khuôn mặt. Sao nó lại đen thế, giống ai đâu,
nhà ông tuy là nông thôn nhưng da dẻ ai cũng trắng hồng. Tại khi có chửa mẹ nó
uống nhiều thuốc bắc nên vậy, rồi lớn lên sẽ lại trắng như bố nó thôi. Ông đâu
biết được bố thật của nó đang đứng thập thò ngoài cửa. Linh cảm có người nhìn trộm
khiến ông quay ra.
-Này anh lý, sao lại thập thò ngoài cửa
thế, nhà có bà đẻ anh không kiêng à?
-Dạ, cũng vì việc làng việc nước cả thôi,
cháu hỏi xem chị đĩ nhà ta đã nhờ ai cơm nước cho thợ đấu chưa để cháu còn lo
liệu.
Hắn tỏ ra tử tế thế, đúng là nghiệt
chướng đeo đẳng nhà này rồi, còn ở lại làng thì hắn còn gây đủ tình đủ tội mới
yên. Nhưng biết làm thế nào bây giờ, đào sông Vàng để vợ chồng chị phải về làng
đúng là giời bắt tội rồi. Sau này sẽ lại đi. Nhưng đi thế nào đây cho mọi người
khỏi nghi ngờ và rồi còn phải đi đâu để thằng nghiệt chướng sau này học được
làm người tử tế?!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét