Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần 2)

PHẦN HAI

RỪNG MẤT - NHÀ MẤT.

CU SƠN VÙNG VẰNG NGỒI TỆT XUỐNG CẦU AO ĐÌNH, MIỆNG LỤNG BỤNG, CHÂN đá vung xuống mặt nước. Mười tuổi rồi mà mọi người cứ bảo còn bé lắm, không cho tập cùng. Lại được chị đĩ Thị, mang cháo ra tận ngoài này để cho người ta cười cho, rằng ăn cháo của cháu. Có con rồi phải chăm bẵm con chứ, đằng này em có lười ăn một tí đã cuống lên, cứ làm thế không sợ anh cu Toại chồng chị bực mình à. Cu Sơn ơi, cu Sơn à, không nhìn thấy em đâu đã gọi rối lên rồi. Cu Sơn nằm ép người xuống bậc cầu ao trốn chị. Đàn cá mương nhao vào rỉa chân buồn buồn, cu Sơn giẫy thùm thùm xuống mặt ao. Chị đĩ Thị tất tả chạy lại kéo em lên, nói dằn dỗi:
-Ai cho em ra ngoài này, nhỡ trượt chân ngã xuống ao thì sao! Từ sáng tới giờ chưa ăn miếng nào, chỉ mải chơi. Về ngay!
-Không cho em tập võ cùng, em không ăn, em không về! – Cu Sơn giằng tay ra khỏi tay chị.
-Người kẹ như cái dãi khoai này tập gì. Từ giờ chị cấm không được ra chơi gần ao đình, ở dưới đấy có con ma bắt trẻ con.
-Con ma Duân em không sợ, nhìn đây này!
Vừa nói dứt lời, cu Sơn nhẩy thùm xuống ao đình, lặn xuống một lúc rồi mới ngoi lên, lại đội cả mớ rễ bèo để trêu chị. Đĩ Thị hoảng quá, vừa nhao người xuống ao vừa thất thanh gọi người tới cứu em. Ông Diệc cùng thầy Quyết và đám trai đinh đang tập võ chạy vội tới. Nhưng em thì không phải cứu mà chị lại được em kéo vào bờ. Đĩ Thị nằm xoài người trên bậc cầu, ho sặc sụa vì phải uống nước ao đình, ánh mắt thất thần nhìn quanh tìm em.
-Cứ vài lần thế này thì chị chú đến vỡ ngực ra mà chết thôi. – Thầy Quyết véo tai cu Sơn, mắng.
Lý trưởng Ngà khích lệ:
-Thằng “kẹ” giỏi lắm, cho mày vào tập võ cùng bọn tao.
Nghe người ta gọi mình là thằng “kẹ” cu Sơn tức lắm, mỗi lần như vậy đều dằn dỗi bỏ đi. Nhưng lần này thì không, có nói thế chứ nói nữa thì cu Sơn cứ đứng lì lại, chỉ vì muốn được thầy Quyết dậy cho vài thế võ. Cu Sơn muốn được làm người lớn. Lên mười gì mà đứng cạnh thằng lên sáu còn nhỏ con hơn. Ai nói vậy, chị đĩ Thị lại rấm rứt khóc thương em, tự trách mình đã chẳng chăm em cho chu tất nên đến nỗi vậy.
-Không! Không cho nó tập võ, nhỡ xẩy chân xẩy tay bị sao rồi lại khổ
Chị đĩ Thị nhào lại giằng em ra khỏi tay lý trưởng Ngà. Nhưng chưa kéo được em thì chị đã bị chồng ôm ngang lưng kéo về. Chị đĩ Thị không thể cưỡng lại chồng, đành theo về nhưng còn cố ngoái lại dặn ông Diệc, có tập thì đừng để cu Sơn bị sao. Ánh mắt chị thất thần, hoảng hốt.
Đâu còn là cái đĩ Thị ngày xưa, ánh mắt lúc nào cũng đăm đắm nhìn miết về phía xa, bí ẩn, ai nhìn vào cũng thấy trờn trợn. Ngày bà Tí đánh tiếng có ý hỏi cô con gái út cụ tổng về làm dâu, anh cu Toại giẫy nẩy, con gái thiên hạ không còn ai à, lấy người ta về để họ nhà tiệt giống chắc. Sao u không biết anh là con trưởng, có vậy u mới tìm đám nhà có nề có nếp, môn đương hộ đối để còn nghĩ tới sau này, chứ như nhà lý có con gái đấy mà u thèm vào cái quân ấy. Ấy vậy, anh cu Toại lại được toại nguyện, có người nối dõi rồi nhớ, lại hãnh diện trước đám bạn có được cô vợ mảnh mai, xinh xắn như trúc mọc đầu đình. Thế nhưng mọi người đâu biết cái khổ riêng của anh cu Toại, đang đêm vợ thất thần ngồi bật dậy thở hổn hển, lo lắng nhìn quanh rồi suy nghĩ gì hỏi cũng chẳng trả lời, dù là nửa đêm gà gáy, lắng tai nghe thấy bên nhà bố đẻ có tiếng ồn ã bất thường thì có là mưa dông chớp giật cũng đâm bổ về. Anh thấy thương hoàn cảnh của vợ, nhiều khi có người nói ra nói vào, cô ấy chỉ lo cho nhà bố đẻ mà sao nhãng việc nhà chồng, anh đều bỏ ngoài tai.
Đĩ Thị có được tấm chồng biết thương yêu vợ thế là tôi yên tâm rồi, ông tổng hay làm mừng ra mặt nói với mọi người vậy. Nhưng trong lòng có ai hiểu được ông còn lo lắng cho cô út thế nào. Ai hiểu con bằng cha mẹ, trong nhà có biến động gì nữa là nó sẽ bị tâm thần mất thôi, ông lo lắng từng ngày. Ngày ông nội nó mất, bữa trưa nào nó cũng bưng bát cơm ra cổng ngồi nhìn miết về sông Vàng, ánh mắt không hề chớp, khuôn mặt bất động như pho tượng, khiến lòng ông càng nhớ tới những người đã khuất và khi ấy ông lại thủ thỉ tâm tình cứ như u nó đang ở ngay bên. Giời đã sinh ra nó thế rồi, không biết giời có thương cho nó một gia đình trọn vẹn. Nhưng một đĩ Thị đã thay đổi khác hẳn, ánh mắt trở nên thất thần, lúc nào cũng hốt hoảng nhìn quanh là từ ngày người ta vớt xác nhà Duân dưới ao đình lên. Nhà Duân bị ma kéo xuống ao. Chẳng qua từ ngày đào chuôm cho nhà lý làm quá sức bị điên nên ngã xuống ao mà chết chứ ma nào kéo. Mỗi người đưa ra một nhẽ. Bộ mặt nhà Duân trương lên như cái bong bóng lợn, đôi mắt lồi ra còn vương nỗi hoảng sợ nhìn về cõi trần tục. Và đôi mắt ấy của nhà Duân đã vương vào ánh mắt sâu thẳm của đĩ Thị. Cu Sơn đang xán lại gần cái xác. Đừng vào em ơi, nhà Duân làm người đã bắt mất ông rồi, nay làm ma lại bắt mất em thôi. Đĩ Thị nhìn thấy bóng của nhà Duân tiến lại gần, khí lạnh của âm hồn đang hút cu Sơn đi theo. “Không được! Cứu lấy em tôi!” Đĩ Thị nhào lại lôi tuột em về nhà cài chặt cửa lại. “Em bị ma nhập, mời thầy cúng thầy ạ” chị đĩ Le rụt rè đề nghị với ông tổng. “Làm gì có ma nào nhập, tình cảm của con thế nào sao thầy không biết, nó nặng tình quá đấy thôi” ông tổng không khỏi băn khoăn nhưng vẫn nói chắc để yên lòng mọi người.
Bà Tí đánh tiếng. Cụ tổng đắn đo, cân đi nhắc lại có nên cho đĩ Thị lấy chồng hay không. Liệu con mình có làm người tử tế hay lại là gánh nặng cho nhà người ta để rồi mang tiếng tống con đi lấy chồng. Cháu nó thế nào, là người cùng làng bà biết cả, e rồi không được như mong muốn của bên ấy thì khổ mình đã đành lại sợ thiên hạ chê cười. Ông là người cả nghĩ, cháu nó thế nào bên chúng tôi biết cả cho nên mới có nhời. Thế rồi việc ông tổng không thách cưới to cho xứng với của nả nhà bà Tí có khiến việc đĩ Thị lấy chồng lại trở thành tai tiếng như cụ tổng đã lường trước.
Mây mây, gió gió
Sớm hôm, sớm hôm
Chị đĩ đi đơm
Phải cây chuối rụt
Phải đụt cứt trâu
Để ruồi nó bâu
Chị ngồi chị khóc.
Chị đĩ Mây đặt gánh lễ xuống, tháo đòn gánh đuổi doạ đánh bọn trẻ đứng chặn giữa đường hát vè châm chọc đám rước lễ xin dâu của anh cu Toại với đĩ Thị. Chẳng ai khác ngoài lý Ngang đặt lời vè này. Già gần sáu mươi rồi sao hắn vẫn còn cái thói truồi truội lươn trạch. Ngày xưa không biết bao lần hắn ỡm ờ với chị nhưng thà rằng ở vậy nuôi con, thà rằng cái đêm không chịu được ấy chị đến gõ cửa anh cu Đục hiền như cục đất thó để rồi chó đuổi ngã vào đống cứt trâu còn hơn ăn nằm với hắn. Chữ nghĩa chả có nhưng để nói xấu người khác hắn lắm lời thế, bài vè không hẳn nói chị mà chủ ý châm chọc nhà anh cu Toại, thức sớm dậy khuya, buôn đông bán tây có được tí của nả lại phải lấy cô con dâu sống âm thầm như cây chuối đụt, vô cảm như đụt cứt trâu. Sao hai họ nhà ấy chẳng tử tế với nhau một lần sao.
Lần đầu tiên bà Nhụ được ngắm nhìn cơ thể cô em chồng, hai bầu vú mới cương tròn xinh xắn nhưng đầu vú nhỏ, rụt vào trong thế rồi nuôi con lại phải vất vả mất thôi. Nước da cô trắng mịn quá, từ nhỏ chưa phải công việc đồng áng gì vất vả cả đây mà nhưng mà hai bả vai nhô lên nhọn như lưỡi cuốc lại phải vất vả cả đời. Bà Nhụ nhìn như hút vào làn da của cô em chồng, còn nút dải yếm cuối cùng nhưng chị buộc không nổi, bần thần buông thõng tay xuống.
-Chị làm sao thế? - Đĩ Thị hai tay giữ giải yếm cho khỏi tuột, quay lại hỏi chị dâu.
-Không sao, cô làm chị nhớ lại ngày chị đi làm dâu, cứ bần thần cả người đến mấy ngày, không biết rồi sau này cuộc đời mình thế nào đây. Cứ vô lo vô nghĩ như còn thanh niên nhỉ! Còn em, vất vả từ ngày còn bé, chị thấy thương em quá, thắt dây yếm cho em mà chị cứ như thắt từng khúc ruột.
Đĩ Thị cũng bần thần ngồi xuống mép giường, chiếc yếm đào buông hờ trên vai. Hai ánh mắt của hai người đàn bà gặp nhau rồi lại quay đi nhìn vào mông lung. Hai giọt nước mắt của đĩ Thị từ từ lăn xuống như hai giọt keo. Lần đầu tiên chị đĩ Nhụ được nhìn thấy giọt nước mắt của cô em chồng. Lần u mất, lần ông mất, đĩ Thị gào thảm thiết đau đớn lắm nhưng nước mắt lặn cả vào trong. Cô sớm già giặn quá, hay giời bắt tội cô vậy!
Một gánh gạo, mâm xôi gấc, con gà, cơi trầu cau, anh cu Toại sắp lễ xin dâu lên ban thờ họ nhà gái. Không đòi hỏi mâm cao cỗ đầy gì, chỉ làm sao đủ thủ tục trước tổ tiên cho toàn vẹn, cốt sao chúng nó ăn ở với nhau trọn kiếp mới là điều mong mỏi, ý của ông tổng là vậy. Sắp lễ xong, anh cu Toại lóng ngóng sửa sang lại vạt bộ áo the, mong chờ cô dâu ra làm lễ tổ tiên kịp giờ hoàng đạo còn lên đường. Cụ tiên Huề, đại diện nhà gái nganh ngánh nhìn vào buồng mong cô dâu, ngồi lâu cụ không chịu được, cái chứng đau lưng mấy hôm nay lại giở giời nhoi nhói như kim châm, phải ngả lưng một lát mới dễ chịu.
-Chú vào giục các cô ấy khẩn trương lên, đến giờ làm lễ rồi! – Thầy Quyết giục ông Diệc.
Ông Diệc vào buồng thấy hai chị em vẫn mỗi người một đầu giường, nước mắt lưng tròng. Ông hiểu tâm tư tình cảm của hai người, cũng đứng lặng theo. Bà Nhụ thở dài, đứng dậy buồn bã:
-Thầy nó cứ ra đi, chị em chúng tôi xong ngay thôi. Đứng lên chị buộc cho nào, lấy chồng đầu làng có mươi bước chân thôi mà, như chị có nhớ nhà cũng chị biết ngong ngóng nhìn ra cánh đồng. Sang năm là tôi cho cái Nụ đi lấy chồng, khi ấy cô lại sắp khăn áo cho cháu về nhà chồng đấy nhớ. Cái đám nhà Khang bên Chuông cô thấy thế nào?
Nét mặt đĩ Thị đã vui trở lại:
-Nhà ấy cũng tốt, chị à. Hồi đầu năm bên ấy bảo lấy cả cô cả cháu cho hai anh em, chắc là sợ em nên không đả động gì nữa.
-Không phải đâu, họ sợ hai cô cháu về cùng nhà sẽ bằng vai phải lứa khó xưng hô, chứ cô đi lấy chồng họ tiếc lắm đấy.
Đám rước theo yêu cầu của cô dâu phải đi vòng ra đường sông Vàng khiến không ít người sợ không dám theo. Đi ra đấy xa làng quá không sợ bọn cướp đường à. Có thầy Quyết là võ sư giỏi của đất kinh kỳ còn sợ gì bọn cướp đường cướp chợ ấy nữa. Mấy năm về đây, chả biết trôi dạt từ đâu về toán cướp lấy rừng Vàng là nơi ẩn nấp, cứ đâu có việc là chúng giả khách qua đường rồi ngang nhiên cướp bóc, thậm chí chém giết người chống lại không ghê tay giữa ban ngày. Dân quanh vùng đánh tiếng bóng gió rằng, cứ để làng Trằm nghèo thì chẳng bao giờ gặp phải cảnh cướp bóc, đào sông đào mương là động đến long mạch rồi sẽ còn hoạ gì nữa chứ chưa hết. Cụ tổng già sọm hẳn đi so với độ tuổi bảy mươi của cụ cố Cờ trước đây, bởi những lời đồn thổi của thiên hạ ác nghiệt quá, thế chẳng thà nói gia đình ông mang hoạ cho cả vùng. Thì miệng lưỡi thiên hạ độc địa thế nào cũng ảnh hưởng gì đến nhà mà thầy phải lo, anh em ông Diệc an ủi cha. Mình không thể tách ra khỏi làng xã được, anh cả đi đây đi đó nhiều sao lại hàm hồ thế. Anh chị còn nhớ ngày đám của cụ không, ông thầy địa lý đi qua chả bảo phải yểm rùa đá xuống thì mới không gặp hoạ nhưng với thời cuộc này nghèo đói phải tìm đường kiếm ăn, không ai quản thì sinh nổi loạn, rùa đá chẳng thể chống lại mệnh trời. Cụ tổng thở dài, không muốn nói tiếp những ưu tư của mình bấy lâu nay, ông đang chờ đợi những lời của thầy địa lý ứng vào nhà ông. Ông cụ đồng ý để cho đám rước dâu đi lối sông Vàng là để chiều theo lòng hiếu thảo của đĩ Thị. Con bé cứ nặng lòng thế rồi lại đến khổ thôi.
Đám rước chỉ còn lại phần lớn trẻ con và người già đi theo lối sông Vàng. Hai chú cháu, cu Sơn và cu Sông chạy đuổi nhau dọc bờ sông, người mướt mát mồ hôi, cỏ may vương như bàn chông trên quần áo. Cu Sông dừng lại đề nghị chú:
-Chú cháu mình xuống tắm cho mát đi!
-Lạnh lắm! Chị đĩ Thị đánh chết!
-Chú sống ở quê mà yếu thế. Còn lâu mọi người mới tới, cháu xuống một mình, cầm quần áo cho cháu!
Cu Sông cởi quần áo ném xuống rệ đường rồi chạy ào xuống sông. Nước sông cuối thu lạnh seo sắt như cào vào da thịt, cu Sông rùng mình ôm bẹn cho khỏi run.
-Đỉa kìa! Lên đi!
Cu Sông giật mình nhìn quanh mình. Ôi chao, những con đỉa to cành lao vào cu Sông như những mũi tên đen. Cu Sông rùng mình hoảng sợ, hai tay quạt nước hất lũ đỉa ra xa. Nhưng những sóng nước dồn vào như thách thức lũ đỉa, chúng càng kéo tới đông, càng ráng sức lao vào con mồi nhanh hơn. Cu Sông tính chạy vào bờ nhưng hoảng loạn quá lại nhào ra giữa sông. Cu Sơn trên bờ gọi nhưng cu Sông không thể định hướng nổi lên càng nhao ra xa hơn. Ra tí nữa là tới chỗ ngụp đầu, tới chỗ có xoáy hút chết người, cu Sơn thấy cháu mình có nguy cơ chết đuối, cứ nguyên quần áo lội ào xuống túm cu Sông lôi lên. Cu Sơn cởi quần áo vắt nước. Cu Sông vẫn còn hoảng, rét run cầm cập đến quên cả mặc quần áo vào. Bỗng cu Sơn vứt cái áo đang vắt nước xuống hét lên:
-Đứng yên, đỉa chui vào b... mày rồi kìa!
Cu Sông nhìn xuống thấy có con đỉa đen trùi trũi đang ngo ngoe một nửa thân nhũn nhèo ở đầu chim mình lại càng hoảng, nhẩy dựng lên. Cu Sơn cố giữ cháu để bắt đỉa ra nhưng không nổi thành thử hai đứa giằng co, vật lộn như đang đánh nhau.
Đám rước dâu vừa từ cánh đồng Đỗ rẽ sang đường sông Vàng, chị đĩ Mây hốt hoảng chỉ tay về đằng trước hét lạc giọng:
-Cướp đường kìa!
Cả đám rước thất thần dừng lại. Thầy Quyết nhìn theo tay chỉ của chị đĩ Mây, thấy có đám người đang quần nhau, chạy vội lên trong tư thế sẵn sàng. Cu Sơn cả cu Sông nữa đang cố vẫy vùng thoát ra khỏi cánh tay của một người đàn ông ngoài năm mươi. Chẳng nhẽ cướp chỉ có một tên thế thôi sao, mà hai đứa trẻ có gì trên người đâu, chẳng nhẽ là bắt cóc tống tiền đám rước? Những câu hỏi xoay quanh mỗi bước chạy của thầy Quyết. Tưởng ai, là lý trưởng Ngang đang cùng cu Sơn cố giữ chặt cu Sông mà không nổi.
-Chuyện gì thế, ông lý?
-Đỉa chui... chui ... vào ... vào b... thằng Sông! – Cu Sơn hổn hển nói.
Thầy Quyết hiểu chuyện gì đang xảy ra, thầy khoá tay cu Sông lại, nhổ bãi nước bọt vào con đỉa khiến nó co người lại để rồi dễ dàng bị lôi ra khỏi chim cu Sông. Cu Sông vừa hoảng vừa mệt vì giằng co khóc nấc từng chặp. Lý Ngang sờ nắn khắp người cu Sông khen:
-Sống ở thị thành có khác, người chắc như nắm cơm, không tài nào giữ nổi, khoẻ thế, chả giống bố mày tí nào.
Cu Sơn thấy lý Ngang sờ nắn, vuốt ve cháu mình, trong lòng vẫn còn tức vì cái tát khi nẵy của nhà lý cho rằng chú bắt nạt cháu, giằng tay lý Ngang ra vênh mặt lên to tiếng:
-Đừng sờ vào cháu tôi, nó không giống bố nó thì chẳng nhẽ giống ông à!
-Quân hỗn hào, mày có quyền gì! – Lý Ngang mắng cu Sơn nhưng trong lòng rất vui.
Rất có thể lắm, lý Ngang sẽ cho cu Sơn một cái tát giời giáng nếu như không có đám rước đã biết được sự thể đang đến gần. Lý Ngang đứng ra giữa đường, hớt mặt lên thanh minh sự có mặt của mình:
-Tôi đi thăm đồng nên biết kịp, chứ không là hai chú cháu nó giết nhau.
Sự việc đã lại bị hiểu sang khía cạnh khác khiến chị đĩ Thị hiểu lầm nhào lại ôm em. 
-Giời ơi, chú cháu sao không biết bảo nhau, tôi đi rồi thì ai trông nom em đây!
Cu Sơn vùng tay ra khỏi chị, chỉ tay vào lý Ngang mắng:
-Ông đừng đổ điêu, hỏi bác Quyết tại sao thì biết, đồ nhớt như lươn!
Không ai ngờ cu Sơn lại phản ứng quyết liệt đến vậy. Chị đĩ Thị ngồi ôm gối tấm tức. Bà Nhụ là người hiểu rõ mọi chuyện nhất nhưng chẳng biết làm gì, đứng ngây người thầm trách ông trời sao khéo sắp điều oan trái. Từ khi nó được một tuổi bà đã cho theo chồng chị ra Hà Nội làm ăn, lần nào về quê có việc cũng tất bật viện lý do này lý do nọ để nó đi sớm. Thế mà bây giờ, chú Dạ lấy vợ thiên hạ, cô Thị đi lấy chồng, chú Sơn còn nhỏ, ông già cả, vậy là vợ chồng con cái chị không về quê không được.
*
*   *
CÁI MẶT CÀNG LỚN CÀNG GIỐNG BỐ, GIỐNG CẢ TỪ DÁNG ĐI CÒNG còng cái lưng, chả thể nào lẫn vào ai được, lý Ngang đứng nhìn theo cu Sông trong đám rước dâu cho đến khi khuất hẳn. Trong bụng vui như mở cờ, những đọt lúa vàng ươm trườn lại cọ vào chân buồn buồn, lý Ngang cười hành hạch sung sướng. Thế ra chúng bay cũng đùa vui cùng ta sao, cỏ cây chẳng vô tình, lý Ngang lẩm nhẩm nói một mình, bắt chước kiểu nói văn vẻ của ông tổng mỗi khi bình bài thơ nào đó trong những lúc rỗi rãi của các vị cao niên cùng uống chén rượu với nhau ngoài đình. Lý Ngang xoa bàn tay, cảm giác ấm nóng của cái tát vào má thằng con nhà ấy vẫn còn. Thế là hả hê, nay đã được tát thẳng cánh vào mặt nhà ấy, lại còn mai sau này nữa, cả họ nhà ấy phải đứng dưới thằng con mình. Dù cho cô có cho nó đi xa tới đâu chăng nữa nhưng rồi cuối cùng cũng phải quay về mảnh đất này thôi, vì nó là con trưởng, nghe chưa. Lý Ngang nào có đi thăm đồng, biết tin đám rước sẽ đi lối sông Vàng ra rình để xem mặt thằng con có thực là con mình, bao năm rồi chưa tường mồm ngang mũi dọc nó ra sao.
Từ ngày khơi được sông Vàng, dân làng Trằm không phải đôn đáo lo việc nước nữa, năm nào có mưa nhiều cũng chỉ săm sắp cánh Phệ, năm nào hạn lắm thì cánh Đỗ cũng chỉ thêm vài mươi công tát từ ao đình theo đường mương xóm Trại về. Phần ruộng nhà lý chẳng phải lo tốn thêm công, hai cái chuôm do nhà Duân cùng nhà trương Bân đào lúc nào cũng dư nước. Sao ông tổng tinh thế, xục chân xuống mà đoán được mạch ngầm. Hai cái chuôm ấy chả biết từ khi nào mọi người gọi là chuôm nhà Duân, lý Ngang thấy sờ sợ mỗi khi một mình đi qua. Mấy đứa soi ếch đêm kháo, hay gặp nhà Duân bì bõm móc cua ở xung quanh chuôm, tiếng đút tay vào lỗ cua phì phọp như tiếng ma hút gió. Chẳng biết có phải hay người ta xỏ xiên, lý Ngang muốn được tận mắt nhìn thấy nhưng không dám đi một mình, rủ trương Bân nhưng hắn cũng sợ ra đấy nhà Duân gọi đi theo, mà đi theo bọn soi ếch nhỡ đâu khi ấy sợ quá lộ chuyện xưa.
Việc trương Bân tự rạch đầu cho chẩy máu thì đúng là không nằm trong dự định đã chuẩn bị trước, đến nhà Duân ra kéo vào cũng nghĩ là bị bên Thuận Thanh ném trúng. Tối về, trương Bân tháo tung băng ra để lý Ngang thấy rõ là vết dao rạch nên mới thẳng, phần da xung quanh không hề hấn gì khi ấy mọi người mới tin. Tưởng rằng vậy thì nhà Duân sẽ hết lòng như trương Bân, ai ngờ thấy thế hắn ngồi ngây người nhìn ngu ngơ ra ngoài sân rồi đùng đùng vác mai ra đồng hì hục đào đất. Bóng hắn lọm khọm giữa cánh đồng. Lý Ngang gọi không về nói dỗi, cho mày ở đấy với ma. Đêm hắn đào chuôm cho nhà lý, ngày góp công với làng đào sông Vàng. Sông Vàng xong thì chuôm nhà lý cũng ngụp đầu người, đầy ắp nước. Bỗng dưng một buổi sớm, trẻ con reo ầm lên ngoài mương Cái, mọi người chạy ra thì thấy nhà Duân trần truồng múa hát. Từ bấy, hắn sống không quần không áo, leo lên cây đa ngồi, rúc vào bụi ruối ngủ, củ khoai củ ráy nhặt được nhai tuốt, luôn mồm lụng bụng những câu gì chẳng ai dám gần để nghe cho rõ. Tại hắn đái bậy xuống chỗ yểm rùa đá nên bị bắt tội, nhìn xem hắn làm gì còn b. . Nào ai dám nhìn vào xem ở giữa háng hắn có còn cái ấy nữa không. Con ma dưới ao đình nổi giận đã dìm chết hắn để dân làng không thấy tủi thân khi mình bỏ công bỏ sức ra đào sông, làm đình lại hàng ngày phải nhìn thấy cảnh đau thương vậy.
Lý Ngang tỉa hạt thóc đưa lên miệng cắn. Lúa già lắm rồi, ngày mai phải cho thợ gặt  về không thì rụng hết. Chả hiểu mấy ngày nay ra sao, nhà mình có công chuyện gặt muộn đã đành, ở làng cũng chưa nhà nào chịu gặt là sao. Mặt trời đã xụp xuống sau bờ tre, màu xám nhờ của không gian như đàn chuột đồng đang tràn ra, màu vàng ửng của lúa chín bị chuyển sang bung bủng màu của thối rữa. Ma nhập hay sao mà bỗng dưng toàn liên tưởng tới điều hắc ám. Không sao, mình đang vui thì ý nghĩ thế là vui thôi chứ ma nào nhập. Đã vậy ở lại tí nữa xem mặt con ma Duân thế nào, còn sống mình đã bắt mất vía nó thì chết rồi thử xem có dám lát không. Những âm thanh của sự sống từ phía làng đã bị bóng đêm dìm cho lặng im, tiếng rỉ rả của đất trỗi dậy. Từ sáng chưa được hớp rượu nào mồm miệng nhạt thếch, nuốt miếng nước bọt đăng đắng cuống họng nhưng sao mình đi cứ bồng bềnh như thằng say thế này. Hai đầu gối bồn chồn chỉ chực khuỵ, trong đầu như có kiến bò buồn nhôn nhốt cảm giác ngất ngưởng của những khi say. À phải rồi, khi sáng tạt vào đám nhà mụ Tí có làm tợp rượu, có thế mới nảy ra ý định ra đây đón thằng con quý tử để nhìn tường mặt. Thế ra mình đã lang thang khắp cánh đồng từ sáng đến giờ, chưa hạt cơm nào vào bụng. Rượu nhà nó nấu men gì mà đến bây giờ mới ngấm. Vài năm được mùa, làng này sinh ra nghề nấu rượu, thanh niên tối ngày say. Lệnh quan trên cấm đấy nhưng nào có về tới đây, cái miếng đất theo lẻo này bận tâm gì cho thêm mỏi cẳng phải đi xuống. Chỉ có ông quan tri Thăng là dở hơi, bị mất chức cũng chẳng trách. Dân làng này bạc lắm, công của ông ta lớn như vậy mà quên ngay được. Cứ đâu có miếng hơn là đội người ta lên, như nhà trương Bân bây giờ đám nào mời là lê la đến đánh chén từ hôm rựng rạp tới vãn đám mới về. y, nói vậy lại thèm có tí rượu cho mát cái lưỡi, tao đấm thèm vào gặp con ma Duân nữa, về qua nhà mụ Tí xem còn bát nước xuýt chan với cơm nguội cũng được, xem được mặt thằng con giống mình quá cũng vui. Nó giờ chắc đang gắp miếng thịt to, chả gì nhà cũng có cỗ, ăn nhiều vào con ạ, ăn vào mà lớn phổng như những người nhà ấy cho nòi giống nhà ta vênh vang, chứ như quắt queo như cái thằng cu Ngà mình nhìn cũng thấy chán huống chi đàn bà. Hôm nay mồng mấy mà trời tối thui thế, đâu là ruộng đâu là bờ chẳng thấy gì nữa, mà từ sáng tới giờ mình đi đâu ngồi đâu không nhớ nổi là thế nào. Đống ruộng này là của nhà nào mà lúa tốt thế, cao tới tận cổ cơ à. Mà ai kia, lại dẫn tao tí nào, tao chả nhìn thấy đường đi đâu cả! Này, đồ dở hơi, đêm hôm mặc áo trắng để lát ma à! Này, mày cười hay khóc đấy mà cứ hừng hực ở cổ thế! Nhà Duân hả, mày bắt chước giọng cười của nó à! Đúng rồi, con ma Duân! Hắn đang bắt cua, tiếng đút tay vào lỗ cua hì họp đấy thôi! Lý Ngang bỏ chạy. Này, đừng kéo chân tao nữa thằng kia, tao là lý trưởng của mày đây! Lý Ngang quẫy đạp cố bứt ra khỏi bàn tay của con ma Duân đang túm chân mình kéo lại. Được rồi, tao lại phải chịu thua mày sao. Nhưng sao mày cứ bám vào chân tao thế, để tao về, bảo vợ mày sang tao cho thúng thóc. Mày trả thù tao đấy à, đêm hôm ấy tao hứa cho vợ mày thúng thóc nhưng tao quên.
Sớm tinh sương, tiếng tru tréo của bà lý ngoài cánh Đỗ khiến cả làng choàng tỉnh. Mọi người chạy ra tới ngõ đều chựng, ngạc nhiên nhìn nhau rồi nhìn ra cánh Đỗ đề phòng, không biết có chuyện gì mà bà lý la hét ghê thế. Giờ mà chạy ra ấy nhỡ gặp cướp thì thiệt thân.
-Ông ơi là ông, đêm hôm mò ra ngoài này làm gì, hú hí với con nào để nó lột hết quần áo giờ ngồi co ro như con chó dại thế này!
Mọi người nghe rành rẽ từng câu, hiểu chuyện gì rồi nhưng mặc xác nhà lý, cái thói ấy có hay hớm gì, ra ngoài đấy để mà xem con b. nó để nhồng nhỗng ra à. Ra đến mương Cái, người già cụp mặt quay về, chỉ có đám thanh niên hiếu kì là bấm nhau ra để xem cho biết cái của ông lý nó thế nào mà hàng ngày ông vẫn văng bạt mạng ra đằng mồm.
-Này, về mang ngay thúng thóc sang đưa cho đĩ Duân! - Vừa nhìn thấy đám thanh niên, ông lý đã phẩy tay ra hiệu về làm theo ý mình.
-i giời ơi! mẹ cha con đĩ Duân nhá! Có cháu nội cháu ngoại rồi, có ngứa thì ra gốc mít mà cọ, đêm hôm rủ nhau ra đây để hành chồng bà thế này à! Được rồi, bà sẽ cho mày biết tay!
Bà lý vén cạp váy lên, chỉ tay về hướng nhà Duân xỉa xói, rồi định phăm phăm chạy về trừng trị quân ác nhân. Nhưng cu Ngà đột ngột kéo mẹ lại, hỏi:
-U! Lúc nãy thầy có thế kia không?
-Há! Ông sao thế này, ông lý!
Bà lý ngồi sụp xuống ngửa mặt chồng lên nhìn cho tường. Lý Ngang càng run, hai tay kẹp chặt vào bẹn, lết mông trên bờ ruộng như thể chạy trốn, đôi mắt lộn sòng mất gần hết tròng đen, miệng lẩm bẩm văng nước dãi lòng thòng xuống ngực:
-Tao sẽ cho ... thêm hẳn thúng nữa, được chưa! Bỏ tay ... ra, đừng kéo tao thế ...ế ...ế!
Lý Ngang lê đến bụi dứa dại, rục đầu vào trong, gai cào vào lưng tướp máu. Cu Ngà cùng mấy thanh niên khác cố kéo ra nhưng không nổi. Bà lý vấn lại mớ tóc bị xổ, miệng tru tréo lanh lảnh:
-Ông bị chó dại cắn rồi, khổ không! Thằng Ngà, mày đi xem chó nhà nào dại bắt đền nó! Thế này thì không sống nổi rồi, ông lý ơi là ông lý!
Cả làng lại kéo nhau ra đứng ở tận bờ mương Cái nhìn u con nhà lý mà không ai dám lại gần. Chẳng biết sự thể thế nào, nhà lý chẳng ai dám dây vào, không bị đổ điêu, bắt vạ thì cũng bị sai bảo như người ở. Mà ông ta nhồng nhỗng thế, phát khiếp. Chị đĩ Thị dằn lòng, không đi ra thì thấy mình mang tội, không là gì thì cũng là xóm làng, mà đi ra thì lương tâm lại thấy không phải với chồng, dùng dằng sau bờ tre rồi bước chân cứ đưa đẩy theo dòng người gọi nhau ra xem nhà lý làm sao. Ý nghĩ về con người ấy sau bao năm tháng đã nguôi ngoai giờ lại tấp tểnh hiện lên, chị cố bứt ra mà không được. Hôm qua, chị biết ý định của nhà lý là gì, chị kéo cu Sông đi cho nhanh nhưng dường như ánh mắt của hắn ta cứ níu bước lại khiến chị vấp ngã. Chồng chị đi cạnh đỡ lên, nhắc phải đi cẩn thận, đường khó đi. Chị lại tủi thân, nước mắt trào ra khiến mọi người hiểu lầm tình cảm chị em lưu luyến. Chị cố nuôi dậy cu Sông sẽ không thể vương chút gì về hình bóng của giống nòi nhà ấy, chị uốn nắn từ dáng đi đến cách nói năng sao cho giống nhà chồng. Cũng may cu Sông có vóc người sẽ to cao như những người nhà ông tổng, cho nên mọi người không nhận ra những nét giống bố nó y chang. Chị liếc mắt nhìn qua vai người đứng trước ra ngoài cánh Đỗ. Ông ta đâu nhỉ? Đấy, cái tội giời phạt với con người đa mang như chị là vậy sao, có gì đâu mà lòng dạ cứ rối như nắm rơm, không khéo nhìn thấy ông ta lúc này chị sẽ lại rơi nước mắt. Dù sao ông ấy cũng là bố đẻ cu Sông, có muốn cạn tình cũng chẳng xong.
Lý Ngang đang rúc đầu trong bụi dứa dại bỗng dưng quay phắt lại, mắt láo liên nhìn quanh, dớt dãi lòng thòng hai bên mép, rồi đột nhiên xồ lên như định vồ mọi người nhưng đứng không vững ngã dụi xuống mương. Đám thanh niên đứng gần hốt hoảng quay bỏ chạy. Bà lý giật mình quay chạy theo, miệng la thất thanh:
-i làng nước ơi, ông ấy bị dại rồi! Chúng mày, giữ ông ấy lại không thì bỏ mẹ bây giờ! Thằng cu Ngà đâu?!
Anh cu Ngà vừa chạy lùi vừa trông chừng thầy, nghe u la gọi liền đứng lại thủ thế, mắt đảo nhìn quanh tìm vật gì có thể tự vệ được. Cậy cục đất, chỉ được viên nhỏ, không thể được. Kia rồi, trong đám khúc tần dại những sợi dây tơ hồng vàng ánh bám chằng chịt, anh cu Ngà nhào lại giằng dứt. Bện xoắn những sợi dây vừa bứt vào nhau, hai tay anh cu Ngà giật mạnh thử độ dai. Được rồi! Ông ấy đang leo lên bờ sẽ không để ý tới xung quanh, anh cu Ngà chớp thời cơ lao vào túm chặt hai tay bố bẻ ngược lại phía sau trói giật lại. Hai bố con giằng co nhau ngã nhào xuống mương. Buông ông ta ra lúc này là chết, với sức thanh niên anh cu Ngà vùng đứng được lên, hai tay đè chặt đầu lý Ngang ngụp xuống nước. Lý Ngang sặc sụa, cố nhoi lên kêu cứu nhưng cứ như con cá nhao lên hớp nước rồi lại lặn xuống. Lúc sau thấy bố mình mất sức, chống cự yếu dần, anh cu Ngà kéo bố lên bờ, vẫy gọi người tới giúp.
Mấy anh em nhà cu Ngà chạy lại, cởi dây trói, vật ngửa bố mình ra. Lý Ngang oằn người, ngực ưỡn lên, miệng ngáp như con cá bị vứt lên cạn ngớp ngớp vì ngạt thở. Bọt trắng từ trong miệng lý Ngang đùn ra như bọc trứng ếch.
-Thầy chết rồi, u ơi! – Cu Chuyên hét lên.
Bà lý đứng từ xa, nghe thấy vậy xấp ngửa chạy lại.
-i ông ơi, sao lại khổ thế này! Ba hồn bảy vía ông Ngang ơi, nhà cửa có mà ông lại ra đây nằm là ông ơi!
Mọi người nghe thấy bà lý hờ gọi hồn biết rằng nhà lý đã chết nhưng không ai dám lại gần, sợ con ma dại ám vào người lại mang vạ cho nhà mình. U con nhà bà lý đứng xung quanh xác bố lấn bấn không biết làm gì. Gió lạnh đầu mùa cựa mình, những ngọn gió hanh heo nhùng nhằng tranh chỗ nấp, không dám lại gần xác ông lý nằm cong queo như con cá khô, làm xô rạp đám lúa. Trương Bân không thể vô tình như ngọn gió ào đến đứng nhìn, tập tễnh chống gậy tiến về nơi ông lý nằm. Mọi người nhấc chân bước theo. Bà Nhụ nhìn quanh như sợ mọi người nhìn vào thái độ của mình, rồi cũng rụt rè đi theo. Trương Bân quay lại nói với dân làng Trằm, giọng nói run run, xúc động:
-Xin bà con đứng ra xa, để gia đình nhà ông lý khâm niệm xong hãy đến phúng viếng!
Bà lý thấy trương Bân thì gào to hơn, hai tay đập xuống bờ ruộng bành bạch:
-Ông trương ơi là ông trương, nhờ ông gọi người khênh ông ấy về hộ tôi!
Trương Bân luôn là người giữ được bình tĩnh trong mọi hoàn cảnh, mắng lại bà lý:
-Bà này hay nhỉ! Đưa ông ấy về nhà là rước ma về à!
Cái gậy trong tay trở thành thừa, vướng víu, trương Bân vứt lăn vào rệ đường, chỉ tay phân việc cho từng người:
-Thằng Ngà, cho người mang võng sang Đồng Trung đón thầy Hay, nói rằng trương Bân nhờ, đi nhanh không là ông ấy đi đấy. Thằng Chuyên, về lấy quần áo cho thầy mày, từ bấy đến giờ u con nhà mày cứ đứng  nhìn mà không biết làm gì à! Về bảo cả mấy đứa nhà tao sang giúp, đốn mấy cây tre mang ra dựng cho thầy mày cái nhà tạm ở đây để còn làm lễ. À này, nhớ mang cái chiếu nữa. Thằng cu Ngà, dặn thêm này, trên đường về bảo thầy Hay chọn cho cái quan tài ở chỗ ông Tiết ấy nhá!
Bà lý vẫn không thôi hờ chồng:
-Ông ơi là ông, nhà thì hàng chục con cháu, người ăn người ở thế mà chẳng biết làm gì, ông đi vội thế đừng trách u con tôi, ông ơi!
Không có trương Bân thì ông lý nằm chết khô ngoài đồng, u con nhà ấy thế mà đoảng, dân làng Trằm rủ nhau ra viếng thì thào với nhau vậy. Việc cứ như của nhà, mình trương Bân lo cả, xắp xếp công việc đâu vào đấy, tập tễnh cái chân đi xiêu đi vẹo nhưng không việc gì là không đến tay. Đến đào lỗ để trồng cột dựng mái nhà tạm cho chỗ nằm của ông lý cũng khiến trương Bân ngứa mắt phải giằng cái mai của cu Chuyên để làm cho chúng mày biết lần sau nhớ mà theo. Cái chân trái của trương Bân bị gãy từ cái đận bọn cướp mới về, nổi máu anh hào theo đám trai bên Thuận Thanh phục đánh nào ngờ bị đánh lại chạy gẵy chân. Bó thuốc của những ai mãi đẩu đâu đến khi tháo ra xương bị lệch vạy nên mỗi khi đi giận mạnh lại buốt tận óc. Thế nhưng, hôm nay hộ việc của nhà lý vất vả vậy mà chưa thấy một lần nhà trương nhăn mặt. Đúng là nhà lý còn phúc, gặp nhà trương sống có nghi có nghì.
Mọi sự khó mấy rồi cũng xong, may mà thầy Hay phán phải hạ huyệt trong ngày hôm nay sẽ không bị trùng, ai cũng thấy nhẹ người, không thì đêm hôm giữa đồng không mông quạnh nếu không gặp ma trêu thì bọn cướp bên rừng Vàng cũng mò sang hôi của phúng viếng, nhà nào biết nhà nấy chỉ còn mấy u con bà lý biết cậy nhờ được ai. Chỉ việc hờ gọi hồn chồng thôi cũng khiến bà lý mệt đứt hơi, hai cậu con rể xốc hai bên nách mà cũng không đi nổi, đôi chân như bị tê liệt tập tễnh lết trên mặt cỏ. Thỉnh thoảng bà dừng lại thở, ngoái đầu nhìn bạt đất ông ấy nằm suốt cả ngày hôm nay. Đám cỏ vẫn còn ướt nước trên người ông ấy chẩy xuống. Tội nghiệp, mới hôm qua thôi ông ấy còn chửi bà té tát vì nấu mẻ rượu bị chua như dấm, hắt luôn thau rượu vào gốc chuối cạnh cửa bếp. Chốc về bà sẽ đứng ở cửa bếp để ngửi cái mùi chua hăng hắc để nhắc ông rằng, từ ngày còn là cái đĩ con bà đã thích nghịch cái củ “ngọc hành” của ông rồi. Những chiếc áo xô trắng của con cháu nhà ông phơ phất như những hình nộm trên cánh đồng. Mỗi đứa lấy một lý do, đứa thì ra xem ruộng thế nào để mai còn thuê thợ gặt, đứa thì sao không thấy quần áo của thầy đâu tìm xem thế nào, bà biết chúng không muốn đi cạnh nhau trong dòng người nhà lý. Chúng là con ông hay con ai, ông hay chửi chúng là con thiên hạ chứ không phải con ông, tôi cũng chẳng dám cãi bởi thực lòng đám thợ cày nào cũng có anh thích quặp cái mông tôi khen hay. Mà tôi chẳng biết có với ai nữa, tại ông lúc nào cũng như lươn như trạch còn tôi là đống bùn đêm nào cũng lẩn sâu vào. Nhưng dù sao chúng đều sinh ra dưới mái nhà của ông và đứa nào cũng giống ông cả chứ có giống ai khác đâu. Hay là tại chúng giống cái tổ tông nhà ông, nhìn ai cũng gằm ghè.
-Chào bà lý, việc của ông ấy xong cả rồi, bà!
Bà lý hiếng mắt nhìn xem ai lại ra đầu làng đứng vào giờ này. Ái chà, cô Nhụ, bà lý gạt tay hai anh con rể ra, vời tay lên trời than khóc, kể lể:
-Bà Sông đấy âu, giời đất sao bắt tội chị em mình thế này, ông ấy đi mà chẳng được một nhời với u con tôi!
Bà lý đưa tay chấm nước mắt để che ánh mắt liếc nhìn bà Sông. Rồi làm như thân tình, xấn lại muốn hờ thêm vài câu nữa xem thái độ của chị đĩ này ra sao. Bà nghi lắm, ông ấy lúc nào cũng tấm tắc khen, đến nằm mơ cũng hay nhắc tới chị ta, lại thằng cu Sông nữa, nhìn càng kỹ càng giống cái họ này. Cái má nó mà tóp vào thì bộ răng sẽ chìa dài ra, rồi để cáu bẩn mà xem có khác nào thằng cu Ngang ngày còn để truồng. Cái má ấy là giống u nó thì chả nói, thế còn điệu cười hừng hực nhát gừng ấy giống ai, nhà ông tổng chả ai thế, chỉ có nhà lý mới thế thôi. Con ai thì cũng chẳng bận tâm, bà muốn biết cũng là để có cách làm xấu nhà anh cu Diệc, bà đã từng thèm muốn được một lần với mà cứ tỏ ra cao đạo. Nhà chồng chẳ biết lý do gì cứ quân hằn quân thù với nhà ông tổng, chứ như với bà thì rõ cả, mà với ông Sông ấy chắc cũng biết cả, bà có xấu thì xấu thật nhưng danh giá nhất làng chứ đâu có cái loại con gái phiêu bạt như đĩ Nhụ ngày xưa.
Bà Sông! Cái tên gọi theo tên con lần đầu tiên chị đĩ Nhụ nghe thấy lại là từ bà lý. Duyên cớ gì chăng, hay số phận? Ông ấy chết rồi, chỉ còn chị là người biết cu Sông là con ai. Chẳng nhẽ bà lý cũng biết? Chị có muốn giấu cũng không được chăng? Ông giời bắt sao phải vậy! Bà Sông tỏ ra cứng rắn, quày quả quay đi không để bà lý lại gần để than vãn.
-Vâng, đời người phúc hoạ chả ai lường. Tôi đi sang nhà cô Le có chút việc.
Không, chắc chắn bà lý chưa biết, nếu không thì cả ngày nay bà ấy đã réo gọi như nhà cu Tuất bên Bùi, chị đĩ Tươi bên Chuông, rằng quân bất hiếu bố chết không về để tang, lại còn giục trương Bân sang bắt nó về hỏi tội. Đến bây giờ mọi người mới biết đấy là con rơi con vãi của nhà lý, đến bây giờ bố của hai đứa mới ngã ngửa ra vợ mình ở nhà đâu có thủ tiết chờ chồng đi xa lâu ngày. Rồi ngày mai thôi sẽ có khối chuyện xảy ra ở làng này. Chiều nay chị cũng không ngăn cu Sông xán lại tận nơi để xem thầy Hay làm lễ, bà ta có thái độ gì đâu.Nếu đã biết đích xác thân phận của nó thì chẳ có lẽ gì bà ta không làm tình làm tội nhà mình. Cái miệng mồm lao mép giải ấy chẳng chừa ai. Bà Sông thở dài. Bóng tối đã xụp xuống cánh đồng. Ngày mai gặt lúa không biết bố nó có ở nhà đỡ đần được.
*
*    *
-LẤY VỢ CHỌN TÔNG, LẤY CHỒNG CHỌN GIỐNG, TỪ NGÀY XƯA ÔNG THẰNG TOẠI với ông con thân nhau lắm, mọi người nói đùa sau này hai bên thông gia với nhau mới xứng tình tri kỉ. Con còn nhớ cái đận lụt ấy không, không có bát cháo của cụ thì thằng cu Toại đã chắc gì sống tới ngày nay.
Đĩ Thị sinh ra là để sống trong cõi âm và với những điều linh cảm, có chuyện gì đã qua mà không đọng lại tâm trí cô như nhựa mít bám dính vào thân cây. Hình ảnh những thân người khô quắt vì đói, vì rét, bát cháo trên tay bưng lên mồm cũng không được vững lẩy bẩy run, xì xoạt húp vội trong ánh sáng nhờ dưới mái đình năm ấy đĩ Thị quên sao được. Cô còn nhớ rõ như là mới đây thôi, anh cu Toại mắt thô lố như mắt trâu, phòm phọp những bong bóng hai bên lỗ mũi, thế mà giờ đã là chồng, đêm nay sẽ được kề ngay bên. Thực lòng, từ ngày ấy đĩ Thị đã thương anh cu hiền lành, nghị lực, thầy u sai bảo gì có mệt mấy cũng gắng gượng làm, sức yếu thế mà cũng đua theo người ta sang kéo gỗ để đến nỗi xuýt chết đuối. Nhưng đến độ tuổi đi cạnh người con trai đã phân biệt mùi mồ hôi của người ta, lắng nghe hơi thở mà cảm thấy như có ngọn gió vuốt qua, trong lòng trở nên bất an thì đĩ Thị lại dửng dưng mọi chuyện. Hễ không nhìn thấy bóng dáng cu Sơn đâu là cuống cuồng đi tìm, đó là mối quan tâm duy nhất của quãng đời con gái của đĩ Thị. Cu Sơn là hình ảnh lưu lại của u, đĩ Thị lại sợ một lần nữa bị tuột đi mất. Đến khi cụ tổng hỏi con: “Mai người ta có cơi trầu sang hỏi, ý con thế nào?”. Đĩ Thị hốt hoảng buông bát cơm đang ăn dở, nói như van: “Đừng thầy ơi!” Nào cô đã chuẩn bị sẵn câu hỏi đầu tiên của người con gái đâu, đĩ Thị bỏ bữa ra ngồi tựa cửa, đôi mắt trở nên trống vắng, vô hồn. “Sắp được ăn cỗ chị đĩ rồi!” Miệng còn ngậm đầy cơm, cu Sơn reo lên khiến đĩ Thị rùng mình như từ cõi hư vô nào đó trở về, buồn bã gục đầu xuống cánh tay. Cô nghĩ về vòng quay đời người, ai cũng phải lăn đi có cưỡng cũng chẳng được, là duyên phận thì phải theo. Nếu không có trận lụt thì u vẫn còn sống đến ngày nay. Ông trời đã sắp đặt thế. Đĩ Thị quay vào hỏi thầy: “Đám nào hả thầy?” – “Nhà bà Tí. Cũng tội, ông ấy mất sớm mà bà ấy vẫn ở vậy nuôi con, bươn bả hết việc đồng áng lại lo buôn bán nên cũng chẳng túng bấn gì. Ý con thế nào để thầy còn liệu?” – “Con là phận con, tuỳ thầy, sao cũng được!”
Bà Tí khêu bấc đèn cho ngọn lửa bùng to lên. Những tàn lửa bắn ra lách tách, nơi đầu bấc xoè ra một đốm hồng rực, bà Tí vui mừng:
-Nhà có chuyện vui, đến bấc đèn cũng nở hoa đây này!
Bà cố gợi chuyện cho đôi vợ chồng trẻ có cớ nói với nhau một câu gì đó, để gỡ được khoảng cách im lặng. Đĩ Thị nhìn ra ngoài sân, hôm nay trăng mười tám đã lên tới lưng giời, khuya lắm rồi. Hình ảnh chị đĩ Nhụ lết trên nền nhà để theo cái mùi hôi rình như con gián bay phía trước ngày ấy hiện về. Thế ra là vậy, đến giờ thì đĩ Thị hiểu hành động ấy là gì rồi. Anh cu Toại mỏi người bởi tư thế ngồi bất động bên cạnh vợ có lẽ từ lúc mọi người về hết, khẽ khàng chuyển mình. Những đốt xương răng rắc kêu, mùi mồ hôi chuyển động trong không gian, tất cả đều tạt qua chỗ đĩ Thị. Đĩ Thị rùng mình, cảm giác châng lâng, hồi hộp.
-Khuya rồi, đi ngủ đi! - Bà Tí nằm buồng bên nhắc hai vợ chồng cu Toại.
Anh cu Toại lại khẽ khàng xoay người, lần này mạnh bạo hơn nghiêng hẳn về phía vợ, tay giơ lên định nói nhưng ánh mắt bắt gặp tia sáng long lanh trong mắt đĩ Thị lại chùn lại. Cảm giác sờ sợ khi nhìn vào ánh mắt ấy từ ngày nào nay lại dồn về mờ mờ ảo ảo như sương phủ, anh cu Toại nuốt khan lấy lại bình tĩnh, để tuân theo cảm giác háo hức của người con trai đang cụng cựa trong lòng. Tiếng xụt xịt khóc của vợ khiến anh cu giật mình, bật nói:
-Đằng ấy sao thế?
Nào đĩ Thị có khóc đâu, lại thuận theo lẽ tự nhiên thôi, tưng tức ở sống mũi thì xịt vào.
-Đi ngủ trước đi, muộn rồi! – Anh cu Toại đã có được dũng khí, giục vợ.
Lại không muốn mà đôi chân cứ đưa đĩ Thị đi vào buồng. Ngọn đèn trên tay bập bùng, ánh sáng chao đảo, ngả nghiêng. Đĩ Thị dừng ở cửa buồng, bóng tối bên trong hun hút, cảm giác bất an rộn lên trong lòng. Chồng mình đã đứng sau lưng, chỉ còn một lối đi vào.
Bà Tí nằm trong buồng nganh ngánh lắng nghe từng lời của hai đứa. Chả biết sau này sống với nhau thế nào, kiệm từng lời nói rồi cả ngày bên nhau lại như cái bóng mất thôi. Chẳng nhẽ... thôi bà không thể nghĩ tới điều đó lúc này. Bà thấp thỏm. Chúng đi vào buồng, hai tay bà run bấn lên, hồi hộp. Một tiếng động nhỏ bên ấy cũng khiến bà nhỏm dậy, nhìn xăm xoi vào chút ánh sáng lách qua khe vách, đoán chừng. Lúc sau bà nín thở lắng nghe, bà còn đủ tinh để nhận ra đâu là tếng khóm tre đầu cổng kẽo kẹt, đâu là tiếng giát giường chuyển. Bà  thở phào nhẹ nhõm, thế là điều lo lắng nhất đã qua, con dâu bà cũng là con gái như những người con gái khác, chỉ tội cái tính cái nết nó vậy chứ đâu như bọn thanh niên đặt điều. Nó càng lớn càng đẹp rờ rỡ thế, cái bọn ghen ăn tức ở với con bà, rồi nay mai có cháu bế thì chúng mày bẽ bàng với bà.
Đĩ Thị trở mình tỉnh giấc, hai bả vai tưng tức đau do nằm ở một tư thế lâu. Cô hít một hơi thật dài cho tỉnh táo, hơi đất lạnh ngái. Đĩ Thị ngượng ngùng không dám ngắm nhìn lâu vào khuôn mặt vuông chất phác của chồng đang chìm trong giấc ngủ sâu. Cô quay ra nhìn những vệt sáng đang lách qua khe cửa, lắng nghe tiếng giọt sương nhỏ tí tách xuống mặt sân, có con chào mào giật mình tỉnh giấc kêu quẹt quẹt như cậy bong chiếc hộp tĩnh lặng của buổi sớm mai, nhớ lại chuyện đêm qua mỉm cười một mình, hạnh phúc. Bỗng đâu tiếng gào khóc văng vẳng vọng tới, đĩ Thị choàng dậy, lắng tai nghe. Anh cu Toại cũng giật mình ngồi bật dậy. Đĩ Thị bất chợt nhìn sâu vào mắt chồng. Lần đầu tiên cô nhìn sâu vào mắt một người đàn ông. Ánh mắt của chồng cô không rọi xa được cứ chập chừng, quẩn quanh của con người tuyệt vọng. Cô thốt lên:
-Anh!
Anh cu Toại tưởng vợ làm nũng liền ôm choàng lấy. Không được anh à, ai than khóc ở đâu vào lúc này thế nhỉ? Anh cu Toại lại nghĩ vợ đang lo lắng về nhà mình, lo cho cu Sơn, tính cô ấy anh biết, không phải đâu, tiếng khóc này của ai lanh lảnh nhà đằng ấy làm gì có ai thế mà em lo, em ở nhà anh ra xem sao.
Bà Tí khẽ khàng đẩy cửa, lách người đi vào, để yên cho vợ chồng chúng nó ngủ thêm. Nghe tiếng rì rầm trong buồng, chúng dậy rồi, kệ chúng nó giờ ra ấy có việc gì đâu. Khi con trai vừa bước ra cửa buồng, bà đứng lên vội giục:
-Nhanh ra ngoài cánh Đỗ xem thế nào, ông lý không biết sao lại lên cơn rồ dại thế, thanh niên ra giúp nhà người ta một tay, mà ông ấy cũng là họ xa con ạ!
Đĩ Thị nghe vậy vội vàng chạy ra, hỏi:
-Có chuyện gì thế u?
-Ông lý lên cơn rồ, lặn ngụp dưới chuôm nhà Duân cả đêm, có nhẽ chẳng qua nổi.
-Vậy a!
Đĩ Thị thảng thốt ngồi thụp xuống bậu cửa. Mới chiều qua còn gặp nhà lý khoẻ mạnh và còn tỏ ra vui vẻ với đám rước dâu chứ không có thái độ như những lần giáp mặt trước, thế mà đã...! Mà ông ấy đã sao đâu, mình chỉ hay suy diễn. Ông lý đi rồi u ạ, sao người ông ấy cứ rườn rượt như ai đổ nước vào, anh cu Toại về thông báo, niệm ngay ngoài cánh Đỗ. Thật vậy a, sao nhanh thế! U rồi đến ông, bây giờ nhà lý, giầu có nhất nhì làng mà có sướng gì đâu, cái chết tưởng chừng phải nhẹ nhàng thế mà chết khổ chết sở. May mà u không phải bơ vơ giữa cánh đồng như ông, như nhà lý. Đó là cái hoạ của làng chăng, quanh năm suốt tháng bạc mặt lo nước, mùa hè thì thùm lụt lội không biết đổ đâu cho hết, tháng đông nứt nẻ tìm được vài gầu cũng nhọc nhằn, rồi đến lúc nhắm mắt ông giời vẫn muốn phải đèo đẽo mang cái lo xuống mồ. Mình u đi viếng là được rồi, chúng mày mới đêm qua, sợ ra ngoài ấy không lành. Vâng! Đĩ Thị trả lời vô hồn. Thế là u chiều con dâu, hai nhà sống chẳng buồn nhìn mặt nhau, giờ bắt nó ra đấy sợ nó khó sử, đành rằng lấy chồng phải theo chồng. Chẳng hiểu sao nhìn nó buồn nẫu ruột thế, nó là người cả nghĩ, chả biết nó nghĩ ngợi gì. U vừa nói gì nhỉ? U bảo mình không phải ra đám nhà lý, tại u lo xa chứ gì, giờ thì con đang thấy thương nhà lý, nhìn mặt lần cuối chính là để sót phận một đời người. Khơi được sông Vàng rồi đấy mà nào bớt khổ đã được là bao, ông giời không thương thì cây lúa cũng chỉ còn hạt lép gánh về, không còng lưng tát nước thì ngọn khoai cắm xuống vẫn rũ lá, chỉ bới được vài củ khoai ron. Sức con người chỉ đến vậy, ông giời ra tay thì đành chịu. Đĩ Thị thở dài, ra rút rơm vào bếp hâm lại nồi cám cho mấy con lợn. Tại sao vào giờ này mà chúng chưa được ăn, tiếng lũ lợn gào lên cáu gắt như vậy, chúng còn bực bội thúc vào ngáng chuồng kình kịch Chúng cũng là những sinh linh cần phải sống.
Anh cu Toại ngồi xuống cạnh vợ, đẩy nắm rơm vào sâu trong bếp cho lửa cháy to thêm. Hai người ngồi cạnh nhau mà như lạ lẫm, anh cu muốn nói một câu gì đó mà không tìm được lời, cảm giác của buổi đêm qua khiến anh ngượng ngùng, chạm vào tay vợ thấy tay mình run run, trống ngực đập thình thịch. Anh chờ vợ mình chuyển mình để kiếm cớ gì đó nói một câu, hay mong nồi cám mau sôi để anh cất nhời lên nhắc vợ cũng là một cớ. Chỉ có tiếng rơm rào rạo, tiếng ngọn lửa phần phật gió, ánh sáng ngả nghiêng. Tự dưng nhà lý sinh chuyện khiến cô ấy suy nghĩ, ngồi lặng nhìn chăm chắm vào ngọn lửa. Ôi dào, đời người sống chết là lẽ thường, suy nghĩ làm gì. Phải rồi, cô ấy hay nghĩ tới cu Sơn, anh cu tìm được cớ, hắng giọng nói:
-Hôm qua cu Sơn bảo sớm nay sang với chị, giờ chưa thấy chắc còn đang ngủ.
Nghe chồng nói vậy, đĩ Thị buông que cời đứng dậy, ánh mắt hốt hoảng:
-Chết thật, từ nãy không nghĩ ra, em phải về xem nó thế nào, còn thầy nữa chả biết ra sao!
Nhưng đĩ Thị lại ngồi xuống, thừ mặt buồn bã:
-Nhưng ai lại chưa lại mặt đã về nhà mẹ đẻ! Mà không biết thầy thế nào? Thầy với nhà lý chẳng ưa gì nhau nhưng thầy là người chẳng vô tình, nhà lý chết như thế chắc lại suy nghĩ lắm.
-Em cứ về bên ấy xem thế nào, chắc u không câu lệ cái chuyện lại mặt ấy đâu.
Đĩ Thị cởi bỏ được nỗi lo, nhờ chồng chăm lũ lợn rồi vội vàng về nhà. Anh cu Toại nhìn theo bóng vợ chạy xấp ngửa ra ngoài cổng thấy thương, người đâu mà lúc nào cũng thấy lo, chẳng thấy khi nào tụ tập cùng đám chị em trong làng vui đùa, hội hè đám xá gì có đến cũng chỉ ăn miếng trầu, ngồi không, mai ngày con cái rồi chẳ biết có thay đổi.
Chỉ có quãng đường mà đĩ Thị chạy hớt hải, ai gặp cũng phải ngạc nhiên tưởng nhà ông tổng có chuyện gì. Có chuyện gì mà đến nhanh thế, ai cũng vừa gặp vợ chồng nhà Diệc cùng đi viếng đám ma, đĩ Nhụ sợ không dám lại gần cứ đứng từ xa nôn khan, đám con gái còn chành chẻ, mới sống ở thị thành được mấy năm mà đài các như tiểu thư, cái thây ma ấy có gì mà phải sợ. Đĩ Thị chạy xộc thẳng vào nhà khiến ông tổng lại tưởng có chuyện không hay với con mình, hỏi dồn:
-Chuyện gì thế, thằng cu Toại nó làm gì mà đến nông nỗi này?!
Đĩ Thị vuốt ngực để thở, vuột lại mớ tóc bị sổ xoã xượi vấn cho gọn lại, nhìn quanh tìm chiếc khăn nhưng đã rơi chỗ nào rồi chẳng hay. Thấy mọi người đông đủ, đĩ Thị mỉm cười, hỏi:
-Cu Sơn ăn gì chưa? y, lại quên, còn cái đùi gà để phần mà vội quá, sao bảo sang chị không sang?
-Nhìn bộ dạng kìa, cô làm cả nhà hết hồn, cô dâu mới mà chạy te tái ở đường thế người ta lại nghĩ sai.
Cả nhà vui là mừng rồi, chuyện nhà lý chết bờ chết bụi là chuyện nhà người ta, chuyện ngày đầu làm dâu chắc mẹ chồng cũng thông cảm, đã lâu rồi đĩ Thị thấy vui như ngày hôm nay. Cô như đang được dòng nước mát lành mơn man trên da thịt, như lần đầu nhấp môi vào chén rượu, hơi men cay cay đầu lưỡi, hơi ấm rạo rực lan toả trong người. Chị Sông nhìn má em ửng hồng, ánh mắt dõi nhìn xa xăm kia đã biết e thẹn tránh cái nhìn của người khác, vậy là mừng cho cô ấy đã là đàn bà, mong cô ấy sẽ chẳng mắc phải cái nghiệt chướng thèm khát đàn ông như chị.
“Khuya rồi, về đi không chồng mong.” “Em chơi với cu Sơn tí nữa, anh ấy biết thể nào cũng về muộn rồi, cu Sông đâu, mọi khi lắm nhời thế cơ mà sao hôm nay cứ nem nép thế.” Đĩ Thị ngó ra ngoài sân. “Hôm nay đã cuối tháng đâu mà sao trời tối thế.” “Có sợ để anh đưa về?”. “Em ở làng này thì có gì mà sợ, thầy lần đầu tiên về đây trời tối thế này không khéo lạc”.
 Ra khỏi cổng nhà, đĩ Thị đã phải cẩn thận dò dẫm từng bước chân, quờ tay lên phía trước như người mù, chập chững như đứa trẻ tập đi, phía trước trời tối như bưng lấy mắt nào có nhìn thấy đường mà đi. Đi lối nào nhỉ, trong làng thì phải qua nhà lý, thợ kèn đã nghỉ từ lâu nhưng trong tai vẫn còn vương vất tiếng tí te đâu đây rờn rợn, lại còn nhà ấy bị dại nữa đi gần cũng kinh kinh, mà đi vòng lối ngoài đồng thì đồng không mông quạnh, trống vắng như âm phủ cũng sợ. Sao ông chồng mới cưới gì mà chẳng thèm quan tâm tới vợ, đi đón thì có gì mà ngại chưa có lễ lại mặt chưa dám sang. Người đâu cứ câu nệ, khách khí thế, thầy coi trọng lễ nghĩa nhưng đã là con cái phải chân tình, có gì phải e dè. Tiếng gió rỡn trên cánh đồng rào rạo như những bước chân đạp trên lúa, đĩ Thị chờn chợn khiến bước chân đổ xiêu đổ vẹo trên con đường mấy hôm rồi trời mưa nhiều đất bị xục lên như rãnh cày. Đình làng kia rồi, bóng cây đa xoà xuống như người khổng lồ khom lưng bắt cua bên bờ ao. Tiếng cá quẫy chum chủm như tiếng người khổng lồ rút tay ra khỏi lỗ cua. Cảm giác gần gũi khiến đĩ Thị bớt sợ. Chỉ còn mươi bước nữa là tới cổng nhà chồng.
Bỗng đĩ Thị giật thót người, hoảng sợ đến nghẹt thở. Những bóng đen như được nứt ra từ bóng đen của đêm chạy vụt ngang qua sân đình. Chuột đêm hay là bóng ma, mới chỉ nhoáng qua thôi chứ đĩ Thị đã nhìn rõ thế nào. Đĩ Thị đứng nhìn trân trân về sân đình. Một bóng đen nữa được nứt ra từ bóng đen của đêm. Lần này bóng đen còn đứng lại giữa sân đình, nhìn quanh. Rõ ràng là người. Nhưng là ai mà lại ra đình đêm hôm thế này? Chẳng nhẽ bọn cướp rừng Vàng? Cái làng nghèo xác này nếu chúng muốn cướp thì chẳng phải chờ đến ngày hôm nay. Ý nghĩ này khiến đĩ Thị bình tĩnh lại, đi về phía đình. Có tiếng chân thình thịch phía sau. Ai mà đi vội thế? Chờ người ta đi cùng qua đình cho đỡ sợ. Đĩ Thị quay nhìn lại phía sau, chờ. Bốn bóng đen phía sau phát hiện có người đang đứng giữa đường liền nhao vào bụi tre bên đường nấp. Đúng là cướp rồi! Đĩ Thị nhận ra những bóng đen là ai, vùng bỏ chạy. Bốn bóng đen nhào đuổi theo. Đĩ Thị la gọi người tới cứu nhưng hàm bị cứng lại thành ra chỉ có tiếng u ú như tiếng rít của người nghẹn thở. Bốn bóng đen đuổi dồn, tiếng đao rít gió ngay sau gáy, đĩ Thị quáng quàng chạy. Đĩ Thị chạy vập vào gốc đa, ngã xõng xoài xuống bờ ao đình, đau đớn. Bốn bóng đen đứng lừng lững ngay trước mặt, lưỡi đao sáng nhoáng đã vung lên chuẩn bị bổ xuống, đĩ Thị vùng đứng dậy, dựa lưng vào gốc đa, nhìn thẳng vào bọn cướp không hề sợ hãi. Lưỡi đao trong tay tên cướp bỗng nhiên buông thõng xuống. Hắn lùi lại, lắp bắp nói:
-Nhìn vào mắt con này ghê lắm, tao không dám!
-Chém người như chém chuối như mày mà cũng ghê à, nhanh lên không cả làng kéo ra bây giờ!
Lưỡi đao trong tay tên cướp lại vung lên, nhằm đầu đĩ Thị bổ xuống. Đĩ Thị nhắm mắt kinh hoàng, ôm chặt vào gốc đa. Cuộc đời mình như vậy là hết. Hôm qua, thoáng nhận được ánh mắt tuyệt vọng của chồng, linh cảm điều xấu sẽ đến với anh ấy khiến đĩ Thị lo lắng, thế mà bây giờ điều tuyệt vọng ấy lại xảy ra với chính mình. Chắc là anh ấy chẳng có linh cảm vậy cho nên không sang đón. Anh ấy là người chiều chuộng vợ hay là người vô cảm để mặc vợ muốn thế nào thì thế đây?
Không có sự đau đớn nào xẻ đôi người, chỉ thấy tiếng huỳnh huỵch, bóng người đảo qua đảo lại nhoáng nhoàng như ánh chớp quanh mình, đĩ Thị hé mắt nhìn. Một bóng đen đang đứng sừng sững cạnh mình, oai phong như con cọp trong tư thế chuẩn bị ra đòn tấn con mồi. Những bóng đen từ trong bóng đen của đêm chồi ra, quây xung quanh cây đa, khí giới giơ cao sẵn sàng lao vào hai người.
-Cái làng nghèo xác này có gì mà bọn bay đến cướp?
-Không liên can gì đến mày sao dám cản bọn ta! Hôm qua lý Ngang chết, trong người có vàng rơi ra chứng tỏ nhà hắn phải nhiều của nả, lại tiền phúng viếng hôm nay, chúng tao đến xin nhà ấy, để yên cho bọn ta hành sự, không đừng trách!
-Nhà nào cũng vậy thôi, không được làm điều xằng bậy!
Lũ cướp hò nhau xông vào. Bóng đen bên cạnh đĩ Thị thét lên rồi tung người tấn công tên gần nhất. Đồng thời ngay sau tiếng thét đó là một tiếng nổ như sét đánh vang lên, ánh chớp nhoáng nhoàng. Tất cả bọn cướp chựng lại, hoảng sợ nhìn quanh. Phải chăng đó là công lực của người kia vừa tung ra? Chiếc cối đá thủng gần cây đa, ngay cạnh chỗ tên vừa dính một đòn, bị vỡ tan tành, lằn khói bụi trắng cuộn lên. Một tên nào đó thốt lên kinh ngạc:
-Đình làng này thiêng lắm, Ngài hiện về đấy!
“Lậy Ngài!” Những tên cướp miệng khấn, quay người lại chạy thục mạng.
Trời bắt đầu đổ mưa. Những hạt mưa quật đèn đẹt xuống mặt sân đình như roi quất. Mành nước sáng nhờ khiến đĩ Thị nhận ra chồng mình đang hốt hoảng đi tìm.

*
*     *

-THẾ CHÚ ĐÃ NHÌN THẤY NGÀI HIỆN VỀ CHƯA!?
-Tao chưa nhìn thấy nhưng chị đĩ thấy rồi.
-Sợ quá bị hoa mắt thì có, cô ấy đứng ngay cạnh mà không nhìn rõ Ngài thế nào. Lúc ấy là sét đánh trúng cái cối đá chứ tay nào mà đấm vỡ tan vụn ra như thế, có hoạ là thần thánh.
-Đấy nhớ, mày cũng tin là có thần thánh, thế mà cứ cãi. Bọn cướp mà sợ sét thì sao mà đi cướp được, mày trẻ con, lại ở thị thành từ bé thì biết gì.
-Không nói chuyện này nữa. Ối giời, có rắn hay sao ấy, cậu ơi!
Cu Sông hốt hoảng chạy vội vàng lên bờ, bùn bắn toé cả lên người hai chú cháu.
-Chỗ nào?
-Chỗ cháu vừa đứng ấy, nó bò buồn buồn dưới bàn chân.
Cu Sơn xục ngập hai cánh tay xuống chỗ cu Sông vừa đứng, hai bàn tay lùa nhẹ dưới bùn. Cu Sơn không phải là đứa sát cá, nhưng đã là dân làng Trằm thì giời cũng không nỡ lòng nào lại không ban cho đôi bàn tay như có mắt biết lần tìm đường đi của con cá trong bùn đen.
-Con trê này cỡ cổ tay người lớn mày ạ.
-Sao chú biết?
Nó đang chúi sâu xuống, cảm nhận được bùn đang trôi truội bên tay phải, ngay gần thôi, cu Sơn phóng hai bàn tay về phía đó đè chặt xuống. Con trê lắc người tìm cách chạy thoát. Nhưng thoát sao được khi bàn tay của người dân làng Trằm đã đè lên lưng. Nhanh chóng ngón tay cái và ngón trỏ của cu Sơn kẹp chặt vào hai bên ngạnh của chú cá xấu số lôi lên khỏi bùn. Đúng là con trê to bằng cổ tay người lớn, cu Sông nhìn chú thán phục.
-Vũng này lắm cá lắm, mày biết tát vét không?
Chú cá trê bị xỏ bằng sợi cỏ may từ miệng qua mang nặng trĩu trên tay khiến cu Sông hào hứng.
-Chú cháu mình tát đi! Cái vũng này tát có lâu không?
-Mày về lấy thau, lấy rổ, để tao ở đây be bờ!
-Về bây giờ u cháu không cho đi đâu.
-Thế thì chạy vào nhà đĩ Thị mà mượn.
Tiếng tát nước của hai chú cháu cu Sơn xì xạp như tiếng xẩy lúa trên nia len lỏi khắp cánh đồng vắng lặng.
-Không có ai ra đồng, chú nhỉ?
-, sao thế nhỉ, tao cũng chẳng biết, vụ này được mùa, lúa chín rũ rồi mà chẳng nhà nào gặt. Hôm nọ thầy tao bảo đám cưới chị đĩ xong thì gặt mà sáng nay vẫn chưa thấy chuẩn bị liềm hái gì.
-Cá nhiều thế này không ai đi tát. Hình như nhà ông lý có cỗ đám ma, chú nhỉ?
-Hỏi nhiều thế, tát thay cho tao một lúc. Mày biết tát gầu thì cạn lâu rồi.
Cu Sơn buông thau xuống. Chiếc thau đồng xoay tròn theo dòng nước, lấp loá ánh sáng phản chiếu. Cu Sông rón rén lội xuống, một tay cầm miệng thau tay kia đặt vào đáy thau, mắm môi tạt nước mạnh sang bờ bên. Cu Sơn kéo rổ đi quanh chỗ đã cạn bắt những con cá không kịp theo nước rút, nằm giẫy trên bùn. Những con diếc to bằng bàn tay ngửa mình đập đèn đẹt xuống mặt bùn, vẩy trắng lấp lánh dưới ánh nắng. Đàn rô giương vây rạch bùn xoành xoạch, chạy trốn. Cá dói nằm đườn người, ngáp thở. Nước chưa cạn hết, thấy lũ cá chồi lưng khỏi mặt nước nhao nhác tìm vào chỗ nước sâu, cu Sông buông thau lội ào vào giữa vũng vồ bắt. Nhưng những chú cá cứ chuội khỏi tay. Bùn sục lên đen đặc. Cu Sơn quát cháu:
-Mày làm thế cá chúi xuống bùn hết à, tát tí nữa đi!
Nhưng cu Sông không chịu tát, nhoài người xuống bùn bắt cá. Cu Sơn đành ùa theo cháu bắt những con cá nổi trước. Hai chú cháu bê bết bùn đất nhưng được lưng rổ cá. Cu Sơn bứt cỏ ở rệ bờ phủ lên cho cá khỏi nhẩy ra ngoài. Chừng đã thấm mệt, cu Sông giục chú:
-Nắng rát đầu quá, cháu tắm trước đây.
Cu Sông chạy về ao đình, đứng trên bờ khoát nước té lên gột bùn. Nước bùn từ trên đầu tràn xuống mắt cay cay, định lội xuống ao ngụp một hơi cho sạch nhưng nhìn những con đỉa như những mũi tên đang nhao vào vùng nước động cu Sông sợ quá đành nằm nhoài người xuống bờ ao, hai tay vớt nước té lên gội đầu. Chừng đã sạch, cu Sông ngẩng đầu lên, những dòng nước còn đang chẩy tràn trên mặt thì ngay trước mắt, phía bên kia ao đình  chợt có một bóng trắng thoáng vụt qua. Cu Sông hoảng sợ nằm co người nấp vào sau gốc cây xà cừ ngay cạnh. Thấy cháu run rẩy, nằm chúi vào gốc cây nghĩ rằng cháu bị cảm, cu Sơn đang nặc nè bưng rổ cá vội buông xuống chạy lại, hỏi:
-Mày bị sao thế?
Cu Sông lập cập hất hàm sang bên kia ao:
-Hình như có ma!
Sân đình vắng lặng. Tiếng chó sủa anh ách như vừa bị chủ nhà trút cơn tức giận.
-Ma đâu? Làm gì có gì bên kia? – Cu Sơn cũng cảm thấy sờ sợ.
-Cháu vừa nhìn thấy nó đi vút qua, nhoáng cái đã biến mất!
-Đấy, nhìn kìa! – Cu Sông trỏ tay.
-Đừng trỏ tay vào giữa cửa đình thế, cụt ngón tay đấy! Ma đâu?
-Nó nấp xau gốc đa ấy!
Cu Sơn căng mắt nhìn vào gốc đa. Một bóng người từ chỗ cái cối đá khuất sau gốc đa chạy vụt ra rồi biến mất vào bụi tre sau đình.
-Ma thật mày ơi! Về nhanh đi!
Cu Sơn túm áo cháu vội vàng lôi đi. Hai chú cháu nép sát người bò men theo bờ ruộng. Cu Sông rên rỉ:
-Chú ơi... sao bây giờ!
-Mày khóc đấy à! Sợ gì, ma ngày làm sao dám bắt người.
-Nhưng...
Cu Sông chưa kịp nói hết câu, cu Sơn còn chưa kịp xác định hai chú cháu đã chạy tới đâu thì bỗng giật mình bởi tiếng la mắng:
-Giời ơi! Hai chú cháu làm sao như ma vùi thế này!?
Cu Sông oà khóc thét lên, ôm chặt lấy chú, hoảng loạn. Cu Sơn thót người lại kinh hoàng.
Bà Sông túm tay hai chú cháu lôi từ dưới ruộng lên.
-Khổ tôi không, làm sao thế này?
Cu Sơn nhận ra chị, trong bụng vẫn còn run, chỉ tay về phía đình, lắp bắp nói:
-Sân đình có ma!
-Giữa ban ngày ban mặt thì làm gì có ma. Về tắm rửa nhanh lên không cảm ra bây giờ thì khổ. Ai đời cả làng không dám ra khỏi cổng, chú cháu lại rủ nhau đi đầy nắng thế này. Thế hai chú cháu ra đây làm gì?
-Chết rồi, còn cái rổ với cái thau của chị đĩ. Nhưng em sợ lắm, chị ra lấy hộ em, ở chỗ bờ ruộng nhà bà Hướng ấy.
Cả làng không ai dám bước ra đường, cổng ngõ cài chặt, tất cả những gì có thể làm vũ khí được đều để ở vị trí thuận lợi sẵn sàng đánh trả. Nhà lý là lo nhất, hôm nay cúng ba ngày cho lý Ngang mà xuống bếp làm cơm cũng không ai dám, thầy cúng đến gọi cổng khiến cả nhà được phen khiếp đảm đuổi thầy ời ời, cứ như thầy là quân cướp. Nhất định phải có nội gián cho nên bọn cướp mới biết trong người lý Ngang có vàng. Điểm mặt những người khênh lý Ngang nhập quan toàn họ hàng cả, duy nhất chỉ có thầy Hay là người ngoài lại ở nơi khác đến. Không thầy Hay thì còn ai!?
Thầy Hay gọi cổng không ai ra mở mà lại bên trong có tiếng chửi vọng ra. Thầy vốn nặng tai không nghe rõ, chứ biết bà lý chửi gì thì chắc thầy chẳng nhón chân nhòm qua khe cổng mà xỏ xiên:
-Cả nhà chúng mày bị ma dại nhập hay sao mà không ra mở cổng, cứ ư ử trong nhà thế, ông cất công từ xa tới để làm phúc cho nhà mày mà không cho ông vào là thế nào, cứ đuổi ời ời vậy là sao!?
Bóng nắng đã tròn xoay dưới chân, không thể đợi nhà lý ra mở cổng được nữa thầy Hay kéo vạt áo lau mồ hôi, hậm hực trở về. Khi thầy vừa bước ra khỏi cống Rô thì trong làng bắt đầu rộn lên tiếng gọi từ nhà này sang nhà kia. Bắt đầu từ nhà bà Hướng. Bà Hướng ngó trước ngó sau rồi ra tận bờ rào gọi sang bên nhà Soi:
-Bà Soi có nhìn thấy gì không đấy! Sân đình có ma, bà có nhìn thấy không?
Bà Soi hé cửa ra thưa:
-Mải nhìn ra ruộng nhà mình, hình như tôi cũng thấy thoáng qua, cứ nghĩ mắt mình kèm nhèm, thế bà nhìn có rõ không?
-Ngay trước cửa nhà tôi, rõ lắm, nó mặc yếm xanh, tóc để xoã xượi chả nhìn rõ mặt ra sao.
Tin sân đình có ma được truyền đến nhà cụ tổng thì cũng là lúc đĩ Thị đẩy cổng chạy vào. Bà Sông hốt hoảng kéo em vào nhà, mắng:
-Không sợ cướp thì cũng không sợ ma bắt à, cô liều thế, có việc gì mà về?
Thầy Quyết cùng ông Diệc ngồi uống nước bên bàn cả cười:
-Này cô Thị, cởi áo ngoài ra cho chị cô xem con ma nó thế nào.
Đĩ Thị cởi áo ngoài rồi buông xoã tóc xuống. Bà Sông hiểu chuyện gì, mắng em:
- Sao cô liều thế, ra ngoài ấy làm gì? Cái yếm là của tôi, từ ngày chưa lấy anh cô đấy, về làng ai cũng chê là lạc loài tôi phải cất đi. – Bà Sông chợt nhớ tới chú cháu cu Sơn, hỏi chồng: Thầy nó có thấy hai chú cháu đâu không?
-Hình như chúng nó chơi dưới nhà ngang.
-Em vừa xuống đấy, làm gì có ai!
Đĩ Thị nói với chị:
-Lúc nãy em thấy thằng Sông vào nhà em lấy thau với rổ chắc lại tát vét ở cánh Phệ. Thấy trẻ con không sợ, em liều ra xem cái cối đá bị Ngài đánh vỡ thế nào.
-Cô cháu nhà này liều thật, thế có khổ tôi không!
Bà Sông kéo hai chú cháu về cầu ao đình tắm rửa. Có chị, có mẹ bên cạnh hai đứa trẻ đã quên chuyện nhìn thấy ma, nhẩy xuống ao bơi thùm thùm. Mải nhìn hai đứa trẻ, bà Sông không biết bản thân bà cũng khiến người làng gọi nhau từ nhà này sang nhà kia “Chị em nhà bà Sông tắm rửa ở ao đình có sao đâu, ma ngày nào dám nát người. Có lẽ cả ma cả cướp bị Ngài làm cho sợ quá chẳng dám quay lại”
Ngoài những người nhà cụ tổng thì cụ tiên Soi là người ra đường đầu tiên. Cụ vốn là người hoạt bát, hay lo chuyện làng chuyện xóm cho nên sự kiện làng chưa có lý trưởng và Ngài xuất hiện đánh cướp giúp dân làng khiến cụ băn khoăn. Đứng ngoài đường cụ gọi to qua bờ rào nhà bà Hướng:
-Bà Hướng đã hết sợ chưa nhỉ, mau ra dọn đình, trải chiếu hoa để mời hội đồng kỳ mục, mời tất cả các cụ đại diện các họ ra có công việc bàn gấp nhá!
-Sao cụ sốt sắng thế, có phải việc của cụ đâu.
-Ôi dào, việc làng việc nước ai chẳng phải lo, việc của bà, bà cứ làm khẩn trương lên!
Đi qua nhà cụ tiền Huề, cụ tiên Soi gọi mãi mới có người ra mở cổng.
-Cụ tiên có ra ngoài đình được không?
-Cụ nhà cháu mệt....
-Mệt tôi cũng đi được
Không để người cháu kịp cất lời cáo từ, cụ tiên Huề đẩy cửa đi thẳng ra đình, cây gậy trong tay run lẩy bẩy. Chính cụ là người đầu tiên chứ không phải là bà Hướng mở cửa đình. Cụ lẩm bẩm: “Mẹ cha đám thanh niên làng này, cướp mới doạ một tí mà đã rúm ró sợ hãi thì thử hỏi ra trận thế nào đây. Cả cái nhà trương Bân, sao ngày xưa quát lác không sợ cướp thế mà đến giờ cũng chưa dám ló mặt ra.” Cụ đi thẳng vào điện thờ, vén rèm lên, lấy ba que nhang nhưng nhìn đến đèn thì lửa đã tắt, cụ lại lẩm bẩm: “Ngài phụ hộ độ trì, cứu giúp dân làng bao đận rồi thế mà có đứa nào biết ơn đâu, đến ngọn lửa thắp lên mỗi ngày cho ấm cúng thế mà cũng không làm được. Giá mà còn cụ cố Cờ...”.
Người đến tiếp là cụ tổng. Vốn từ xưa tới nay, mỗi khi vào đình từng bước chân của cụ cũng phải kính cẩn, không thể để sơ ý mà va vấp vào bất cứ vật gì thế nhưng mấy hôm nay cụ thấy mắt nhìn bị nhoè ra như nét mực bị nước giây vào khiến cụ không nhận rõ được mọi đồ vật trong không gian nhờ nhờ tối. Cụ huơ tay tìm ghế ngồi. Cụ tiên Huề chống gậy đi lại đỡ cụ tổng, hỏi:
-Mắt cụ sao thế?
-Mấy hôm nay mắt tôi cứ thấy nhặm nhặm, nhìn chả rõ vật gì.
-Bị lông quặm rồi, chốc sang bên tôi bảo u thằng Sung khều cho. Nhưng cũng chỉ đỡ được vài hôm thôi. Khổ thế đấy, một ông thì chân tay đi không vững, một ông thì loà lại xốt xắng lo việc làng xã, giờ cũng chưa thấy ai ra là thế nào.
-Cũng ra cả bây giờ đấy cụ ạ, tôi với cụ rỗi rãi, mọi người còn phải lo chuyện nhà chuyện cửa.
Tiếng đầu gậy lê xuống đất quèn quẹt ngoài sân là của trương Bân, hai cụ nhìn nhau như thầm nhắc hắn đến rồi, lời ăn tiếng nói của hắn khó nghe lắm. Trương Bân gõ đầu gậy vào bậc cửa thay cho lời đánh tiếng rằng mình đã đến. Không ai lên tiếng mời nhưng trương Bân vẫn cà nhắc nhấc chiếc chân bị thương qua bậc cửa rồi quay người lại phía sau nhổ xuống giữa cửa miếng nước cốt bã trầu đỏ ngoét. Hai đầu ngón tay vuốt xuôi hai bên mép, xong rồi vừa phì cho sạch bã trầu trong miệng trương Bân vừa nói, giọng oang oang:
-Thế mới chỉ có hai cụ thôi à? Dân làng mình thật xấu hổ với bàn dân thiên hạ phải không hai cụ, mới có mấy tên cướp đáo qua làng thôi mà đã sợ mất mật, nói thật chân tôi mà lành lặn, sức tôi còn trai tráng thì hôm qua tôi truy sát từng đứa. Cũng chỉ tại cái đĩ Thị nhà cụ cơ.
-Tại đĩ Thị là sao! Anh định nói nó gọi quân cướp về cướp làng phỏng! – Cụ tổng biết trương Bân muốn ám chỉ gì, tức giận chặn lời.
Anh cu Ngà cùng cụ Xuyên, ông Hích là chỗ cánh họ Vũ đi vào. Cụ Xuyên nghe thấy cả, biết cụ tổng có ý nóng giận, ngồi xuống cạnh dàn hoà:
-Cụ còn lạ gì cái tay trương này, vừa đi từ nhà tới đây mà uống hết chai rượu, chấp nê làm gì nó. Mới không có lý trưởng có một ngày mà đã chẳng ai bảo được ai, lại để cho cướp xông vào nữa thì còn gì là làng xã nữa cơ chứ, không bầu ra lý trưởng thì đấy mới là việc nguy cụ ạ.
Tiếng cuối cụ Xuyên kéo dài giọng tỏ vẻ khẩn thiết. Nhưng như vậy cũng chưa đủ khiến cụ tổng dịu bớt ánh mắt tỏ ra giận dữ. Mọi người ngạc nhiên, lặng lẽ nhìn nhau tự hỏi trong lòng vì sao vậy. Và có phải vì thế khiến anh cu Ngà khi nãy ở nhà hăng hái lắm thế mà giờ đây ngồi ôm gối co ro bên góc cửa như là thủ thế chờ sơ hở của đối phương để ra đòn chính xác. Cũng không phải vô cớ mà cụ tổng nóng giận vậy. Khi đi ngang qua nhà lý, cụ nghe rất rõ tiếng u thằng cu Ngà lanh chanh, phải tìm cớ đổ tội cho thầy Quyết dẫn cướp về thì mới hạ được uy tín nhà cụ, có vậy cu Ngà mới tạo được uy thế để rồi sẽ thay cha làm lý trưởng dễ dàng cai trị dân làng. Các cụ, các ông trong làng đến đủ cả. Cụ tiên Soi thay mặt cho hội đồng tiên chỉ có lời:
-Thưa các cụ, thưa các ông, nhẽ ra phải là cụ tiên Huề có lời bởi cụ là người đứng đầu hội đồng kỳ mục, nhưng cụ có uỷ quyền cho tôi vậy tôi xin mạn phép có nhời. Nước nhà không thể một ngày thiếu vua và tới cấp thấp nhất là làng xã cũng vậy thôi, không thể thiếu người đại diện cho dân làng trước hết là với trời đất sau là với quan trên. Nếu không có vậy thì các cụ, các ông thử ngẫm xem, lý trưởng làng Bùi mất, tranh giành nhau chức quyền không tìm được ai thay thế đến nửa năm trời vậy là trời phạt đổ lửa xuống cháy trụi gần hết làng, còn nhỡn tiền như làng ta đây, mới không có lý trưởng có một ngày mà quân cướp đã kéo tới rình rập, may mà Ngài linh thiêng ra tay cứu độ không thì cơ sự thế nào không lường hết được.
Chưa để cho cụ tiên Soi nói hết lời, cụ Xuyên đứng dậy vừa nói vừa vung tay chém vào khoảng không trước mặt, điệu bộ tỏ ra dứt khoát:
-Cụ tiên Soi nói vậy quả xứng là người cầm cân nẩy mực cho làng này! Cụ nói lý trưởng là đại diện cho cái uy của trời đất, vậy thì theo mọi người ai xứng đáng đây, liệu nhà anh cu Ngà ba đời là lý trưởng vậy có phải trời ban lộc cho không.
Cụ tiên Huề lập cập chống gậy đứng dậy cắt ngang lời cụ Xuyên:
-Xin lỗi cụ, hội đồng kỳ mục chưa nói hết mà cắt ngang thế là không được. Ai xứng đáng để dân làng đề nghị làm lý trưởng thì còn phải phân giải cho rõ ràng. Nếu cụ đưa người họ Vũ lên thì người họ Nguyễn đằng cụ tổng cũng đưa lên, rồi họ Phạm, họ Hoàng nữa, thế thì ai chịu ai, rồi lại tranh giành thì đến khi nào lang mới có được lý trưởng. ý tôi vậy, cụ nào còn ý kiến nào nữa?
Cụ tổng chậm rãi đứng dậy, hướng về điện thờ thành hoàng chắp tay vái ba vái theo thông lệ trước khi có nhời, nét mặt trở nên ưu tư nhưng giọng nói đanh lại:
-Tôi không phải là người đi nhiều, biết nhiều nhưng trước tiên tôi cũng xin bầy tỏ lòng cảm kích trước tấm lòng thương người dân nghèo khổ của các cụ trong hội đồng kỳ mục và điều nữa tôi cũng xin cảm ơn cụ Vợi, bà Hướng và những vị trong họ Phạm đã có đề nghị cho anh cu Diệc nhà tôi làm lý trưởng. Không được đâu các cụ, các ông, các bà ạ, làm như thế là trái với quy định của nhà nước bảo hộ, của triều đình. Xin hỏi các cụ trong hội đồng kỳ mục, chính danh hội đồng này được lập nên là do dân bầu, thế nhưng thử hỏi những người áo một manh chiếu một mảnh, nhà xiêu vách đất liệu có tìm được một chỗ ngồi giữa đình như các cụ hay không. Theo tôi, việc này các cụ đệ trình lên quan trên tỏ đèn soi xét mà bổ người xứng đáng.
Nói xong cụ tổng buông người xuống ghế, thở dài. Mọi người im lặng, nhìn sâu vào không gian nặng nề trong đình. Xưa nay đã ai nghe thấy cụ có những lời nói bất lực trước vấn đề cần giải quyết của làng thế này đâu. Bản thân cụ cũng nhận ra mình đã không  kìm được những lời nói ấy. Bày đặt chuyện bầu lý trưởng là cụ tiên Soi người họ Vũ, người săng sái đề cử cho cu Ngà là cụ Xuyên trưởng chi họ Vũ nhà lý và họ biết chắc chắn rằng cái chức lý trưởng ngoài anh cu Ngà chứ chẳng phải ai khác bởi quan tri Nghiệp là người họ Vũ ở Đồng Trung. Mà theo thông lệ của nhà nước có được bầu lý trưởng đâu. Vậy họ Vũ muốn gì, chả phải nghe lỏm được câu chuyện giữa mẹ con nhà lý, ông tổng cũng biết tỏng cả rồi. Họ Vũ bày đặt chuyện bầu lý trưởng chẳng qua vì anh cu Ngà còn trẻ, nếu không có nhời với làng nước e rằng dân làng không phục rồi sẽ khó cai trị. Giữa đình là chốn linh thiêng mà đằng họ đấy dám dựa vào cơn cớ con dân làng Trằm đang hoảng loạn để mà giễu cợt ông, giễu cợt cả làng này không biết gì thì thật không phải. Thây ma lý Ngang chưa tan khỏi mảnh đất này thì còn lắm điều thị phi.
Phía cánh Phệ, những khối mây khổng lồ như từ sau rặng tre xô đẩy nhau đùn lên xây đắp thành một bờ tường thành đen đặc một góc trời. Bầu trời như bị sức nặng của bức thành mây sắp kéo lật nhào xuống cánh đồng. Những tia chớp sáng xanh nhoáng nhoàng như lưỡi gươm vung lên, gắng sức xẻ đôi rặng tre. Tiếng sấm rền như tiếng đoàn quân reo hò. Mọi người chen nhau ra nhìn lên trời trông chừng, muốn chạy luôn về lo việc nhà. Nhưng ông giời chẳng cho ai về, giáng một tiếng sét đinh tai ngay trên đầu. Ngôi đình rung lên tưởng chừng muốn đổ sụp xuống khiến mọi người khiếp hãi xô nhau chạy dạt vào trong, co rúm người lại, ngồi xụp xuống run rẩy bất lực trước sự trừng phạt của thiên nhiên. Bóng đen dần loang kín bầu trời. Rồi chẳng bao lâu, chúng từ từ đùn qua cửa, chậm rãi lan toả kín không gian trong đình, dồn những con người đang hoảng loạn ép sát vào nhau đến nghẹt thở. Bóng nắng vừa còn chói chang thế mà chỉ trong tích tắc trần gian đã bị nhấn chìm trong tối đen như bị chìm sâu xuống lòng vực thẳm.
Mọi người chưa kịp hết bàng hoàng để nhận ra hoạ gì đang đổ xuống trần gian thì trong khoảng sáng mờ ảo của khuôn cửa những bóng người lạ xuất hiện chạy ào vào đem thêm bóng đen thêm đen đặc trong đình. Người hay là ma người hiện? Những sinh linh trong đình hoảng sợ rạp người xuống cầu khấn giời phật. Nhưng những con dân làng Trằm nhận ra ngay không phải là ma mà là người bởi tiếng quát hách dịch:
-Trong đình có người không mà sao không lên tiếng!?
-Quan tri về, tại sao làng không đón rước lại trốn biệt đâu cả rồi!?
Sau tiếng nạt nộ đầy uy quyền thì con dân làng Trằm lại nghi ngờ hỏi nhau. Có thật là quan tri về? Sao lại về đúng lúc này?. Có phải giời thương đưa quan về cho dân như ngày xưa đưa quan tri Thăng về sau trận lụt? Anh cu Ngà là người vững tâm nhất, chạy ra hỏi mấy người lạ, giọng run run chẳng biết xúc động vì quan tri về hay là còn sợ bởi chưa biết ông giời sẽ giáng hoạ gì xuống:
-Các anh là ai? Quan tri đâu?
-Chú Ngà hả, anh đây! Sao không thắp đèn lên!
Con dân làng Trằm ngẩng lên nhìn về nơi vừa phát ra giọng nói khàn khàn, thân tình với cu Ngà, hy vọng một đấng nam nhi lừng lững, oai phong xuất hiện trước cửa đình. Nhưng không như mong đợi. Dù chi họ Vũ nhà quan tri Nghiệp đã di cư khỏi làng này ba đời nhưng chưa thể mất đi cái dáng người bé quắt, có dáng đi xo vai rụt cổ, giống như bóng dáng người kia đang đi lại phía anh cu Ngà. Trời xầm xì, hai bóng người đứng cạnh nhau giống như được tách ra từ một người.
Ngọn đèn bão được cụ Xuyên thắp lên. Ánh sáng không đủ tỏ khiến cho những gương mặt ngơ ngác của con dân làng Trằm thêm nhiều góc cạnh, xù xì như những bức tượng đẽo dở. Mọi người lặng lẽ đứng lên, những ai không phải họ Vũ biết điều khép nép dồn vào góc đình. Chiếc đèn bão được cụ tiên Soi giơ cao để quan tri nhìn rõ đường đi lại bộ sập giữa đình. Là dòng giống nảy nòi từ nơi đây nhưng đến lúc này con dân làng Trằm trong đình mới rõ dung nhan của quan tri. Chẳng khác gì cha con nhà lý Ngang bởi đặc trưng với khuôn mặt nhọn do đôi lưỡng quyền nhô quá cao, hai má tóp lại và đặc biệt cái miệng rộng cùng đôi môi mỏng đầy quyết đoán nhưng phải tội hai bên khoé mép lúc nào cũng có cặn trắng do nước bọt đùn ra trông như hai hạt cơm ăn xong không chịu chùi miệng. Cánh lưng cong cong, quan tri Nghiệp như con tôm di chuyển đến chiếc sập, nghênh lên ngồi chỉnh trệ, gõ sống quạt cồm cộp xuống thồi, giọng kẻ cả hỏi bâng quơ:
-Bác tổng có ra đình không nhỉ?
Cụ tổng không muốn lên tiếng cũng không được bởi cụ tiên Soi bao giờ cũng là người nhanh nhảu, nhất là với quan trên, khúm núm bẩm:
-Dạ bẩm, hôm nay các cụ trong làng tới đủ cả, cụ tổng bao giờ cũng là người tới sớm nhất. – Rồi quay sang đám đông người đứng dồn ở góc đình gọi to, kẻ cả: Cụ tổng hôm nay quên lễ nghĩa rồi sao mà không thấy có nhời là thế nào. Quan tri có nhời, mời cụ tổng lên cho ạ!
Cực chẳng đã, cụ tổng đi lên trước mặt quan tri Nghiệp. Cụ quay về phía điện thờ, chắp tay vái Ngài ba vái, nhưng lần này không phải như thông lệ trước khi có nhời mà trong lòng cụ thấy bất an, muốn lấy Ngài làm chỗ dựa. Cụ biết quan tri về làng là mang sắc phong cho cu Ngà làm lý trưởng và cụ biết con người của anh cu Ngà đã thể hiện quá rõ qua đôi mắt lúc nào cũng ngầu đỏ như thế nào rồi. Tỏ ra thân tình với dân làng thật đấy, không giống như lý Ngang trước đây hay hạch sách, nạt nộ mọi người nhưng rồi lý Ngà sau này sẽ tàn ác, thâm hiểm hơn nữa kia. Chẳng nhẽ đây là định mệnh! Và trời đất cũng tỏ ra bất lực đã kéo mây đen, sấm sét tới để tỏ thái độ giận dữ. Vả chăng cụ cũng đã bất lực trước cuộc đời. Cụ càng không mong anh cu Diệc có được chức sắc, bởi cụ biết tính không quyết đoán của dòng họ này dồn hết vào anh cả, vậy thì có ra làm cũng chẳng giúp ích gì cho việc làng việc xã. Vái xong thành hoàng làng, cụ tổng quay lại chào quan tri:
-Xin có lời chào quan tri, cảm ơn quan tri có lòng để tâm tới kẻ già cả, bất lực này!
-Tôi về đây cũng chỉ là chuyến về của con dân làng này thôi, mời bác ngồi xuống sập, tôi có việc muốn hỏi.
-Cám ơn, tôi là dân mọn chức sắc không có thì nhẽ nào được ngồi trên sập với quan tri, kiến thức tôi hạn hẹp nhẽ nào lại dám chỉ bảo quan tri, xin được cáo lui.
-Ấy chết, sao lại quá nhời vậy, bác lúc nào cũng giữ kẽ. Bác là người hiểu rộng, vậy xin hỏi tại sao bỗng dưng trời đất lại ra nông nỗi này, đến giờ mây cũng chưa tan, gió cũng chẳng thấy tới, mưa cũng chẳng đến là cơn cớ gì.
-Chuyện giời đất thì người phàm trần sao biết được nhưng cũng xin thưa cùng mọi người, vừa rồi mọi người có nhìn thấy mây xây thành đắp luỹ không, chuyện chẳng yên đâu. Chuyện chẳng yên ấy thế nào thì xin mọi người hỏi quan tri đây thì rõ hơn cả. Có phải vậy không thưa quan tri?
Quan tri Nghiệp chưa kịp hiểu ý cụ tổng thì thấy tiếng gì nổi lên đâu đây lạ lắm. Mọi người đều ắng lại lắng nghe. Tiếng lẹt đẹt như roi quất vào nia, râm ran ngoài sân đình. Những hạt mưa đá to bằng quả ổi văng vào trong đình, lăn nhôn nhốt dưới chân mọi người. Quan tri đứng lên định ra ngoài xem chuyện gì thì chân giẫm phải cục đá truồi truội trơn nhẫy như giẫm phải con rắn khiến quan tri giật nẩy người nhẩy vội lên ghế ngồi co ro, vẻ mặt thất thần như con mèo bị đe đánh. Cụ tổng là người biết được chuyện gì đang xảy ra ngoài kia, nhặt viên nước đá lên đưa ra trước mặt mọi người. Lòng bàn tay lạnh buốt, cụ thần người thở dài, giọng nói buông xuôi:
-Mưa đá các cụ ạ. Mấy mươi đời lập nghiệp ở làng này bây giờ mới có trận mưa đá. Trời đất chẳng hiểu ra sao nữa!
-Mưa đá là thế nào cụ?
-Đây thì, hạt mưa đây khác nào cục đá, các cụ nhặt lên mà xem. Tôi đã gặp mưa đá vài lần trên mạn ngược, giời hại làng ta rồi! – Cụ tổng than.
*
*    *
ÔNG GIỜI ĐÃ GIÁNG HOẠ XUỐNG NHƯNG VẪN CÒN CHÚT NƯƠNG TAY VỚI CON dân làng Trằm nghèo khó. Vệt mưa đá chỉ tới đầu làng, cho nên không nhà nào bị sập nhà, tốc mái, vườn cây không bị tàn phá. Có nhẽ ông giời đã nhận được những lời khẩn cầu tha thiết của con dân làng Trằm qua làn khói hương mỏng mảnh nhưng linh thiêng mà động lòng trắc ẩn chăng. Chỉ có cụ tổng ngồi lặng ở nhà, còn tất cả từ người già nhất là bà cụ Giao gần chín mươi đến đứa trẻ mới sáu tháng tuổi con của vợ chồng anh cu Veo, đều kéo nhau ra tận đầu làng nhìn cảnh tan hoang khắp cánh đồng. Những ruộng lúa mới sáng nay còn vàng nhức nhối dưới nắng, từng bông trĩu rạp xuống như  chắp lễ khẩn cầu mọi người ra gặt, thế mà giờ đây đã bị băm vụn tơi nhào lẫn trong lớp bùn đen đặc. Nhìn sang làng Chuông còn thảm thương hơn, rặng tre bị bẻ vặn ra từng đốt, tướp tơ như những bàn chông ngỏng lên trời, tiếng gào khóc thảm thiết, tiếng ta thán não nề từ trong đống ngổn ngang vọng lên. Con dân làng Trằm cùng ngồi xụp xuống, bất lực, nẫu buồn, sụt sùi nước mắt, không còn tâm trí nào nghĩ tới ra xem ruộng nhà mình còn vớt vát lại chút gì.
Nắng cựa mình đẩy dạt những đám mây trôi dạt về mãi đâu khuất dần sau rừng Vàng để cho bầu trời trở lại xanh ngằn ngặt. Tầng không yên ả như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Những ánh mắt thẫn thờ ngửa lên nhìn bầu trời nghi hoặc, liệu rồi còn thảm hoạ nào nấp trong những dải mây đen mỏng, hờ hững trôi như lằn khói còn cố vương lại kia? Ông giời mãi tận cao xanh, lòng dạ thế nào sao mà thấu, có giáng hoạ hay gieo phúc xuống cũng chẳng thể tường. Lòng dạ con dân làng Trằm bất an, không dám bước chân quá khỏi cổng làng, cứ như thể thêm một bước nữa là sẽ xa xuống vực sâu tun hút. Chỉ đến khi một giọng nói kiêu hãnh cất lên mới khiến đám người ngồi tụm vào nhau như một mớ giẻ rách bởi không ai có được tấm áo lành lạnh cựa mình, mới dứt được dòng ưu tư chảy nhão trên khuôn mặt khắc khổ.
-Phúc làng này lớn lắm. Nếu hôm nay không chỉ định được minh chủ thì làng này cũng bị băm nhỏ ra như làng Chuông bên kia thôi. Đại phúc! Đại phúc!
Thì ra đây là quan tri. Mọi người nhận ngay ra quan tri Nghiệp bởi hình dáng kia có lẫn đâu được của dòng họ Vũ nhà lý Ngang. Những ánh mắt đau khổ, nghi ngờ tất cả lại gục xuống nhìn ngay vào bàn chân mình. Liệu rồi đôi chân này có đủ sức trồi trụt trong bùn đất để kiếm miếng ăn chờ tới vụ sau?
-Đãi đất để lấy lúa thôi bà con, vớt vát được tí nào hay tí đấy, chẳng chết đói đâu mà sợ!
Tiếng nói heo hắt như làn gió thoảng qua của anh cu Veo khiến mọi người thực sự bừng tỉnh đứng bật dậy. Tiếng đứa bé sáu tháng tuổi khóc ré lên.
-Mẹ cha mày, kẹ hon hon thế này mà khóc khoẻ thế.
-Chết không gió máy thế này mà mang thằng bé ra đây làm gì!
-Đang cữ ra ngoài nắng là thế nào, u nó đâu?
Sự có mặt của quan tri chẳng khiến ai bận tâm, việc tìm được minh chủ của làng cũng chẳng làm ai động lòng, con dân làng Trằm dễ bị khuất phục này cuí đầu thêm một lần nữa cũng chẳng sao, mệnh giời đã xếp đặt thế rồi. Quan tri thấy mình bị châng hẩng trước đám con dân ồn ào giục con, gọi cháu về lấy ngay rổ rá nong nia ra đồng đãi thóc, nhìn trước ngó sau tìm xem lý Ngà đâu cũng chẳng thấy. Lúc này bà thím mới xuất hiện, đon đả với quan tri nhưng lại thơn thớt chửi người làng:
-Cháu về mà thím không biết, thế không đứa nào chào mời, tiếp đón cho tử tế là thế nào! Chúng nó đâu cả rồi!? Dân làng này ăn ở vô ơn thế đấy, không nhờ phúc quan tri về làng thì cái hoạ đã giáng xuống cái làng này rồi, phải không cháu. Giời đất ạ, cái quân đến là vô ơn!
Giọng nói xoe xoé lấn át người khác của bà Ngà đã khiến những con dân còn đứng lại động lòng và thấy mình cũng thật là bất kính trước bề trên, đứng nép vào nhau chắp tay trước bụng kính cẩn tỏ ý ngỏ lời xin lỗi. Quan tri Nghiệp thấy mình cần tỏ thái độ cao thượng, lấy lòng dân, liền cởi áo the có đính thẻ ngà treo vào cành ổi bên cạnh, hồ hởi nói:
-Ý kiến đãi đất lấy lúa của anh cu vừa nãy khá khen, tôi sẽ cùng mọi người xuống ruộng, phải tìm cách cứu lấy mình phải không các ông, các bà.
Oán hận ông giời đã được giũ bỏ, nỗi lo thiếu đói vơi đi, mọi người hồ hởi theo sau quan tri. Những khóm lúa tướp tơ được cẩn thận hốt lên cùng với bùn đất, cho vào nong nia rồi dìm xuống vũng nước khuấy cho đến khi chỉ còn những hạt thóc vàng bủng dập. Tiếng lũm bũm khuấy nước râm ran như đàn cá đớp mồi. Sông Vàng đen suộm màu bùn. Những bóng người lom khom cào bới như đàn cua bò lổm ngổm khắp cánh đồng. Mặt trời đỏ rộm, tròn vạnh như chiếc bánh xe đang lăn dần xuống rừng Vàng.
Cụ tổng ngồi trầm ngâm, bất động từ lúc ở đình về. Nhưng trong lòng cụ lại đang chộn rộn nỗi lo mà không biết mình lo lắng về việc gì, không như những người trong làng đang rộn lên vì chuyện nhặt mót được hạt rơi vãi nào ông giời còn bỏ sót để sinh sống. Linh cảm gì đây. Cụ ngửa cổ hít thở một hơi dài để dồn nỗi lo vương vướng nơi cổ ra ngoài, nhưng chẳng tác dụng gì bởi nỗi lo khác lại dồn tới nghẹn tắc hơn khiến cụ thấy khó thở. Đĩ Thị lấy chồng phải lo việc nhà chồng, mẹ con chị đĩ cả chắc đang tất tả ngoài đồng, không còn ai đun cho cụ siêu nước để pha ấm trà. Hôm nọ về đám cưới em, vợ chồng anh cả mua biếu riêng cụ cân chè ngon, mấy hôm bận rộn quá chưa kịp thưởng thức vị nó thế nào. Có lẽ lúc này được chén trà sẽ khiến cụ yên lòng hơn, mới giải toả được những nỗi lo không đâu đang rộn rịp trong lòng. Kia rồi thằng cu Sông về kia rồi. Nhưng có việc gì mà nó chạy hớt hải thế kia, là chuyện không hay cũng nên. Mà hình như mỗi lần cu Sông về chơi là cụ lại có nỗi lo như thế này thì phải? Chẳng nhẽ thấy trong lòng bất an là vì cứ tự trách mình tại sao thằng cháu đích tôn mà cụ không thấy mừng, cứ dửng dưng như người dưng. Đó là trong lòng thấy day dứt chứ không phải là nỗi lo? Phải chăng cu Sơn mất mẹ từ lúc mới chào đời đã khiến cụ dồn hết tình thương vào nó khiến cụ không còn thời giờ dành cho đứa cháu đích tôn nên mới dửng dưng thế? Cụ tổng day dứt với suy nghĩ ấy đến nỗi cu Sông chạy ào vào xô vào người mới sực nhớ hình như cháu mình có chuyện gì. Cu Sông hổn hển nói:
-Ông... ơi! Cháu... cháu lấy trộm được áo của quan tri!
Cụ tổng không tin mình đã nghe đúng những gì cháu nói, đứng bật dậy hỏi:
-Cái gì!? Cháu bảo sao?
-Cháu lấy trộm được áo của quan tri! – Cu Sông nói rành rẽ.
Cụ tổng nghe rõ, thất thần ngồi xụp xuống ghế, than:
-Hoạ rồi cháu ơi! Ai xui cháu làm việc này!
Cu Sông không lúng túng trước thái độ của ông, bình tĩnh giải thích hành động của mình:
-Có ai biết cháu lấy mà phải mang hoạ. Lúc nãy lý Ngà nói nhà mình không có phúc làm quan, cháu lấy áo của quan tri để lấy phúc cho nhà mình sẽ có người được làm quan to cho nhà ấy biết.
-Ra gọi thầy u mày về ngay đây, mau lên! Mang hoạ rồi, cái thằng nghịch tử kia! – Cụ tổng nuốt giận, lần đầu tiên to tiếng quát mắng con cháu.
Không phải ra đồng gọi, bà Sông đã về và nghe thấy hết cả. Bà cắm mặt đi vào như chính mình mang tội, nước mắt rân rấn. Mà đúng là bà mang tội mang nợ về cái nhà này thật, bà luôn dằn vặt về sự có mặt của cu Sông trên đời. Nó là dòng giống nhà ai chỉ còn mình bà biết.
-Mau mau mang nó ra ngoài Hà Nội, hay trốn biệt đi đâu đừng có vác cái mặt về đây rồi khổ nó!
-Dạ...! – Bà Sông ấp úng muốn nói vài nhời với bố chồng nhưng chưa biết nên nói thế nào.
Và bà Sông không biết mình nên mừng hay nên lo. Mừng là nỗi mấy ngày nay bà giăn giở muốn đưa thằng Sông đi khỏi làng, nhưng bằng cách nào đây khi mà nó là cháu đích tôn mà bố nó phải ở lại để trông nom nhà cửa, phụng dưỡng cha già. Nay còn cớ gì hơn nữa khi ông thằng Sông không muốn cháu ở nhà. Lo là nỗi, ông cụ vốn là người sống tình cảm thế mà với đứa cháu đích tôn lại tỏ ra thờ ơ như người dưng, thậm chí đã nhiều lần bà thoáng nhận thấy cụ lảng tránh không muốn gần, không muốn nhìn vào mặt cu Sông, hẳn như vậy ông cụ đã biết nó không phải cháu mình? Nhưng làm sao mà biết được? Nếu ông cụ biết thì hẳn bà vợ lý Ngang cũng phải biết, thế mà chẳng nhẽ bà ấy lại để yên cho? Hẳn ông cụ đã biết nhưng là người kín đáo cho nên không nói ra, giờ thì với cái cớ ấy muốn tránh mặt cháu chăng?
-Hai mẹ con còn đứng đấy ư, không chuẩn bị mà đi cho sớm, người ta biết được mà giữ lại thì nhục!
-Dạ...!
-Chị còn muốn nói gì nữa, tôi quyết định thế không phải sao!
-Dạ... nhưng chuyện này có ai biết đâu, vả lại cháu nó còn trẻ con ai nỡ bắt tội nó.
-Thầy biết cả con ơi! Cứ ỉm đi thì chẳng ai biết đấy là đâu, nhưng mình sống vì lẽ đời, lẽ giời nữa con ạ! Lẽ đời là mình phải thẳng lưng mà sống, thầy sẽ mang trả áo cho ông ấy và có lời tạ tội, còn thằng Sông phải đi ngay đừng để dân làng này nhìn cái bản mặt của thằng ăn cắp mà chửi thì nhục lắm, cứ thế rồi tâm tính trẻ chịu sự hằn gắt nhiều sẽ trở nên thù hận. Thầy ở nhà sẽ chịu tiếng thay cho cháu. Lẽ giời là liệu giời có phù cho cái thói hạ đẳng ấy không, hãy đi đi, nuôi dậy con tu nhân tích đức làm đầu con ạ, đừng bon chen những điều thị phi thì rồi ông giời sẽ soi sét. Con nhớ lấy, phúc hoạ từ lòng người mà ra, hãy đi đi, thầy luôn luôn coi nó là đứa cháu đích tôn, đứng đầu dòng họ nhà này.
Quan tri mất áo, kẻ nào mà to gan, lớn mật đến thế! Đúng là giời điên đất đảo thật rồi, lòng giời bất an nên gieo trận mưa đá xuống, lòng người cũng bất an cho nên mới sinh ra cái chuyện ăn cắp áo quan tri! Chỉ có người trong làng chứ chả ai vào đây lúc này. Đứng gần quan tri chỉ có những người họ Vũ, khi quan xuống ruộng có hẳn một lính lệ đứng trông coi. Nếu có tài lấy được thì chỉ có anh cu Sung cũng họ Vũ nhưng nó đi vắng cả tháng nay có nhà đâu, còn người nữa đó là trương Bân nhưng khi ấy ông ta còn ở nhà lý Ngang giúp dọn dẹp nhà cửa cho tươm tất để đón rước quan tri, bà Ngà làm chứng cho. Thế thì ai? Cả làng túm năm tụm ba trước cổng nhà lý Ngà bàn tán.
Người mà dân làng không nhắc tới, thậm chí ngay cả trong ý nghĩ cũng không hề dám nghi ngờ thế mà lại bỗng hiện ra trước mặt mọi người, kính cẩn đội trên đầu chiếc khay khảm trai vẫn dùng bày trên mâm thờ đựng chiếc áo của quan tri. Cụ tổng tiến tới trước mặt quan tri, hai tay giơ cao chiếc khay lên phía trước, giọng nói nghiêm trang nhưng đượm buồn:
-Con cháu nhà tôi bất kính, tại tôi dạy bảo không nghiêm, xin quan trên đúng phép nước mà trị!
Từ trước tới nay thấy cụ tổng quỳ lạy trước điện thờ thành hoàng làng hẳn sẽ có việc hệ trọng tới chuyện mưu sinh của dân làng khi ấy mọi người đều cùng quỳ gối theo, tâm niệm hướng theo cụ, giờ con người đáng kính ấy lại đang quỳ gối kính cẩn khiến con dân làng Trằm ngỡ ngàng, thoáng chút bối rối rồi tất cả cùng quỳ xuống theo. Quan tri Nghiệp cũng bị bất ngờ trước sự việc đang sảy ra trước mặt mình, vội vàng đỡ cụ tổng dậy:
-Có chuyện gì thế, cụ đứng lên giải trình xem sự thể sao nào?
Bà Ngà là người hiểu nhanh nhất chuyện gì đang xảy ra. Còn cơ hội nào hơn thế này, một tay chống nạnh sườn, tay kia bà chỉ mặt cụ tổng, giọng the thé:
-Thằng Sơn phải không! Không ngờ nhà ông lại sinh được đứa con đốn mạt đến thế! Cứ để ông ấy quỳ như thế cho biết tội!
Nhưng quan tri đâu phải đàn bà, ông biết nên phải làm gì khi mà gần như cả làng đang còn quỳ theo cụ tổng. Quan tri Nghiệp đón lấy chiếc áo rồi cố nâng cụ tổng dậy:
-Xin cụ đừng làm thế này, tôi làm sao dám về làng này nữa, có phải thằng cu Sơn thì gọi nó sang tôi có nhời.
-Dạ, không phải, là thằng cu Sông kia.
-Thằng nào thì cũng là dòng giống nhà ấy cả, anh trương cho người đi bắt nó về đây trị tội! - Bà Ngà còn muốn hạ nhục cụ tổng.
U con bà Sông tất tả lôi nhau chạy ra khỏi làng. Ánh chiều chạng vạng. Những thân cây còn đứng vững trong trận mưa đá đều rũ đám lá nhàu nhĩ xuống, bất động như người cúi đầu mặc niệm. Ra tới Lạc Đạo bà Sông mới dám dừng chân lại nghỉ, mới dám ngẩng mặt lên nhìn xung quanh. Bóng tối từ trong các lùm cây ùa ra bao bọc lấy hai u con. Bên kia đường là ga tầu hoả, bà Sông chợt nhớ tới mình cần gì, sờ nắn túi áo, thục tay vào trong chiếc bị lần tìm, không thấy được một đồng xu nhỏ nào. Từ đây tới Hà Nội còn hơn ba chục cây số, bà đã vài lần đi bộ, thế nhưng còn cu Sông làm sao đi được, lại còn phải mua cái gì ăn để lấy sức nữa chứ. Người quen quanh đây cũng có nhưng lý do tại sao biết giả nhời thế nào để che giấu thân phận, mặt mũi nào, không đành nói ra sự thực. Không đành chờ đêm tối quay về, chuẩn bị ít tiền, nắm nắm cơm để ăn. Không thể được! Mình đã rước tội nợ về cho nhà chồng, giờ thì đã đến lúc phải mang nó đi, mình phải gánh lấy cái nghiệt chướng này đừng để những con người đáng kính ấy phải chịu lây.
-Trời tối rồi, u ơi!
Cu Sông đã đến tuổi nhận ra được sự nghiêm trọng của tội lỗi do mình gây ra, giờ này đói bủn rủn chân tay cũng không dám nói đòi hỏi, khẽ thì thào với u. Nuôi con từng ấy năm bà biết tính háu đói của con, nhưng lúc này biết sao đây. Bà động viên:
-Cố tới làng kia u con mình vào người quen ngủ đỡ đêm nay.
-Nhưng con chóng mặt lắm.
Bụng réo sôi ùng ục, mỗi bước chân là cu Sông tường chừng khuỵ xuống. Nó bấu chặt hai tay vào đùi làm điểm tựa như hai đòn chống cho người khỏi ngã, nhấc dần từng bước đi. Qua khỏi ga Lạc đạo thì không thể nhấc nổi đôi chân của mình nữa, cu Sông đứng lại thở dốc, mồ hôi vã ra chảy thành dòng trên mặt, đầu óc quay cuồng, miệng khô rát. Lúc này nó mới dám bám vào người u để gượng đứng cho vững. Bà Sông đỡ con ngồi xuống rệ đường, lo lắng hỏi:
-Có cố được không con?
-Không ... được.... u ơi, con chết mất, khó thở lắm! – Cu Sông nghẹn ngào.
-Để u cõng, cố quãng nữa rồi nghỉ, sớm mai đi tiếp.
Bà Sông xoay lưng, cầm tay con quàng qua vai mình rồi ôm xốc cu Sông lên. Chân tay cu Sông như có đàn kiến bu vào cắn nhoi nhói, không thể bám chắc được vào người u, buông thõng thượt như người bị liệt. Bà Sông quờ tay ra sau đỡ con nằm cho yên nhưng như vậy hai chân bị đuối bà không thể đứng vững, lảo đảo nhào ngã cả hai u con xuống. Lần này bà khom lưng, đỡ cu Sông nằm vắt trên lưng thật vững, hai tay chống đầu gối, dồn hết sức mới đứng thẳng dậy được. Tiếng các khớp xương lạo xạo như khúc tre bị vặn. Tiếng là con gái thôn quê nhưng mấy khi bà Sông phải gồng gánh vất vả, cho nên cõng được cu Sông trên lưng thì quả là quá sức. Đi được có quãng đường ước chừng chỉ bằng từ nhà ra tới đầu làng hai cẳng chân bà nhức buốt kéo tới tận óc, hơi thở không trôi xuống được nghẹn cứng lại ở cổ, lồng ngực nhoi nhói. Cố một thôi nữa, tới chỗ ngã ba đồng Dực có cái tum thờ ông mãnh hãy nghỉ. Nơi ấy gần làng, có bất trắc gì kêu lên còn có người nghe thấy. Đá sỏi truồi truội dưới chân bà đau nhói. Mặt mũi xây xẩm, những dòng mồ hôi lạnh buốt trôi nhồn nhột hai bên má. Bên cái tum thờ ông mãnh có cái lán người làm đồng dựng lên để nghỉ, bà Sông cõng con vào. Đặt được cu Sông xuống thì bà cũng ngã vật xuống, ôm ngực, miệng há ra thở rít lên như bị mắc nghẹn. Hai hốc mắt như bị chọc mù vừa không nhìn thấy gì vừa đau nhức nhối, bà quờ tay hoảng hốt gọi con:
-Cu Sông đâu rồi, u làm sao thế này, con ơi?!
Cu Sông đã đỡ mệt, nhìn thấy u hoảng loạn cũng hoảng theo, lao tới ôm lấy u:
-Con đây u ơi! U sao thế!?
Chạm được vào con cũng là lúc mắt bà Sông đã nhìn thấy mờ mờ, hơi thở đã bình thường lại, bà ôm lấy vai con dỗ dành:
-U không sao, tại trời tối quá đấy thôi.
-Hay mình trở về, hả u?
-Không được con ơi, về bây giờ thì nhục lắm! Ngả lưng ngủ một giấc sớm mai khoẻ hẳn hai u con đi tiếp, ngày xưa u đi bộ đường này, lại gáng hai thúng gạo mang lên cho thầy con với chú Dạ ăn học, quen rồi!
Động viên con nhưng lòng bà đang rối bời, liệu rồi ngày mai hai u con có đủ sức để đi tiếp nữa không đây. Bây giờ nếu ngả lưng xuống thì liệu có cất nổi người dậy nữa hay không. Tới đây cũng đã cách làng chục cây số rồi, chuyện chắc chưa ầm ĩ tới đây hay vào làng, chỗ mấy chị em chơi từ thưở đi hát bên Kinh Bắc vay rẽ ít tiền rồi sau này trả. Có lẽ nên thế chăng...!? Cu Sông đặt lưng xuống là ngủ tít mít. Không biết có phải sương xuống lạnh hay nó đói quá nằm ôm bụng co quắp, thỉnh thoảng vật nghiêng bên này rồi lại sang bên khác, không được yên giấc. Ngày mai phải có cái gì cho nó lót dạ thì mới đi được. Con dại cái mang. Rồi không biết dạy dỗ nó ra sao để sau này nó không phải là gánh nặng cho nhà chồng đây! Chắc ông cụ không biết nhưng người nhà chồng hình như ai cũng có linh cảm về những điều bất bình thường thì phải, nhất là ông cụ với cô Thị, không biết sau này cu Sơn có thế không.
Tiếng giun dế, ếch nhái đang rỉ rả than vãn trong đêm bỗng lắng xuống. Bà Sông nghênh tai lắng nghe đề phòng. Bà dịch người ra gần cửa quan sát. Những bóng cây đen thẫm đang xoài mình say giấc ngủ đêm. Có người! Một bóng đen xuất hiện sau chỗ ngoặt, mải miết đi. Ai đây? Liệu có phải quan tri cho người đuổi theo, hay kẻ cướp rừng Vàng, hay chỉ là người lương thiện qua đường? Những suy đoán dồn dập diễn ra trong đầu, bà Sông thấy mình trở nên bình tĩnh, nín thở quan sát từng cử chỉ của bóng đen để đoán chừng là người thế nào. Xem chừng người này không lương thiện rồi, vừa đi vừa ngó nghiêng xung quanh, có lúc dừng lại dường như suy tính. Nhưng hẳn không phải người của quan tri bởi không còn ai theo sau, không nghênh ngáo như người đi truy đuổi. Bóng đen đi thẳng tới chỗ bà. Bà Sông lùi sâu vào trong, ôm giữ chặt cu Sông cho khỏi cựa mình. Bóng đen thoảng qua khuôn cửa như làn gió phất qua. Cu Sông trở người, tiếng rơm cọ vào nhau sột soạt khe khẽ. Không ngờ chỉ tiếng động nhỏ ấy cũng khiến bóng đen đi qua đã xa phát hiện ra. Bóng đen nhẹ nhàng tiến lại túp lều, đứng lại bên cửa, khẽ khàng hỏi:
-Mẹ con cô Sông đấy phải không?
Giời đất ơi, hoá ra thầy Quyết. Bà Sông vui mừng reo lên:
-U con em đây! Sao lại là thầy, đi đâu giờ này mà vội thế?
-Tôi đi tìm mẹ con cô đây.
Tiếng nói chuyện khiến cu Sông thức giấc, ú ớ gọi u:
-U ơi!
-U đây. Thầy Quyết tìm u con mình, may quá. Thế ở nhà ra sao hả thầy?
Thầy Quyết chui vào trong lều, bỏ tay nải trên vai xuống, lấy những thứ bên trong ra.
-U con đói lắm phải không, tôi mang cơm nắm cho đây, ngồi lui ra ngoài này cho sáng, ăn đi cu Sông. – Vừa nói thầy Quyết vừa bẻ nắm cơm đưa cho cu Sông vừa thông báo gấp tình hình ở nhà cho bà Sông biết. – Cụ với chú ấy nhà ta lo lắm, không biết hai u con liệu có đi được không. Lúc này chỉ có mình tôi đi ra khỏi nhà được, bọn nhà lý muốn bắt cu Sông để bêu diếu cứ rình mò quanh nhà, theo dõi từng bước đi một, cả nhà cô Thị, nhà cô Le bọn chúng cũng vây chặt cả. Bây giờ thế này, u con ăn tạm cho đỡ đói rồi tôi đưa vào trong làng Dực, vào cơ sở tin cậy của tôi ở ít ngày cho tình hình yên ổn rồi mới đi ra Hà Nội. Ra ngoài ấy cũng phải vào cơ sở của tôi, chứ nhà chú Dạ cũng không yên đâu, ở đấy họ sẽ giúp đỡ làm ăn buôn bán để sinh sống, sau này thế nào hãy tính. Tôi phải về ngay trong đêm nay, người ta phát hiện ra thì khổ cả nhà.
*
*    *
THẦY QUYẾT NẰM ÉP NGƯỜI XUỐNG BỜ RÀO RÂM BỤT NHÀ ÔNG NA, CHỜ TÊN lính lệ đi xa hẳn. Nhưng tên lính lệ mẫn cán với công việc này dường như đã phát hiện thấy, chỉ có chỗ này người nhà ông tổng mới bí mật đi ra ngoài được nên quanh quẩn không rời đâu xa, một tiếng động nhỏ cũng dừng lại ngó nghiêng, tay lăm lăm thước, xem xét đích xác đó là gì mới yên tâm. Không biết từ lúc đi tới giờ quan tri có cho người kiểm tra xem có thiếu ai, thầy Quyết lo lắng. Bỗng nhiên đêm đang tĩnh lặng thì bị xé toang bởi tiếng lợn kêu thét lên hoảng loạn rồi lúc sau lặng xuống ư ử bi thảm. Đèn đuốc phía nhà lý bừng sáng, nhấp nhoáng chuyển động sau những vòm cây tối đen như bóng ma. Tên lính lệ vùng vằng:
-Người ta còn tối mặt vào đãi từng hạt thóc, bày vẽ chuyện khao làng.
Tên lính lệ thở dài, buông thõng chiếc thước trên vai xuống, chán nản bỏ đi.
Lý Ngà làm cỗ khao làng? Tiếng lợn kêu, tiếng dao thớt, tiếng sai bảo của người làm đã đánh thức cả làng dậy. Cả một ngày dòng lòng dạ bất an vì ông giời gieo hoạ, cả buổi chiều tới tối muộn vật lộn với từng nắm bùn vớt vát từng hạt thóc, ai nấy mỏi mệt  nhóng qua bờ rào hỏi qua nhau. Rằng nhà lý khao làng đấy ư, sao sốt sắng thế, ngày xưa ông bố được bổ chức lý nào có ai được bát nước suýt? Rằng sao không thấy nhà lý mời? Rằng ngày mai có ra đình chén cỗ không? Tiếng gà gáy râm ran khắp làng. Mọi người quay sang hỏi nhau, giờ là canh mấy rồi? Mới là canh ba thôi, nhìn ba ngôi sao sáng nhất đằng bắc kia, sắp thẳng hàng nhau thì mới là canh ba. Nhà lý làm cỗ sớm thế, chắc là khao to.
Là vợ lý trưởng rồi bây giờ lại là mẹ lý trưởng, danh giá nhất làng nhưng bà Ngà chẳng thể bỏ được thói quen ngồi bệt xuống hiên nhà, hai chân chạng háng để cho chiếc váy tụt lên sát tận bẹn, một tay choài ra sau vạch lưng áo, tay kia cầm sống quạt gãi sồn sột, nhếch nhác chẳng khác gì vợ trương Bân ngày còn sống. Bà Ngà nhổ bãi nước cốt trầu đỏ lòm vào chân cột, liếc nhìn thấy đĩ Sung vợ lý Ngà trong buồng liền hắng giọng gọi:
-Chị đĩ đi đâu hay còn ngủ đấy, những ngày thế này không quán xuyến công việc cho quen đi, cứ ỷ lại là thế nào nhẩy!
Cả anh lý cũng vẫn nằm ườn trên giường. Tự dưng bà thấy ấm ách trong bụng, muốn được quát mắng hay là thét váng lên, hoặc là được đi cho rã rời đôi chân thì mới hả.  Không biết là nỗi gì, chẳng nhẽ là vui quá mà sinh ra vậy chứ có điều gì bực dọc đâu.
Trương Bân đi ngang qua chỗ bà lý ngồi, cúi khom người vẻ khúm núm kính cẩn nhưng lại hạ giọng ỡm ờ:
-Nhìn bà lý ngồi chả khác gì bà nó nhà tôi ngày xưa.
Bà lý Ngà liếc xéo lên, ý tứ khép đùi lại, kéo gấu váy chùm qua đầu gối. Trương Bân đi qua bà mới giật mình gọi giật giọng lại:
-Này ông trương, ba con lợn cân móc hàm được bao nhiêu cân?
-Được một tạ, phải thêm con hai con nữa, dự tính là mời cả làng thế mới đủ được.
-Ông lại đây tôi nói cho nghe. – Trương Bân lại gần, bà lý hạ giọng: - Chỗ thân tình lâu nay tôi mới nói, tôi tính cả rồi, từng ấy là thừa, tiếng là mời cả làng nhưng này mai người ta còn tối mặt vào thóc lúa thời giờ đâu đi cả nhà, ngày mai tôi khao là khao cháu tôi là chính, anh rõ chưa.
-Dạ bà lý tính việc gì cũng đều chính xác, cũng như ngày xưa sao bà biết chúng tôi luổn về lối chuồng trâu. – Trương Bân liếc nhìn bà lý ỡm ờ.
Vừa lúc chị đĩ Sung đi ra, bà lý ra giọng để lấp liếm tâm trạng đang chộn rộn khác thường sau lời nói ỡm ờ của trương Bân.
-Anh chị bây giờ sướng nhỉ, người làm tối mặt không hết việc, cứ nằm ườn thần xác để người khác lo. Này ông trương, khi nãy lợn gà kêu ầm ĩ thế sợ con nghé nó có chạy ra ngoài, ông ra xem thế nào.
Trương Bân tấp tểnh chiếc chân thương tật đi về phía chuồng trâu. Vợ mất được gần chục năm thì hơn từng ấy năm ông chưa biết đến da thịt đàn bà. Ông là kẻ bặm trợn, theo đánh giá của người ngoài là vậy nhưng ông thề ông không phải là kẻ bạc tình bạc nghĩa với vợ, chỉ duy nhất có lần với bà lý tối ấy mà thôi. Chỉ tại tay bà lý tối ấy đã bấu đúng sườn ông nhồn nhột. Chỉ tại đêm nay sao Sương xuống lành lạnh. Ông so người ôm hai cánh tay vào nhau, lớp da dưới bàn tay nóng giẫy. Ông thấy lòng mình rộn rạo, khi đi qua chỗ bà lý lại nhìn thấy lớp da đùi trăng trắng của bà ấy hình như cũng nóng rực ở bên trong thì phải. Giời xui đất khiến thế nào để ông thốt nhiên buông những lời lẽ không đúng chức phận của kẻ bề dưới.
Bà tổng năm hai tuổi vẫn còn đẻ cu Sơn cơ mà huống hồ bà chưa năm mươi, chuyện ấy sao đừng. Chỉ tại cái ông chết tiệt này sao lại nhắc chỗ chuồng trâu hôm ấy đúng vào lúc này, không để ít bữa nữa thư thả rồi bà sẽ xấn đến tận nhà chứ chẳng phải bóng gió gì để rồi phải chui bờ rúc bụi thế này. Lúc nãy bà phải giả vờ ra ngoài rồi luổn qua bờ rào, gai cào còn xước sót tê lưng đây này. Ông là kẻ vô tình lắm đấy nhá, chỉ được cái tối hôm ấy rồi mất mặt luôn. Ông thấy bà không để mắt tới mà tưởng đã quên luôn được à. Chỉ tại một bước chân của bà đi ra khỏi cổng là chẳng thể qua được mắt ông lý. Ông ấy ma lanh như con rắn ấy. Cả trong cái chuyện vợ chồng cũng thế, da ông ấy nhờn nhờn trơn nhẫy, lành lạnh, khẽ khàng trườn lên bụng bà rồi sau đó người ông vặn vẹo uốn éo chẳng khác nào con rắn bò. Thế mà sao khối con đàn bà cứ bám lấy ông ấy là thế nào. Người ông ấy đâu có nóng giẫy như người ông thế này. Đè chặt thế ông ơi, không thở được.
Trương Bân nhổm người dậy, nói hổn hển:
-Bà còn chê tôi già rồi không đè mạnh được như xưa nữa không.
Bà lý vòng tay ôm ngang hông ông trương vít xuống, thì thào:
-Khẽ thôi ông ơi, ngoài kia nghe thấy thì chết!
Tiếng trâu đánh sừng vào gióng chuồng cồng cộc. Tiếng chó sủa ngoài đầu làng vọng về âm âm như tiếng gió thổi qua ống.
-Canh năm rồi ông trương ơi, chúng nó mà đi tìm thì chết.
-Canh năm rồi cơ à! Tôi phải về mang lá chuối ra đình kẻo không kịp, may mà hôm qua đã chuẩn bị cả rồi.
Con nghé hoảng sợ chạy vọt ra ngoài sân, xuýt nữa bổ cả vào chậu tiết nhồi.
“Phải bày đủ trăm mâm không thì khách khứa thiên hạ đến nhìn vào người ta cười cho” “Nhưng từng ấy thịt sao đủ hai trăm mâm.” “Ông chỉ được cái ấy là giỏi, đi theo ông lý từng ấy năm mà chẳng biết việc thế nào cho phải” Trương Bân khấp khởi trong lòng, đến danh giá như bà lý còn muốn được ông đè lên người, thế mà bọn đàn bà nghèo khó cứ thấy bóng ông là đuổi như sợ phải vía khiến ông đêm giăng sáng nào cũng phải rình rập đàn bà con gái tắm trộm, khiến cho ông được cái tiếng thủ tiết với vợ. Trương Bân lụi cụi đi giải một loạt những tầu chuối khắp sân đình để thay mâm, mới sớm mờ sương nhìn bước chân tập tễnh, cái đầu nhấp nhổm, chẳng khác người cấy lúa. Hai trăm mâm, từ trước tới nay chưa có bữa khao nào lại to thế, nhưng từng ấy thịt bầy ra chưa bằng bữa khao lên chánh tổng của cụ Cò chỉ có tám chục mâm là chắc. Từ bé tới giờ, trương Bân chưa thấy bữa cỗ nào lại bầy mâm đầy đặn như bữa khao của cụ tổng Cò, thịt thựa ê hề, con cháu ăn no nê rồi còn gói mang về rang mặn ăn được hai bữa nữa. Lá chuối rải ngoài sân, chiếu hoa trải trong đình, xong việc trương Bân đứng thẳng lưng quài tay đấm thùm thụp cho đỡ đau, nhìn lên thì mặt trời đã vượt qua bờ tre bên Chuông.
-Đêm qua trốn đâu ngủ suốt đêm, giờ mới rải được ít mâm mà đã ể oải thế.
Những người làm cỗ nhà lý Ngà gánh đồ ăn ra đình. Trương Bân tấp tểnh theo mọi người vào gian nhà ngang xem bầy cỗ thế nào, sao mà bà lý vẽ vời nhiều mâm thế. Đĩ Sung bây giờ đã tỏ ra là người dâu trưởng đảm đang, ngồi chành hành bên thúng thịt lợn luộc bốc chia ra từng đĩa. Đĩ Sung nhìn thấy trương Bân đứng thần mặt nhìn mình, cằn nhằn:
-Lúc luộc thịt ông đi đâu để cho thằng Vức trông bếp, ai đời để thịt chín dừ thế này.
Trương Bân nhấc chiếc chân thương tật cẩn thận bước qua chồng bát đĩa bày la liệt xung quanh, đến gần thúng thịt xục tay xuống đảo lộn lên xem xét, nhặt một miếng cho vào mồm ăn thử. Chỉ được mấy miếng ông luộc là ngon, chắc là thằng Vức ngủ gật đây, chứ hắn luộc thịt có kém gì ông. Ông đã dặn kỹ nó, phải biết áng chừng ngọn lửa,  khi nước sôi rồi thì chỉ để lom rom cho trong nồi khi đậy vung có tiếng ậm ịch như tiếng rắm đĩ, thỉnh thoảng phải lấy đũa xăm, đến khi nước suýt phùi ra có màu tía là được. Miếng thịt lòng đào thái vừa dôi, lại phơn phớt hồng như má đứa dậy thì trên thành thị thế mới đẹp, mới ngon.
-Chị đảo đều lên, mỗi đĩa bày xen vài miếng lòng đào vào, trông cứ như hao nở chưa rộ ấy, có khi lại đẹp.
-Sao hôm nay không thấy ông tế bố thằng nào luộc thịt như mọi khi mà ăn nói ra vẻ gớm nhẩy. Chốc nữa người ta chê ăn không ngọt thịt cứ bảo lại đằng nhà ông trương mà chửi nhá.
-Ông trương đâu rồi, về nhà có việc nhá!
-Mẹ cha con nhà đĩ Quýt gọi ông thế à, nhà mày có người chết hay sao mà gọi giật giọng thế. Về nhà nào, nhà ông làm gì có ai ở nhà nào?
-Về là về nhà ông lý có việc nhờ.
Mày làm ông vội, không để ông chửi mấy mẹ đĩ cười sằng sặc như lợn cắt tiết trêu ông để cho bõ tức. Trương Bân chạy chẳng bằng người ta đi nhanh, đã vậy người lại xấp ngửa chỉ chực chúi về phía trước như trẻ con ra tay chọi đáo, không cười sao được. Vừa vào đến cửa, trương Bân vừa ôm ngực thở hồng hộc vừa hỏi lý Ngà:
-Có chuyện gì thế anh lý?
-Gớm, ông làm cứ như cháy nhà, có chuyện gì đâu mà phải vội vàng, tôi gọi ông về có việc cần đến oai của ông đây. – Quan tri Nghiệp ngồi trên sập, vẫy tay gọi ông lại.
Trương Bân vội chắp tay trước bụng khép nép, hạ giọng:
-Dạ, việc quan tri sai bảo tôi đâu dám từ nan!
Quan tri chiêu một ngụm nước, súc miệng òng ọc trong họng rồi nhổ xuống chân cột bên cạnh, vẫy tay mời ông trương lần nữa:
-Ngồi xuống đi ông, anh em con cháu trong làng cả có gì mà phải giữ lễ, ngồi xuống uống chén trà cho nóng, đêm qua vất vả quá phải không, việc của nhà cũng là việc của làng cả, mọi người cùng xúm vào lo. Việc là thế này, chờ chút nữa mấy cụ tiên chỉ đến rồi cùng sang nhà cụ tổng mời. Ông cụ ấy khí khái lắm, vì chuyện hôm qua nếu chỉ mình anh lý hay là tôi sang mời chắc ông cụ chả ra, do vậy phải đầy đủ hào lý, kỳ mục sang ông cụ mới chịu.
Nghe trẻ về báo có quan tri cùng đầy đủ hào lý, kỳ mục đến nhà, cụ tổng ra tận cổng, đứng nép vào một bên nghênh đón. Vừa nhìn thoáng thấy đoàn chức dịch thấp thoáng qua bờ rào nhà Hỏi, cụ tổng đã chắp hai tay lên ngang đầu làm lễ. Khom lưng giữ lễ chờ tới khi mọi người đến gần, cụ tổng quỳ xuống vái. Quan tri Nghiệp tất tả chạy lại đỡ cụ tổng đứng dậy:
-Cụ làm thế này là chúng tôi phải tội đấy, hôm qua tôi đã nói với cụ rồi, trẻ mỏ đứa nào chả mắc phải tội nọ tội kia, phải biết tha thứ cho chúng.
Cụ tổng chống tay đứng dậy, cúi đầu kính cẩn:
-Đa tạ tấm lòng nhân ái của quan tri, có được người như quan tri cai quản con dân chúng tôi được nhờ phúc. Kính mời quan tri cùng các quan viên của làng vào nhà.
Trương Bân tập tễnh đôi chân, cố theo kịp mọi người, ngửa mặt lên giời cười hãnh diện như chính mình là người thắng trong cuộc đối đầu giữa nhà lý và nhà cụ tổng, giọng oang oang:
-Chấp nê gì trẻ mỏ phải không các cụ. Cụ tổng cứ đa lễ thế thôn xóm lại có khoảng cách, chúng tôi nào dám gần.
Cụ tổng chờ mọi người an toạ rồi mới giục cu Sơn mang ấm nước vừa khi nãy cụ đã sai đun để chờ đón khách. Cụ mở tủ chè lấy ra bộ ấm chén da lươn của người bạn bên Bát Tràng làm riêng tặng cụ, chỉ khi nào có khách quý mới dùng tiếp. Cụ tổng rót nước sôi tráng ấm chén. Tiếng sứ va vào nhau lanh canh như tiếng chuông khiến trương Bân hiếu kỳ cầm chiếc chén lên xoay xoay trong tay, xem xét.
-Nhỏ nhỏ, xinh xinh như .... – Trương Bân thấy mình lỡ lời, búng búng ngón tay vào chiếc chén chữa thẹn: - Tiếng sứ giòn như tiếng sắt thép các cụ ạ, cả nước men nữa sao mà bóng soi gương được, cụ tổng có bộ ấm chén quý quá, người thô lậu như tôi có lẽ chả dùng được, nhỡ tay thì phí.
Không ai tiếp lời khiến trương Bân châng hẩng.
Cụ tổng học được cách thưởng thức trà như cụ cố ngày xưa. Nước nóng vừa đủ để chè không nồng, chén trà rót ra có thể chiêu được ngay, có thế thì mới nhận thấy hương thơm quện trong làn hơi nước mỏng mảnh như thế nào.
-Trà bây giờ nước không xanh, không ngát như trà xuân nhưng lại được nước, giữ hương được lâu. Nào, mời  quan tri, mời các cụ, mời bác trương, anh lý!
Mọi người chiêu xong ngụm trà, còn đang nhấn nhá vị ngọt xin xít trong miệng thì cụ tổng lên tiếng trước:
-Chả hay quan tri cùng các cụ có việc gì mà đột ngột tới nhà tôi?
Quan tri Nghiệp chép miệng, gật gù khen:
-Giờ tôi mới được biết cái thú thưởng trà đẹp đến mức nào mà các vị tiền bối say mê. Đến đây được thưởng trà ngon và tôi cũng xin được đáp lại bằng lời mời thịnh tình, rằng hôm nay chú lý nhà tôi khao làng vậy kính cụ ra đình vui cùng gia đình.
Lý Ngà lúng búng trong miệng nói chen vào:
-Dạ, lẽ ra cũng phải thư thả ít bữa nữa nhưng nhân tiện có anh tôi về đây vừa là gia đình cũng vừa là có quan trên mới thật có ý nghĩa, mong cụ đừng từ chối.
Chẳng hay vì lẽ gì mà bấy lâu hai nhà đâu có được lời lẽ làm đẹp lòng nhau thế mà nay bỗng dưng thay đổi. Con người quan tri thế nào, tính nết nhà lý ra sao cụ tổng chẳng lạ, thế nhưng vì lẽ gì thì chẳng thể nào đoán ra. Cụ tổng từ chối:
-Vô phép quan tri cùng các cụ, gia đình tôi mang tội, nhẽ ra phải bị phạt vạ, phải bị gông cùm, nay cháu dại sợ tội trốn đi, quan tri đã có lòng nhân từ, các cụ có lòng vị tha vậy nào tôi đâu dám ngồi chung chiếu, ăn chung mâm. Từ nay xin các cụ cho phép tôi được lánh mặt trong nhà để làng xã khỏi phải mang tiếng.
Biết cụ tổng là người khí khái, cụ đã nói vậy thì có chèo kéo thêm cũng chẳng được vì vậy mỗi người cũng cố thêm đôi câu mời mọc cho phải phép. Nhưng quan tri mời là mời thực, mời bằng được. Cụ tổng một mực từ chối. Quan tri nhìn sang ông Diệc cùng thầy Quyết thay đổi lời:
-Vậy là cụ chẳng ra được, thôi đành. Nhưng nhân có thầy Quyết đến đây chẳng nhẽ bữa khao làng linh đình thế này lại để khách đi qua thì thật không phải, vậy tôi có lời mời thầy cùng ông Sông thay mặt gia đình nhà ta, được chứ ạ.
Cứ lèo lá mãi chẳng thể nào từ chối được, ông Sông cùng thầy Quyết đành phải ra đình dự bữa khao của nhà lý. Ông Sông băn khoăn:
-Quan tri có ý gì mà tỏ tấm thịnh tình với thầy tôi đến thế?
-Đó là quan tri  muốn dụng cách cai trị dân của người Pháp. Người Pháp rêu rao rằng, họ đến đây để khai phá văn minh cho dân mình, nhưng thực ra đó là cách làm yên lòng dân để dễ bề cai trị. Ở làng mình cũng vậy, lý Ngà muốn sai khiến được dân, bây giờ không thể quát lác, đe nẹt như thời lý Ngang nữa, mà cụ tổng là người có uy tín trong làng, nếu lấy được lòng cụ thì sau này có công có việc gì nhờ cậy chẳng nhẽ khi có lời cụ lại từ chối. Người dân mình làm việc gì cũng đặt cái tình lên trên sự suy sét cho đúng lý. Cụ nhà mình hiểu họ muốn gì cho nên mới kiên quyết từ chối thế, đó là cái khí khái của nhà nho, nhưng như vậy rồi sau có lẽ phải chịu hậu hoạ mất thôi.
-Tiếng là con nhưng chúng tôi chẳng thể theo kịp cụ, chỉ chú tâm vào lo buôn lo bán nhưng cái sự giầu cũng chẳng đến cho.
Đi trước thầy Quyết và ông Sông một khoảng xa là quan tri cùng lý Ngà. Hai người cũng ghé đầu gần nhau thì thào. Tiếng quan tri lào khào như tiếng gió:
-Ông Sông ra đình cũng là được một phần cho chú, còn mời được thầy Quyết là được một phần cho tôi.
-Bác nói gì em không hiểu.
-Làng mình hẻo lánh quá, dân mình lại chẳng chịu đi đâu xa để mà học cái tiến bộ. Cả chú nữa, muốn làm tốt công việc, muốn họ nhà mình thịnh vượng thì nên đi đây đi đó để còn biết thiên hạ thế nào, đằng này ăn quẩn cối xay. Nếu mà thuận lòng giời, họ nhà cụ tổng chẳng mấy mà vượt xa họ nhà ta, có thể sánh ngang với họ Đặng bên Cổ Đình chứ chẳng ngoa. – Quan tri Nghiệp buông tiếng thở dài, sau rồi kéo sát lý Ngà lại gần hơn thì thào: - Chú có biết tay Quyết là người thế nào không.
-Ông ta giỏi võ có tiếng chứ còn thế nào nữa.
-Quan tây đang nghi ông ta là cộng sản đấy, phải để mắt trông chừng.
-Thế à! Phải làm thế nào?
Mặt trời đã vượt quá rặng tre bên Chuông. Những chùm tia nắng lóng lánh lách qua
những đùm lá tím tái như những giọt nước mắt nhỏ xuống, còn dải sương sớm như vành khăn trắng giăng ngang cánh đồng bị xới lộn đen ngòm bùn, ông giời bỏ tang sót thương cho trần gian. Nếu là đám cỗ khác thì giờ này đã huỳnh huỵch tiếng bọn trẻ đuổi nhau, tiếng giành từng miếng ăn chí choé, tiếng xoe xoé chửi con mắng cháu của các mẹ đĩ và có lẽ tiếng to nhất vẫn là của trương Bân nạt nộ, sai bảo đám trai đinh chú tâm vào việc. Khi ấy, sân đình náo loạn như chợ vỡ. Nhưng hôm nay và giờ này cũng chỉ tiếng trương Bân là to nhất.
-Thầy, u mày đâu, giờ này chưa ra chén cỗ để ruồi bâu đen thế này à!
Trương Bân cắp chiếc thước vào nách, hai tay túm hai đứa trẻ nấp sau bụi tre, lôi sềnh sệch vào mâm. Lũ ruồi bị đánh động bay toá lên, mất phương hướng lao cả vào mặt hai đứa trẻ khiến chúng phải giằng tay ra khỏi tay trương Bân để đuổi. Trương Bân tưởng hai đứa trẻ muốn bỏ chạy, vung thước doạ:
-Mẹ cha chúng mày, làm cỗ sẵn, đến tận nhà mời, kéo tay vào tận mâm mà còn vùng vằng hả. Về nhà mày thì chỉ có c. đổ vào mồm. Mấy thằng kia nữa, con nhà Mùa, nhà Nghé phải không, nấp cái tiên sư cha chúng mày à, vào đây ngồi cho đủ mâm.
-Nhưng mà thầy, u cháu còn phải ra đồng mót lúa, không thì mai lấy c. mà đổ vào mồm à. - Đứa trẻ cũng tỏ ra ngang ngạnh vặc lại trương Bân.
Trương Bân chống thước nhìn bao quát xung quanh như vị chỉ huy đang theo dõi trận đánh. Bày lá chuối làm hơn trăm mâm, cỗ chỉ bày ra được ba chục mâm là hết. Mới ăn có ba mâm người già và năm mâm trẻ con, còn hơn hai mươi mâm chả biết có ai nữa ra ăn hay để biếu ruồi. Phục bà lý lắm, đánh tiếng khao to để được tiếng với làng nước nhưng miếng chẳng bị mất.
Ông Sông cùng thầy Quyết đi vào sân đình, hai người lễ độ chào các cụ già. Bà cụ Giao vẫy hai người ngồi xuống cạnh, gắp miếng dồi lợn đưa lên mời ông Sông, miệng nói lào phào:
-Nhà lý làm cỗ to đấy nhưng chả ai ra ăn được, tôi phần anh cu miếng dồi đây, ăn đi, nhà anh còn có chứ nhà tôi cả đời được mấy miếng.
-Thế ông cụ không ra được à?
-Ăn xong lấy phần về cho cụ mấy miếng. Này các bà, đĩa xôi này để phần cụ tổng nhá, mình già rồi ăn chẳng hết lấy phần thịt về cho bọn trẻ cũng được miếng.
Ông Sông chưa kịp có lời cảm ơn các cụ bà thì quan tri đã đi tới, đon đả mời:
-Vô phép các cụ cho tôi được mời thầy Quyết cùng ông Sông đây lên mâm trên.
Bà cụ Giao phẩy tay đẩy ông Sông:
-Phải đấy, anh cu với thầy Quyết đây phải được ngồi mâm trên. Vào đi, tí nữa ra đây lấy phần của chúng tôi về cho ông cụ.
Quan tri bá vai thầy Quyết tỏ thái độ thân tình:
-Ở làng ai cũng quý cụ tổng, nhẽ ra cụ phải ra đình uống chén rượu cho bà con vui, cụ lại giữ lễ quá. Nào, mời thầy lên sập ngồi với tôi, để anh lý nhà tôi tiếp ông Sông.
Thầy Quyết chối:
-Ấy chết, tôi chỉ là dân mọn đâu dám ngồi chiếu trên với quan tri.
-Thầy lại học cái khí khái của cụ tổng rồi, đấy là tính cách của người già, tôi với thầy trước lạ sau quen có gì mà phải lễ nghi rườm rà. Mời thầy ngồi lên tôi cũng có việc muốn bàn, chiều nay tôi phải về rồi e không có lúc nào gặp được.
Ngồi cùng mâm với quan tri và các cụ trong hội đồng kỳ mục khiến thầy Quyết bối rối, cảm giác như được mời ngồi lên đây là để bị sai bảo, lúc thì cụ tiên này sai lấy hộ cái thìa, lúc thì cụ tiên kia nhờ xé hộ miếng thịt. Các cụ như vậy là coi thường thầy và cho rằng quan tri cư sử hơi quá, lệ làng phải được giữ cho nghiêm, chỗ của thầy Quyết đâu phải được ngồi chiếu trên. Miếng thịt trong bát của cụ tiên Huề, cụ tiên Soi cứ phải nhào lộn trong lòng bát mãi chưa đưa được lên miệng. Việc này không qua khỏi đôi mắt khôn ngoan của quan tri. Quan tri rót thêm rượu vào chén của thầy Quyết rồi nâng chén của mình lên mời:
-Chén trước vì việc vui của chú em tôi, chén này xin được thay mặt hội đồng kỳ mục có nhời mời thầy ở lại dậy cho trai đinh những bài võ tự vệ để còn đề phòng bọn cướp có đến thì dân làng biết cách mà đối phó.
-Chết nỗi võ nghệ của tôi đã so tài được với ai mà dám dậy bảo mọi người. Vả lại tôi cũng còn công việc trên Hà Nội, bỏ sao được.
-Thiên hạ đã tôn thầy làm thầy rồi, nhẽ ra tôi là người ngồi dưới mới phải.
Lúc này mọi người mới nhận ra ý của quan tri muốn gì. Cụ tiên Soi vội gỡ miếng thịt đang bị giắt trong mồm ra, đặt xuống bát, đưa ngón tay lên miệng mút cho sạch mỡ rồi cầm tay thầy Quyết, cười hỉ hả nói nịnh:
-Quả là quan tri là người biết lo xa cho dân làng. Quan tri nói đúng, phải mời thầy ở lại dậy trai đinh làng này chiến đấu với bọn cướp thì chúng tôi mới yên tâm.
*
*    *
TRONG BỮA CỖ KHAO LÀNG HÔM ẤY, THẦY QUYẾT CỐ TÌNH TỪ CHỐI LỜI MỜ CỦA quan tri và của các cụ trong hội đồng kỳ mục là để che giấu lòng mình. Bỗng dưng thầy có thể hợp pháp đi về cái làng Trằm hẻo lánh này mà sau bao ngày suy tính không ra được lý do gì chính đáng, thì sao không tránh khỏi hồi hộp dễ dẫn đến sơ xẩy điều gì đó khiến mọi người nghi ngờ. Hiện nay, con đường liên lạc xuống dưới các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên đi theo con đường qua Gia Lâm vừa xa xôi lại vừa gặp khó khăn do mật thám truy tìm gắt gao, xứ uỷ giao cho thầy Quyết tìm ra con đường tắt, an toàn hơn từ Bắc ninh qua rừng Vàng xuống Cẩm Giàng. Đã nhiều bận thầy Quyết tới cơ sở ở các làng như Thuận Thanh, Bình Giang, những vùng nằm theo vành đai bên ngoài rừng Vàng để tìm cách thông đường nhưng chưa được. Nay nếu trụ được ở làng Trằm thì nơi đây sẽ trở thành một hộp thư trung chuyển. Người đưa thư thì có thể dùng những tên cướp rừng Vàng đã bị thầy thu phục vào chính ngay cái đêm chúng định vào cướp nhà lý Ngang nhưng người nhận thư ở đây để chuyển tiếp đi thì ai đây. Ông Sông ư? Ông là người có đủ lý do đi khỏi làng mà không ai nghi ngờ, thế nhưng ông là người không quyết đoán, không mạnh mẽ mà muốn sống an phận quá e rằng không đảm đương được. Anh cu Toản là em con chú ông Sông cũng được đấy nhưng còn phải thử thách xem sao bởi còn ít tuổi quá. Thầy Quyết quyết định bộc lộ thật về thân phận của mình với ông Sông. Ông Sông không hề ngạc nhiên khi biết thầy Quyết là ai mà chỉ đắn đo, lo lắng cho thầy:
-Thế thầy có biết quan tri Nghiệp đã nghi ngờ thầy và việc hắn gợi ý thầy về dạy võ cho trai đinh làng này là có ý đồ không?
-Nếu hắn biết đích xác tôi là ai thì đã cho lính bắt rồi. Mới chỉ nghi ngờ, nếu mình biết hoạt động từ chính trong sự nghi ngờ ấy thì lại là cách an toàn nhất nhưng điều quan trọng là tôi phải được sự giúp đỡ của mọi người.
Nhà thầy Quyết có cửa hàng tơ lụa thì việc thầy đi tìm mối hàng, rồi thầy là một võ sư việc giao du khắp nơi cũng là việc không khiến người ta đặt ý nghi ngờ. Việc thầy không về dạy võ thường xuyên cho trai đinh làng Trằm cũng là việc đương nhiên. Có bận thầy chỉ về một tuần, kiểm tra các môn sinh của mình ôn luyện thế nào, cũng có khi thầy về một hoặc hai tháng để dạy những thế mới. Trai đinh trông ngóng thầy từng ngày để mong thầy truyền cho những bài võ mới. Không cần phải ai nhắc nhở, thúc giục, tối nào sân đình cũng huỳnh huỵch tiếng người vật lộn, tiếng hò hét đầy quyết tâm. Trước đây trương Bân lúc nào cũng vỗ ngực dương dương ta là người võ nghệ cao cường nhưng nay thanh niên biết tỏng rồi, chỉ được cái vung tay vung chân kiểu vua cũng phải thua thằng liều. Trương Bân gãi bụng cười giả lả, cho tớ học cùng không thì đã lâu không rèn quên tiệt cả. Lý Ngà cũng là người trông mong thầy nhưng là trông mong sao cho thầy đừng trở về. Cả làng đang sống yên lành bỗng dưng bị xáo trộn lên bởi những đoàn thể bí mật nào đó như lời quan tri phán đoán thì thật khó cai trị, rồi lại phải tranh giành từng thửa ruộng để sống, rồi sẽ có kẻ lại theo bọn cướp rừng Vàng trở về quấy rối thì đó là cái hoạ lớn. Nhưng là đoàn thể gì ở cái làng Trằm nghèo khó này, là những ai khi toàn là những người quanh năm suốt tháng cặm mặt với bùn đất. Có chăng chỉ là cha con nhà ông cụ tổng. Nhưng toàn những người trói gà không chặt thế thì làm được trò trống gì, rình mò mãi mà chẳng thấy họ có biểu hiện gì. Không buổi tập nào cu Sơn lại vắng mặt, cho dù có tới tận gà gáy canh ba khi mà thầy Quyết tranh thủ thời gian về làng, nhưng thằng cu nhỏ ranh ấy thèm vào chấp.
Nghi ngờ của lý Ngà hoàn toàn đúng. Không ngờ anh cu Toại rút rát thế mà khi thầy Quyết thuyết phục là nhận lời ngay. Ngày còn nhỏ, cả làng còn gặp khó khăn cơm chẳng đủ ăn, nhưng giời đã cho anh cu biệt tài bắt lươn cho nên nhà chẳng khi nào thiếu đói. Nay, đêm hôm anh cu Toại đi khắp các cánh đồng đào lươn, bắt ếch chẳng khiến ai nghi ngờ.
-Hay là cho cu Sơn tập cùng, nó khát khao được học võ lắm, mười ba tuổi rồi còn gì, tối nào em cũng dậy lại cho cu Lạc nhà em, mới ba tuổi mà múa cũng dẻo phết. Chiều nay nó ăn vòi chị nó thấy tội nghiệp. – Anh cu Toại đề nghị với thầy Quyết.
-Tôi là tôi không đồng ý - Ông Sông chặn trước lời thầy Quyết: - Thầy đang dậy nó học, sang năm cho nó ra Hà Nội với chú Dạ xin vào trường Bưởi theo học cùng thằng Sông. Thầy đã quyết tâm cho hai đứa học hành tới nơi tới chốn rồi.
Nghe các con bàn chuyện học võ của cu Sơn, cụ tổng có ý kiến:
-Việc học chữ là cần nhưng việc học võ cũng tốt, nó rèn cho con người có bản lĩnh cứng rắn. Phải thế không thầy Quyết. Tôi biết tại sao thầy chưa dậy võ cho cu Sơn rồi, thế cũng phải, thế mới thực sự là người thầy biết cách rèn sự kiên nhẫn cho học trò, từ giờ tới cuối năm thầy cứ dậy em nó được tí nào thì được, sau này ra Hà Nội nhờ thầy dậy bảo chu tất.
Cụ tổng là người hiểu được ý nghĩ của người khác, đồn là vậy đến hôm nay thì thầy Quyết mới mục kích. Bấy lâu nay thầy không dậy cu Sơn chính là để rèn lòng kiên trì và còn để theo dõi xem cu Sơn quyết tâm đến mức nào rồi hướng cho cậu bé theo con đường của thầy đang đi. Cu Sơn là con người nhu mì giống như những anh em khác của mình nhưng sẽ là một con người bản lĩnh sau này, thầy Quyết nhận định vậy. Khi chiều cu Sơn lăn ra ăn vạ chị thấy buồn cười vì cái tính trẻ con, lại thấy thương nó vì chẳng được tình cảm chiều chuộng của người mẹ, cô Thị đã cố làm điều ấy nhưng sao có thể bù đắp được.
Mọi người đang bàn chuyện của cu Sơn thì lý Ngà đi vào, miệng chào giả lả:
-Cả nhà cơm tối chưa nhỉ!
-Anh lý sang chơi! Nhà tôi cơm nước xong rồi. Cu Sơn, mang cho thầy cái chén. Mời anh lý xơi chén trà! – Cụ tổng mời.
-Vâng, cơm nước xong thấy nhạt mồm lại nghĩ tới chén trà ngon của cụ.
Ấm trà đã nhạt mà lý Ngà chưa chịu đứng dậy, hỏi hết chuyện nọ sang chuyện kia chẳng chuyện nào ăn nhập với chuyện nào. Thầy Quyết sốt ruột, gần đến giờ hẹn phải nhận một công văn khẩn và đón một đồng chí quan trọng của đảng cố tình trả lời hờ hững mà lý Ngà vẫn không chịu về. Lý Ngà còn trẻ nhưng tỏ ra rất xảo quyệt, hắn ta đã nghi ngờ chuyến về lần này của thầy thì phải hết sức thận trọng. Nhưng làm cách nào đi ra khỏi làng để báo động cho người của mình được đây?
Đúng là lý Ngà cố tình hỏi chuyện để giữ chân thầy, bởi khi chiều người của quan tri xuống cho biết phải theo dõi thầy Quyết chặt chẽ hơn, có tin báo sẽ có cán bộ cao cấp của Việt Minh về qua vùng này. Lúc này người của trương Bân đã phong toả khắp ngả đường ra vào làng, chắc chắn mọi hành tung của thầy Quyết chẳng thể qua mắt được. Nhưng mong sao đừng có chuyện gì xảy ra, chứ như khi nãy vừa nói tới việc này trương Bân đã vung thước sừng sộ đòi xông vào bắt thầy Quyết ngay khiến lý Ngà thấy lo. Chẳng nhẽ đã qua bao đời, dân làng này chỉ biết trồi trụt với đồng đất kiếm miếng ăn, nhà lý bảo gì nghe nấy, thế mà lại trở nên ương ngạnh vì một chuyện không đâu, rồi sẽ biết quản thế nào. Lý Ngà biết, động đến thầy Quyết là động đến lòng tin của dân làng, bởi ai cũng coi thầy như người nhà mình. Phải đủ bằng cớ, phải bắt tận tay thì dân làng mới phục, quan trên mới nể. Trương Bân chỉ như con chó trông nhà cho chủ, hễ thấy người đi vào chẳng biết ngay gian thế nào cứ phải sủa nhặng lên.
Lý Ngà xảo quyệt thật đấy nhưng chưa đủ già dặn để che dấu ý đồ của mình, hành tung lộ liễu thế người như thầy Quyết sao chẳng đoán ra. Như vậy đã rõ, mọi chuyến về làng của thầy đều bị theo dõi. Nhưng thầy Quyết nhận định, chúng mới chỉ nghi ngờ chứ chưa tìm ra bằng cớ xác thực để khảng định thầy là cán bộ Việt Minh. Cần phải xây dựng được cơ sở vững chắc ở các làng xã dọc theo cánh rừng Vàng thì mới có được con đường liên lạc thông suốt và đảm bảo an toàn được. Chứ như con đường liên lạc hiện nay rất dễ xảy ra đổ bể. Thầy Quyết lo lắng. Nhớ cái đận bọn cướp về định cướp nhà lý Ngang, thầy đuổi theo truy sát chúng tới tận hang ổ trong rừng. Chỉ một cú quét chân của thầy, tên cầm đầu bị ngã đập ngực xuống đất. Hắn ôm ngực thở hồng hộc, đau đớn, quỳ xuống dưới chân thầy quy phục, xin làm đệ tử. Vài lần sau đó, thầy ở lại trong rừng, giảng giải cho toán cướp thân phận về thân phận của họ, thân phận của những con người nghèo khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp dưới sự đè nén bóc lột bọn địa chủ cường hào. Toán cướp cảm phục, những chuyến cướp sau này chỉ nhằm vào những ác bá, tay sai cho thực dân và tình nguyện làm người liên lạc cho cách mạng. Đã qua ba năm những tên cướp đã bị thu phục đó, luôn làm tốt những công việc của cán bộ cách mạng giao cho nhưng dù sao họ vẫn ủ sẵn bản tính của một kẻ đã từng giết người cướp của rất dễ manh động và hẳn cũng dễ bị dao động trước sự cám dỗ của đồng tiền rồi dẫn đến ý chí rất có thể không kiên định.
Nhưng còn việc cấp bách ngay bây giờ thì nên thế nào đây? Hình như có lính dõng trên huyện về, thầy Quyết thoáng thấy có người đội nón dấu đi ngang qua ngõ. Như vậy sự việc đã trở nên nghiêm trọng, thế nào cũng phải tìm cách báo cho đồng chí mình biết và tránh đi. Lúc này chỉ có thể nhờ được cu Sơn. Nhưng một bước đi của thầy đều bị giám sát mà anh cu Toại đang ngồi cạnh cu Sơn kia lại chưa hề biết kế hoặch này được. Có nhẽ việc cảnh giới đã rỗi dãi vì có lính dõng về, trương Bân khụng khiệng đi vào, vênh vác nhìn thầy Quyết, giọng oang oang tỏ ý thách thức:
-Văn ôn võ luyện, thầy lâu không về chúng tôi quên tiệt cả, tranh thủ thời giờ thầy về tôi đã cho gọi trai đinh cơm nước xong lại ra sân đình ôn lại bài võ gì ấy khi chiều cho thuần thục. Được chứ hả thầy?
Hắn đúng là con cáo già, không nhận lời không được. Bọn chúng có thể giả cách tập tành suốt đêm, vậy là không cách gì giữ chân thầy hơn cách này. Nhưng như vậy cũng hay, sẽ có giải pháp nảy sinh, còn hơn cứ phải ngồi tiếp chuyện với lý Ngà. Thầy Quyết phác nhanh kế hoạch trong đầu rồi đề nghị:
-Các vị có lòng quyết tâm thế tôi nào dám từ, mọi người ra đình chuẩn bị đèn đuốc trước, tôi sẽ ra sau.
Thầy Quyết đứng dậy đưa mắt ra hiệu cho cu Sơn cùng đi ra đình.
Lý Ngà cạn nghĩ, nghe thầy Quyết nói vậy nên đứng dậy đi ngay. Nhưng trương Bân
thì không, nán lại chờ thầy đi cùng với lý do tỏ lòng kính trọng phải đón rước cho đúng phép làm trò.
Đêm ba mươi, đường làng tối như bưng lấy mắt. Thầy Quyết đi rảo chân để thoát ra khỏi trương Bân luôn bám sát ngay bên cạnh. Trương Bân chẳng chịu thua, bước chân tập tễnh vấp lên vấp xuống, ngã dúi ngã dụi nhưng không chụi rời xa thầy lấy vài bước. Thầy Quyết dừng lại chờ trương Bân, giả tảng hỏi:
-Đường tối thế này sao ông trương không bảo người thắp đuốc dẫn đi, chân tập tễnh thế nhỡ có sao lại khổ?
-Đường làng tôi thuộc như lòng bàn tay, một mẩu gạch vương trên đường cũng chẳng thể làm vướng chân tôi, hơn nửa đời người làm trương tuần ở làng này không ai đi đêm về hôm nhiều như tôi, thầy khỏi lo cho tôi.
Đúng là một con cáo già, một con chó trung thành cho nhà lý, hắn thực sự trở mặt để thách thức thầy. Chờ cho cu Sơn đi lên cạnh mình, thầy Quyết đặt tay lên lưng cu Sơn dùng ngón tay viết lên lưng cu Sơn nơi cần đến ngay trong đêm nay. Cu Sơn tinh ý nhận ra dòng chữ “Tổ Hùm” thầy Quyết viết vào lưng mình nhưng đến đó vì việc gì thì với cách báo hiệu như vậy cu Sơn chịu không nghĩ ra. Lợi dụng bước chân cu Sơn bị hẫng vì tụt xuống một hố nhỏ, thầy Quyết bấm cu Sơn rồi giả vờ hỏi:
-Sao, lại đau bụng à, trời lạnh thế này ra sân đình chịu sao được, về nhà nghỉ sáng mai anh dậy cho, phải tập có bài bản từ thấp đến cao mới được.
Cu Sơn hiểu ý thầy muốn gì rồi, phải đi ngay ra Tổ Hùm, gặp ai đó như mọi bận anh Toại vẫn làm và lý do tại sao gì thì ra đến đấy hẳn sẽ biết. Cu Sơn đứng lại giả vờ ôm bụng xuýt xoa kêu đau, xin phép thầy Quyết quay về. Chờ cho trương Bân cùng thầy Quyết đi xa, nghe xung quanh không động tĩnh gì, không có người theo dõi, cu Sơn cắm đầu chạy tắt ngang cánh Thỏ ra sông Vàng. Con đường dường như biết được lòng người, tránh những hố những mô ra để cho cu Sơn chạy không bị vấp ngã không bị hụt chân, gió thổi ù đặc hai bên tai. Tới đê sông Vàng, cu Sơn vật người sõng xoài xuống bờ cỏ, ôm ngực thở. Đúng chỗ này đây, trước hôm chết lý Ngang cố tình bênh thằng Sông hay sao ấy mà xoắn cật lực như muốn xé tai mình rụng ra. Lại đến hôm nay, con ông ta muốn gây sự gì với thầy Quyết đây, như vậy cũng như là gây sự với nhà mình rồi còn gì. Cầu mong ông phù hộ cho cháu được tới Tổ Hùm an toàn để giúp thầy Quyết. Cu Sơn đứng dậy, đi rẽ về lối cầu Đá. Ra tới đây phải cẩn trọng, ở đường cái thế nào cũng có lính dõng đi tuần, cu Sơn nhìn trước nhìn sau quan sát kỹ càng rồi mới đi tiếp. Chết thật, trên cầu Đá hình như có người! Đúng là lính dõng rồi, cái chóp nón nhọn như cây măng kia thì không nhầm được. Như vậy chúng đã biết con đường thầy Quyết phải qua.
Chỉ còn cách phải bơi qua sông Vàng. Nhưng còn những con đỉa! Đỉa ở sông Vàng này mỗi bận ngửi thấy hơi người ngoi ra nhiều như lá tre. Nhớ cái đận cu Sông bị đỉa chui vào b., đoạn còn thò ra ngoài đen sì ngọ ngoậy như mũi khoan tìm cách xuyên vào bên trong, sờ vào dớt nhẽo nhèo, cu Sơn rùng mình người sởn da gà. Cu Sơn lội ra mép nước. Trời khi nãy còn nóng đổ mồ hôi sao bây giờ chạm chân xuống nước thấy lạnh buốt tới tận xương và lại phảng phất có mùi tanh tanh. Phải chăng có những thây ma đang trôi dật dờ theo dòng nước đâu đây, cái xác oặt èo, nhũn nhẽo như dọc khoai ngứa nhúng nước sôi giống như xác lý Ngang dạo nào. Ông ơi, phù hộ cháu! Những con đỉa thường ẩn mình trong những dệ cỏ gần bờ, cu Sơn lội nhanh ra xa để tránh. Cu Sơn bơi đứng, một tay túm chặt lấy chim, đầu cố ngỏng cao lên khỏi mặt nước, để phòng tránh đỉa chui. Sang tới bờ bên Thuận Thanh, cu Sơn cởi quần áo vắt nước, rồi dùng tay xoa khắp người để xem có con đỉa nào bám vào. Thế là ông đã phù hộ mình rồi, không có con đỉa nào bám vào, lại không đụng phải cái thây ma nào. Một chặng đường đã qua trót lọt, cu Sơn ưỡn ngực hít một hơi thật sâu lấy lại bình tĩnh để đi tiếp.
Tới Tổ Hùm phải hơn hai cây số nữa, liệu bọn lính có biết con đường thầy Quyết vẫn đi? Lại phải cắt ngang qua cánh đồng để tránh gặp người ta, những gốc lúa mới gặt nhọn như những bàn chông đâm vào bàn chân đau nhoi nhói. Có nhẽ chẩy máu chân rồi, buôn buốt đau. Bờ vùng bờ thửa không quen, nhiều khi vấp ngã đập đầu gối xuống đất đau điếng, có lúc nghi ngờ qua mương, qua rãnh phải dùng tay sờ lần xác định cẩn thận, nếu không ngã xuống nước thật gây tiếng động sẽ bị phát hiện ngay. Trời hôm nay sao lại tối thế, trước mắt chỉ thấy một khối đen bít chặt lấy mắt, có phải đã tới đầu làng Thuận Thanh. Đúng rồi đây là cây cầu tre bắc qua dòng mương ông Lãm. Cu Sơn tụt xuống chân cầu nghe ngóng động tĩnh. Hình như quan quân trên huyện kéo về chỉ bao vây làng Trằm chứ bên này yên lắm, nghe rõ cả tiếng con chó nhà ông Mức ngay đầu cầu bên kia, nằm ngay cổng đang tranh thủ đêm tĩnh lặng đánh giấc ngủ say. Có con gì bò buồn buồn dưới bụng, cu Sơn ngồi hẳn dậy lấy tay phẩy mà con chó vẫn không hay biết có kẻ đang tìm cách đi qua làng. Đi cắt qua làng bây giờ khác nào đánh thức cả làng Thuận Thanh này dậy, phải lội xéo qua mương nước này vòng ra ngoài cánh đồng thì mới không bị phát hiện. Cái mương tuy rộng nhưng chỉ lội tới đầu gối, đỉa có bám vào cũng chẳng sợ. Phía xa xa ngoài cánh đồng lấp loá vài đốm sáng. Những đốm sáng di chuyển chập chừng, lúc nhanh lúc chậm, lúc dừng lại một chỗ thế kia chắc là người đào lươn chứ chẳng phải ma. Bỗng đâu lại nghĩ tới chuyện ma khiến cu Sơn chờn chợn. Tổ Hùm là nơi bìa rừng, có nhiều vũng lầy, chỉ những người bạo gan mới dám tới đây bắt lươn và chỉ mang đi xa bán chứ dân quanh vùng chẳng ai dám ăn. Đó là những con lươn ma, toàn những con to bằng cổ tay, dài đến gần mét, da lưng đen bóng như sừng dưới bụng vàng ánh như dát vàng. Ở đấy có mộ tổ tám đời của họ Nguyễn làng Trằm, cu Sơn nghe mọi người nói vậy thôi chứ đã đến thắp hương lần nào đâu và ngay cả người lớn cũng chưa thấy lần nào rủ nhau ra thăm viếng thì phải. Đâu như các cụ ngày xưa nói là phải an táng ở đấy mới được thế đất đẹp. Nhưng đẹp đâu chưa thấy, thử hỏi những con cháu họ Nguyễn đã có ai làm vương làm tướng gì.
Đến Tổ Hùm nhưng cụ thể là đống nào mà tìm cơ chứ, trời tối như bưng thế này nào có nhìn thấy ai. Đã nhiều lần cu sơn theo người lớn ra Tổ Hùm bắt lươn nhưng đường ngang lối tắt chưa thông, lại là lần đầu đi một mình, giờ thì sao đây? Đi vào sâu thêm tí nữa xem sao. Gặp phải đống lầy, bùn lút đầu gối, nước chẩy buồn buồn ở bắp chân, liệu có phải những con lươn ma đang bò ra quấn lấy chân, cu Sơn sợ đến nghẹn thở đành phải quay ra. Chẳng nhẽ quay về sao!? Quay về, thế ra mình hèn kém vậy à! Lý Ngà chê mình kẹ, chê mình chỉ biết bám váy chị, sẽ cho anh ta thấy. Nghĩ vậy cu Sơn thấy bình tĩnh trở lại, nhìn quanh xác định xem quanh quất đây có gì khác lạ. Và lần đầu tiên cu Sơn thầm khấn mong cụ tổ nhà mình phù trợ.
-Ai đi đào lươn mà đứng mãi thế?!
Một tiếng hỏi nhỏ nhưng với cu Sơn lúc này thì khác gì một tiếng sét xé ngang màng tai. Lồng ngực cu Sơn dường như bị thắt lại đai nhói, đầu gối khuỵ xuống. Chưa kịp ngã xuống bởi tiếp sau là tiếng nói ấm áp của một sinh linh còn tồn tại ngay bên mình khiến cu Sơn trấn tĩnh lại.
-Còn bé thế này mà ra tận đây đào lươn không sợ à?
-Anh... anh là ai, cũng đi vào ... đây bắt lươn à?
-Phải gọi tôi bằng chú hoặc bằng bác mới phải, có phải dân làng Trằm không? – Người lạ mặt hỏi thăm dò.
-Vâng, sao bác biết?
-Thế có biết thầy Quyết, anh Toại không?
-Bác là người của thầy Quyết à? Cháu là em anh Toại.
-Thật à? Đúng rồi, con cụ tổng phải không, thằng cu Sơn hả, anh nghe anh Toại kể về gia đình mình rồi. Sao, tình hình trong ấy lộ rồi phải không, thầy Quyết sao rồi mà cử em ra ngoài này, chẳng dặn mật khẩu gì là thế nào.
-Có lính lệ trên huyện về đông lắm, không biết có chuyện gì trương Bân theo sát thầy Quyết không cho đi đâu.
-Anh hiểu rồi, thôi em về ngay đi, cũng may thế nào anh lại nhìn thấy em, về ngay đi.
Người lạ mặt không dặn gì thêm, vội vàng đi luôn. Hẳn chuyện đang xảy ra phải hệ trọng lắm, cu Sơn lo lắng, thế là cụ tổ nhà mình đã phù trợ, mong sao trên đường trở về trót lọt như lúc đi. Sông Vàng đây rồi. Trong lòng đang vui, cu Sơn quên hẳn những con đỉa và những thây ma đang rình rập dưới sông, lội thẳng luôn xuống mà không chút đắn đo. Vừa lội ra khỏi bờ áng chừng sải tay thì bỗng những tiếng la, tiếng hò đuổi bắt trong làng Thuận Thanh dậy lên khiến cu Sơn vội quay lại nằm ép mình xuống bờ cỏ. Chỉ lát sau, tiếng chân chạy thình thịch, tiếng thước, cả tiếng báng súng va vào nhau lách cách ngay bên trên đường đi, cu Sơn nằm ép chặt người xuống, nín thở. Ánh đuốc nhoáng nhoàng qua đám cỏ. Có nhẽ lính lệ và đám trương tuần của làng Trằm cũng chạy sang hỗ trợ đuổi bắt ai đó. Bọn họ đã sang hết bên Thuận Thanh, trên cầu Đá không còn người đứng gác như hồi nãy, cu Sơn quyết định chạy qua cầu để về cho nhanh. Cu Sơn chạy thẳng ra đình. Đám trai đinh mình trần đang đứng ngóng về Thuận Thanh, tò mò không biết có chuyện gì đang xảy ra. Thầy Quyết cũng đứng trong số đó nhưng bên cạnh là trương Bân và lý Ngà, có cả tri huyện Nghiệp đứng ốp phía sau. Đúng là có chuyện dữ rồi, họ đang giám sát thầy. Thấy cu Sơn, thầy Quyết lên tiếng hỏi:
-Khuya rồi còn ra đây làm gì?
-Có chuyện gì bên Thuận thế, chó sủa làm em giật mình tưởng ngoài này bị sao, bác cả với anh cu Toại nhà em đâu không thấy.
-Trẻ con mà đã lo hộ người lớn thế là già trước tuổi, ế vợ là khổ đấy thằng kẹ, hai anh mày theo tuần đinh sang bên kia rồi, về đi cho đỡ vướng chân người lớn. – Tri huyện Nghiệp nói dỡn cu Sơn.
Lúc sau, ánh đèn đuốc nhoáng nhoàng bên Thuận Thanh tụ vào một chỗ rồi rồng rắn kéo về bên Trằm. Đoàn người càng tiến gần tới Trằm càng nghe rõ tiếng thước bình bịch có nhẽ quật vào người nào đó. Rồi tiếng quát hỏi, tiếng người rên la đau đớn. Đám trai đinh dồn nhau ra xem chuyện gì. Quan tri cùng lý Ngà cũng sốt ruột muốn chạy theo đám trai đinh lắm nhưng thầy Quyết vẫn đứng yên một chỗ thì đi sao được.
Không phải chờ đợi lâu, đám lính lệ áp giải một người bị đánh có nhẽ quá tay nên mặt mũi bê bết máu, phải lê lết đau đớn đến trước mặt quan tri. Tên cai lệ thưa:
-Bẩm quan tri, tên này rình mò đi qua Thuận Thanh định sang bên này. Tuần đinh bên ấy nhận ra tên này là cướp rừng Vàng.
Quan tri Nghiệp mừng như vớ được của chạy lại túm tóc tên cướp lật mặt lên xem cho rõ, hỏi dồn:
-Mày là cướp rừng Vàng? Về đây định liên lạc với Việt Minh phải không? Ai sai mày về đây? Chúng ở đâu?
-Tôi không làm liên lạc cho Việt Minh. Tôi về để báo cho các ông, tưởng được thưởng thế mà đánh tôi thế này à! Có chết tôi cũng không báo nữa.
-Sao! Mày về để báo tin cho chúng tao! Thật thế không? – Quan tri hạ giọng nịnh: Đừng vội rút lui ý kiến của mình thế, vẫn có thưởng, mà thưởng to hơn nữa kia.
-Tôi nghe trộm được, chúng hẹn nhau ở gốc găng đống Tổ Hùm.
-Thật không!? Thế tại sao mày bỏ chạy?
Quan tri chưa tin lắm nên hỏi lại.
-Tôi có chạy trốn đâu, chưa biết đầu đuôi thế nào tuần đinh bên ấy đã xúm lại đánh tôi, không chạy để chúng đánh chết à!
-Thế ai hay đến gặp chúng mày?
-Có thầy Quyết hay đến giao nhiệm vụ cho thủ lĩnh của chúng tôi.
-Thầy Quyết!
Mọi nghi ngờ đã được phơi bày. Đích xác thầy Quyết là Việt Minh. Không hề ngạc nhiên nhưng cả ba: tri huyện Nghiệp, lý Ngà và trương Bân đều bị ngỡ ngàng bởi sự việc lại diễn ra bất ngờ ngoài dự định như thế này. Cả ba cùng quay sang nhìn thầy Quyết. Thầy Quyết vừa đứng ngay cạnh mà vừa rời mắt khỏi đã đâu rồi, cả ba cùng xô đám người đứng vây quanh tìm. Đám trai đinh thì hết sức ngạc nhiên, không ngờ thầy Quyết là Việt Minh. Mà Việt Minh là gì thì ở làng này chả mấy ai biết được là gì và quan trọng thế nào khiến tri huyện phải lồng lộn tìm kiếm thế kia. Và thầy đi thế nào cũng không ai biết.
-Chúng bay đâu! Nó chửa chạy đâu xa, chia nhau ra tìm khắp nơi cho tao, có chạy đằng trời!
Lần đầu tiên con dân làng Trằm được chứng kiến ông chánh trương làng mình oai phong đến vậy, cũng là đứng dạng chân, tay vung thước quát lác nhưng lần này có khẩu khí hơn hẳn bởi ánh mắt nảy lửa trút căm giận lên một con người đại diện cho một thế lực đến tàn hoại cuộc đời mình.
-Dồn hết tất cả về phía Thuận Thanh, khẩn trương!
Lệnh của quan tri ban ra trái ngược với lệnh của trương Bân. Nhưng quan tri quả là người biết xét đoán tình hình, đúng là thầy Quyết đã chạy sang Thuận Thanh. Chính cu Sơn đã giả vờ xô đẩy lý Ngà và trương Bân dồn lên gần tên cướp để cho thầy Quyết có cơ hội trốn chạy. Trong số những người chạy sang Thuận Thanh vây bắt thầy Quyết có cả anh cu Toại. Anh cu Toại đoán được thầy Quyết chạy hướng nào rồi, chỉ theo con đường ngắn để tới rừng Vàng. Do không phải dừng lại tìm kiếm nên anh cu Toại chạy vượt lên trước. Cứ đường lớn mà chạy, vượt qua cầu Đá, anh cu Toại đã nhìn thấy thầy Quyết đi gấp phía trước. Chúng nó đuổi theo rồi, chạy gấp đi, anh cu Toại đuổi kịp, kéo thầy Quyết chạy. Định rằng sẽ liều mạng chạy ngang qua làng Thuận Thanh cho nhanh nhưng vừa đến đầu cầu Tre bắc qua mương Ông Lãm thì đã nhìn thấy có tốp người đứng tụ tập bên kia.
-Lính lệ rồi, chẳng nhẽ tri huyện biết trước cho người đứng chặn ở đây. Chú về đi, bị lộ bây giờ thì khổ cả nhà, lại phải còn có người xây dựng lại cơ sở nữa chứ.
-Phải lội tắt cánh đồng thôi, đi theo em, lối này thầy chưa biết đường!
Anh cu Ngà kéo thầy Quyết đi tắt cánh đồng. Nhưng vừa bước chân xuống mương Ông Lãm thì bọn lính phát hiện ra. Chúng hô đứng lại. Lại từ đâu mọc ra những tên lính khác đứng chặn ngay bên phía ra cánh đồng trước mặt. Phía sau bọn quan tri đã đuổi gần tới nơi. Rơi vào thiên la địa võng rồi, chỉ còn cách sống chết với bọn chúng thôi, thầy Quyết đẩy anh cu Toại vào bụi cây bên bờ mương, giục:
-Lội xuống mương trốn đi, để tôi chặn chúng cho!
Thầy Quyết rút súng trong người nhắm vào đám lính chặn phía cánh đồng bóp cò. Những tiếng nổ oà lên loang khắp cánh đồng. Hai tên lính ngã vật xuống. Những tên khác chỉ có thước trong tay nên hoảng sợ quay bỏ chạy dạt sang bên mương Ông Lãm. Có đường rút rồi, thầy Quyết kéo anh cu Toại chạy tiếp. Những loạt súng từ phía đám lính đuổi theo sau vang lên, những viên đạn rít chiu chíu ngay bên mình. Anh cu Toại chưa kịp đứng dậy chạy theo thầy Quyết thì bị ngã vật xuống bởi một viên đạn đã găm trúng ngực. Thầy Quyết quay súng lại phía sau bóp cò liền mấy phát rồi quỳ xuống đỡ anh cu Ngà dậy, hỏi gấp:
-Có sao không chú Toại?
Anh cu Toại không trả lời, người oằn lên, các đường cơ trên người co rút căng cứng. Không thể để lộ anh cu Toại là đồng chí của mình được, gia đình sẽ chịu hậu quả khôn lường, thầy Quyết xốc anh cu lên vai chạy. Bọn lính lom khom người, thận trọng vừa tiến lên vừa nã đạn như mưa về phía trước. Một viên đạn găm trúng đùi, quật thầy Quyết ngã quỵ xuống. Giờ thì đi một mình còn không nhấc nổi chân huống chi vác theo người chết trên lưng, thầy Quyết nã những viên đạn cuối cùng để gìm đầu bọn giặc xuống, rồi gắng sức kéo anh cu Toại xuống mương, kéo một vạt bèo tây dấp kín lên. Thầy lết chân chạy được đến cuối Thuận Thanh thì lại bị một viên đạn nữa găm vào bụng. Thầy Quyết ngã gục xuống bên bờ tre.
*
*     *
NHỮNG TIA NẮNG ẤM ÁP CỦA NGÀY MỚI TRÀN SÂU VÀO ĐÁY MẮT, SỰ HỒI SINH của đất trời đã kéo theo sự sống trong con người thầy Quyết trỗi dậy. Thầy cảm thấy mình trôi nổi, dật dờ như đang nằm trên một cánh võng đung đưa ở giữa nơi tối đen, âm u. Thầy gắng sức mở mắt để thoát ra khỏi nơi tối tăm đang trì kéo, nhấn chìm cơ thể thầy xuống. Các mi mắt căng cứng, tê dại không thể cử động được. Thầy muốn nhấc tay lên nhưng cứ như đang bị gim chặt xuống đất không thể cụng cựa. Thầy hít một hơi thật dài để lấy sức nhưng hơi thở bị chẹn đứng lại ở cổ. Có cái gì đó đè chặt lên ngực tưng tức, thầy gắng hết sức một lần nữa. Luồng khí lành lạnh tràn sâu xuống ngực, thầy thấy dễ chịu, cơ thể được giải thoát nhẹ bẫng. Thầy hít thêm một hơi thật sâu rồi từ từ mở mắt. Một luồng sáng chói chang, rung rinh oà vào mắt. Thầy không nhìn ra cái gì cả, chỉ một màu vàng chói. Tại sao thế nhỉ, có phải đó là cảm giác của người loà? Những ý nghĩ ấy hiện ra và điều đó khiến trí não thầy hoạt động trở lại. Nhưng thầy chưa nhớ ra điều gì đã xảy ra với mình. Mình đang ở đâu đây? Những chiếc lá đa rơi, chao lượn trước mắt, màu xanh của tán lá đã hiện lên rõ rệt, thầy bỗng giật mình nhớ ra điều gì đã xảy ra với mình. Thầy gắng gượng ngồi dậy. Không được. Chỉ có cảm giác tê tê, nhôn nhốt buồn ở nửa người phía dưới, nhưng cơ thể cứ như bị dán chặt xuống đất không thể nhúc nhích được. Thầy lật nghiêng bả vai làm điểm tì để chống tay ngồi dậy. Đầu đã ngóc được lên, thầy nhìn xung quanh. Trước mắt thầy chỉ thấy mờ mờ như sương phủ dày đặc. Thầy chống tay ngồi dậy cao hơn. Nhưng một cơn đau nhói tưởng như vùng bụng đang bị xé toang ra từng mảnh khiến thầy ngã vật xuống. Thầy cố gìm tiếng kêu đau đớn cho khỏi bật ra.
-Nó còn sống kìa, chúng mày!
Toán lính lệ mệt mỏi đang nằm vạ vật ở hiên đình, nghe tiếng huỵch của cơ thể thầy Quyết ngã xuống cùng tiếng rên đau đớn cố kìm lại trong cổ, giật mình nhìn ra. Chúng càng giật mình hoảng sợ khi cái xác chết hôm qua chúng lôi từ bên Thuận Thanh về vất vạ ở gốc đa chờ sáng ra quan trên sử lý nay bỗng nhiên sống lại. Có phải người hay ma đây? Ban ngày làm gì có ma.
-Trói nó lại!
Bọn lính hò nhau xông lên nhưng không đứa nào chịu chạy lên trước. Thầy Quyết giỏi võ thế nào chúng biết cả. Nhưng cái hình hài con người trước mắt chúng kia, sức lực đã bị tháo hết ra ngoài cùng với mớ bùng nhùng của đống ruột, của những miếng thịt bị đạn xé toác đã thâm đen lại khiến chúng yên tâm. Hai tên lính xốc nách thầy Quyết dựng lên ngồi dựa vào gốc đa. Những tên khác lấy dây chão quấn thít chặt người thầy Quyết vào gốc đa. Một vòng chưa yên tâm thì hai vòng, hắn có thể thoát ra đấy, quấn nhiều vào, chặt vào. Những đường dây chão thít lằn sâu dưới lần da, cứa đứt từng đoạn ruột rơi xuống đất. Thầy Quyết quằn quại đau đớn. Nhưng tiếng rên la vẫn được gìm lại trong lồng ngực. Gục đầu xuống là bất lực, gục đầu xuống là sự đầu hàng với chính mình để cho cái chết tới mang linh hồn mình đi, bao nhiêu năm rèn rũa đã cho thầy Quyết ý chí hiên ngang của con nhà võ, không được phép gục đầu xuống trước mặt kẻ thù. Thầy Quyết ngẩng cao đầu, dồn hơi vận sức, chút khí huyết còn lại trong người dồn lên khiến mặt thầy đỏ căng, đôi mắt mở to muốn xé toạc vành mi, nhìn thẳng về phía trước.
Đám lính lệ kinh hoàng trước ánh mắt của thầy, vội lùi lại. Đứa sợ quá chạy nhào vào đình, xô vấp cả vào quan tri huyện Nghiệp đang được hai tên lính dìu ra. Tên lính lắp bắp thưa:
-Dạ, b... b... ẩm quan, ma ... ma hay sao ấy!
-Ma nào!
Quan tri thẳng chân đạp vào bụng tên lính dưới quyền. Do tức giận vì thái độ hèn mạt của tên lính, quan tri đã không còn giữ được thái độ nhã nhặn thường ngày và cũng quên mất mình đang bị thương do một viên đạn của thầy Quyết găm vào bả vai, đã vung tay quá mức khiến quan tri đau đớn. Nhưng rồi nỗi tức giận lập tức chuyển sang thầy Quyết, quan tri gạt hai tên lính đang dìu bên cạnh, băm bổ đi về phía gốc đa. Đôi mắt như bốc lửa của thầy Quyết khiến quan tri Nghiệp chùn bước. Nhưng vốn là người có bản lĩnh vả lại trên con đường quan nghiệp đã không ít lần phải đối đầu với những kẻ cứng cổ đã giúp quan tri lấy lại vị thế của kẻ chiến thắng, nghênh ngang tiến tới trước mặt thầy Quyết, hất hàm hỏi bằng giọng thách thức:
-Võ sư giỏi nhất kinh kỳ mà phải chịu trói thế này à!
-....!
-Chỉ cần ông khai ra đường dây liên lạc qua rừng Vàng thì ngay lập tức có quan đốc tờ chạy chữa cho ông và tương lai, sự nghiệp của ông sẽ rạng ngời hơn cả về tiền bạc và danh tiếng nữa kia. Sao, thế nào?
-....!
Thầy Quyết muốn cất lên tiếng nói để vạch bộ mặt thực, bộ mặt xảo trá, ác thú của quan tri Nghiệp nhưng không nổi, hơi thở ứ nghẹn ở cổ chỉ phát ra thào thào tiếng gió. Duy chỉ có đôi mắt là không thể mất đi sinh khí, những tia vằn đỏ như ngọn lửa thiêu đốt kẻ thù của mình.
Có tiếng vó ngựa lách cách vọng tới. Từ phía làng Chuông xuất hiện một tốp người. Quan tri nghênh đầu nhìn ra đoán chừng. Có Tên lính tiền trạm vội vàng chạy tới trước mặt quan tri, chắp tay bẩm:
-Bẩm quan, ngài công sứ tới!
-Thật hả! - Quan tri giật mình reo lên, đôi mắt lộn sòng còn toàn tròng trắng, mặt biến sắc.
Vinh hạnh lại đến đột ngột như vậy sao, sẽ đích thân ngài công sứ xuống gặp, chứ không phải như bao lần trước quan muốn được diện kiến mà chưa được. Quan tri hớt hải chạy ra cổng làng để đón quan công sứ, bước chân run rẩy, hơi thở gấp gáp. Tới đầu đình, quan vấp ngay phải những con dân làng Trằm cả đêm qua không ngủ, ngồi tụ tập từng nhóm, ôm gối chống lại cái lạnh của sương giá, đôi mắt mệt mỏi, hoảng loạn nhìn tròng trọc về phía cái xác, cầu giời khấn Ngài linh thiêng tìm cách giải thoát cho thầy giống như hôm nọ đã giải thoát cho dân làng khỏi tay bọn cướp. Lần đầu tiên cái làng Trằm nhỏ bé, heo hút này bị chấn động, còn kinh hoàng hơn cả trận lụt dạo nào. Không ánh mắt nào nhìn theo để bày tỏ sự quan tâm tới sự kiện đang chuẩn bị diễn ra khiến quan bực quá, đứng lại nạt nộ:
-Chúng mày ngồi cả đây làm gì! Có biết ai đang tới mà ngồi đần đù cả ra thế này là thế nào! Anh lý đâu, tập trung cả làng ra đón quan công sứ! Nhớ không để thiếu một mống nào đâu đấy!
Quan công sứ là gì đến anh cu lý Ngà còn chưa tường hết tầm quan trọng, để mặc cho hai tên lính lệ kéo tay lôi sềnh sệch đến trước mặt quan tri. Quan chỉ muốn vả vào bộ mặt đần thối của thằng em họ cho bõ tức, muốn xé toạc bộ quần áo nhàu nhĩ hẳn đêm qua cuộn vo viên dưới lưng con vợ, nhưng bàn tay vung lên đã biết điểm dừng nên chuyển sang động tác giơ hai tay lên hỏi giời tại sao lại mình vất vả, đau đớn cả đêm để cho hắn ở nhà hú hí:
-Khổ tôi chưa, giờ này còn ngủ được à! Đồ ăn hại! Mau mau thúc dân làng ra đầu làng đón quan công sứ, khẩn trương lên!
Con dân làng Trằm nào có biết vinh hạnh đang đến với mình thế nào, chỉ có bọn trẻ con vừa thức giấc, mặt mũi còn loen ngoen thì hết sức tò mò trước thái độ làm ra vẻ quan trọng của quan tri, kéo nhau ra xem sự thực thế nào. Chúng nhanh chân chạy lên trước, còn muốn chạy sang tới tận làng Chuông để được là người đầu tiên nhìn thấy ngài công sứ thế nào. “Hỗn hào hết mức, mấy đứa kia con nhà ai mà không mặc cho manh quần manh áo tử tế vào hả!” Quan tri gào lên. “Mẹ cha chúng mày, có quay lại không ông tóm được đánh cho nhừ xương!” Đám lính mắm môi mắm lợi đuổi theo. Nhưng không kịp, bọn trẻ đã nhập vào đoàn của ngài công sứ ở giữa cánh Phệ. Chúng như con rắn mùng luổn qua nách đám lính cận vệ để được vào sát tận nơi nhìn tận mặt ngài công sứ.
-Leo ơi, như con gì ấy! - Thằng cu con nhà Khoai nghênh nghênh cái đầu, cái lưỡi lè ra lúc lắc trước mặt quan công sứ như đùa bỡn một con vật lạ lẫm nhưng hiền lành.
-Hê ... hê... hê!
Bọn trẻ nhẩy cẫng lên trước đầu ngựa của quan công sứ, hò reo. Ngay lập tức những đứa trẻ khó bảo, dám làm kinh động đám rước bị túm gáy lôi lại phía sau. Và thế là, chúng mày lu loa nữa đi, hỗn hào! Bọn trẻ bị bóp cổ sặc ằng ặc thì sao mà lu loa được nữa, mặt đứa nào cũng tái thâm tái mét sao còn dám tới gần ngài để mà hỗn hào. Chúng nằm thẳng thượt xuống vệ đường, thở hổn hển, đứa chưa bị bóp cổ nem nép sau gốc xà cừ liếc nhìn theo đoàn người rầm rộ tiến về làng mình. Chỉ thiếu võng đào, cờ tía nữa là trở thành một đám rước quan trạng về làng.
Ngài công sứ cao lớn, râu tóc vàng suộm, trông ngài chẳng khác gì một cây rơm khô. Hai vai ngài lắc lư theo nhịp bước của con ngựa, đôi chân buông thõng lủng lẳng quyệt trên mặt đất, ngài cứ như người giấy bị gió thổi bay phất phơ. Con ngựa nhỏ bé, còm nhom nổi trơ những rẻ xương sườn, phải mang nặng quá sức nên đôi vó trước bị khuỵ xuống khi cố bước qua rãnh nước cắt qua đường. Ngài công sứ trông vậy mà khoẻ, con ngựa giãy giụa, cố vùng đứng dậy nhưng thể do bị kẹp chặt quá dưới háng ngài công sứ. Nó bất lực, đành ngóc cái cổ dài ngẳng, nhe bộ răng trắng ởn hí dài những tiếng khẩn thiết kêu gọi con dân làng Trằm tới cứu giúp. Nhưng con dân làng Trằm còn sợ đôi mắt nẩy lửa của quan tri như muốn thiêu đốt tên dắt ngựa ăn hại. Không thể kìm lòng được hơn nữa, quan tri giằng phắt cái thước trên tay tên lính lệ đứng cạnh vụt vào đầu tên dắt ngựa, hàm răng sít vào không thì sẽ bung ra tiếng gầm còn đáng sợ hơn nữa:
-Mẹ cha tiên nhân mày, huyện này không còn con ngựa nào nữa hay sao lại để ngài ngồi con này!
Rồi quan tri vứt thước xuống, vội chắp xoắn hai tay trước bụng, bẩm quan công sứ:
-Lậy ngài! Ngài có sao không ạ! Không có con ở nhà, bọn thuộc hạ lo cho ngài không được chu đáo, mong ngài đại xá!
Nhìn ánh mắt quan công sứ ngơ ngơ chắc hẳn ngài phải hiền lành lắm. Ngài tỏ thái độ thân thiện, đặt bàn tay to như tầu mo cau vào cổ thằng cu Tĩn kéo sát vào mình, nói với quan tri bằng tiếng Việt còn ngọng nghịu:
-Trẻ con An Nam lúc nào cũng thấy cười, quan ngã ngựa đau lắm mà cũng cười, đáng yêu lắm, phải không ông tri huyện.
Mũi thằng cu Tĩn được ngửi mùi gây gây thật lạ, nó ngửa mặt lên nhìn quan là giống gì mà có mùi khác thế. Rồi như thể muốn kiểm chứng lại, nó lấy cẳng tay quệt ngang vệt mũi xanh lét như con bọ lẹt hít lại lần nữa. Nó thấy vui như được xem trò, nhẩy chân sáo về chỗ u nó đứng nấp sau bụi duối nhìn trộm quan công sứ, cái chim bằng quả ớt không được tấm quần che đậy nẩy tưng tưng như con cò mổ.
Quan công sứ chỉ trông như ma như anh cu nào đó nói vụng khi nãy chứ không phải là ma thật. Ông ta cũng dễ dãi với cấp dưới đấy chứ, có tỏ ra bực tức khi phải cưỡi con ngựa còm đâu. Ông ta cũng hiền đấy chứ, luôn miệng ô là là với bọn trẻ bám quẩn theo chân. Và ông ta là người hiểu biết phong tục người Việt ta, tỏ ra thân thiện đấy chứ, cho nên mới tiến thẳng về đình không cần người chỉ dẫn. Đó là nhận xét của con dân làng Trằm lần đầu được nhìn thấy ông tây và cùng rồng rắn theo sau ngài công sứ ra đình.
Đình làng mình, mình bỏ công bỏ sức, bỏ tiền bỏ của ra để xây đắp lên mà chẳng dám bước chân chạm vào hàng gạch lát sân chứ chả dám nói là vào trong để thắp cho Ngài một nén nhang, cầu Ngài phù trợ cho thầy Quyết tai qua nạn khỏi. Nhưng nhìn  về thầy Quyết, giờ còn không cất đầu nổi lên nữa thì mong gì qua được, tang thương thế  kia mình còn lòng dạ nào nữa mà còn nghĩ tới việc đình việc quán. “Hay nhờ ông quan tây, may chăng với vẻ mặt nhân hậu ấy cũng động lòng trắc ẩn mà nghĩ tới nỗi đau sót của con dân, thế có được không bà con?” “Ai là người gặp quan tây nào, có chăng chỉ có tổng hay ông Diệc là biết cách nói chuyện với người tây mà thôi.” “Mà sao chuyện tày đình thế này chẳng thấy họ đâu cả là thế nào. Bà Lã nãy giờ ra đình có thấy nhà cụ tổng động tĩnh gì không?” “Động giời rồi các ông các bà ạ, quan quân vây chặt nhà cụ, có cho ai ra đâu mà chả thấy ra đình.” “Ra vậy, tai bay vạ gió rồi, chả biết làng mình sẽ ra sao nữa đây.” “Kìa, ông quan tây ra nói chuyện với thầy Quyết, có vẻ thân mật lắm bà con ạ”
-Thế nào, võ sư mà cũng phải chịu trói à. Chẳng có gì ngạc nhiên phải không, các ông và cả cái đất An Nam nhỏ bé này chịu sao nổi một cái búng tay của chúng tôi, cho nên đừng có dại dột mà thi thố, vô ích.
- ....!
-Ông hãy nhìn kia, con dân làng Trằm này hiền lành và thân thiện đấy chứ, họ đang được sống trên một ốc đảo thật bình yên, ngày ngày chỉ biết con tôm con cá, cây lúa hạt gạo kiếm ăn, chẳng hiềm tị với ai, thế mà ông về đây đảo lộn đi tất cả, kích động mọi người chống đối lại nhà nước bảo hộ để rồi phải hứng chịu lấy đòn roi không đáng có, thế có phải chính các ông là người có tội không.
-Ông nhầm rồi, ông công sứ Ăng - Toan, từ khi bước chân vào làng này ông có đếm bao nhiêu đứa trẻ được manh quần tấm áo lành lặn không và ông nhìn những con người kia có thân thể nào chứng tỏ họ đã được ngày hai bữa cơm no chưa, họ không đủ ăn, không đủ mặc là do đâu, là do chúng tôi cướp đi của họ à!
-Là họ không đủ văn minh, đủ kiến thức để tìm kiếm một cuộc sống đầy đủ. Vậy chúng tôi là người có trách nhiệm đi khai sáng cho họ, ngài tri huyện đây chứng minh cho có đúng thế không.
-Này ông tri, ông là người tự nhận là người học được cái văn minh của người Pháp, vậy ông có dám chia cánh đồng thẳng cánh cò bay của nhà ông cho những người không tấc đất cắm dùi không? Hay ông lý trưởng kia, sao đứng run rẩy như con chó thế, ông có sẵn sàng chia ruộng cho trương Bân, một tên trung thành cả đời với gia nghiệp nhà ông không? Các ông không thể trả lời được câu hỏi ấy phải không. Ông công sứ có xấu hổ khi tập hợp quanh mình toàn những kẻ hèn mọn như vậy không? Tôi cũng như các ông, đến đây để tìm những người đồng lòng, đồng chí với mình, việc chưa thành để liên luỵ với bà con thì nguyện lấy cái chết để tạ tội. Trên đấu trường sẽ có người thắng kẻ thua, hôm nay tôi thua nhưng rồi ngày mai các đồng chí của tôi sẽ hạ đo ván các ông như tôi đã từng hạ đo ván ngài công sứ. Hôm ấy ngài chả xứng là đại diện cho mẫu quốc chút nào, khẩu khí đâu mà hèn hạ thế, phải quỳ gối trước tôi xin tha chết.
Những lời đanh thép của thầy Quyết khiến quan công sứ đứng chết lặng không thể phản kháng lại được. Những uất ức bị dồn nén khiến mặt quan công sứ tím bầm khác nào quả cà tím. Lúc này cần tỏ thái độ trung thành, để giải nỗi uất ức hộ quan công sứ, quan tri huyện Nghiệp gầm lên:
-Làm người không muốn, muốn làm ma!
Quan tri xô đến, dùng gót chân đạp vô hồi kỳ trận lên người thầy Quyết. Dường như chân đạp vậy chưa hả mà thầy Quyết bị trói ngồi thấp dưới tầm tay, quan tri cởi dây trói rồi túm cổ áo thầy xốc đứng dậy. Bây giờ đến lượt đôi tay ra đòn. Lòng căm giận khiến quan tri không còn nghĩ tới vết thương ở bả vai đang rỉ máu, những cú đấm thẳng cánh nhằm vào cái miệng gang miệng thép dám hạ nhục quan ngài, người sẽ đem vinh quang đến cho quan tri.
Muốn được hả lòng hạ dạ cũng không thể được, cơ thể thầy Quyết đã được tự do, sinh lực trong người đã hồi trở lại thì những cú đấm của quan tri sao có thể trúng đích, sao có thể trút giận. Hai tay ôm chặt bụng không để cho ruột xổ thêm ra, chân xoạc đứng tấn cho vững, thầy Quyết phản đòn. Đôi bàn chân di chuyển như chiếc lưỡi cày xới tung mặt đất, những đám bụi cuốn lên, những cú liên hoàn cước nhằm đầu kẻ thù dội xuống. Hai vị quan danh giá chỉ biết ôm đầu chịu đòn. Những tên lính khiếp đảm đứng như trời trồng, tròn mắt nhìn cứ như thiên tướng trên giời hạ giới. Nhưng lực đã kiệt, thầy Quyết không thể hạ gục kẻ thù.
Lòng căm giận đã biến thành uất hận, khi thầy Quyết gục xuống, quan tri cướp cây thước trên tay tên lính quyết một phen một mất một còn với con người đã dám hạ nhục quan trước bàn dân thiên hạ. Nhưng cánh tay vừa vung lên thì bả vai đau buốt dữ dội khiến cây thước tuột xuống, quan tri ôm lấy vai, một dòng máu rỉ qua kẽ tay. Thấy máu của mình đổ ra quan tri bỗng chốc trở thành con mănh thú say máu, lao lại túm áo thầy Quyết lôi ra cầu ao. Sinh khí trong con người đã trút hết xuống những đòn thù, cơ thể vị võ sư chỉ còn cái xác không hồn. Để thầy Quyết nằm cạnh bờ ao, quan tri chạy hộc tốc vào trong đình tuốt ngay lưỡi lê trên cây súng của tên lính cận vệ. Từng động tác, từng công việc rất nhanh chóng và thành thạo, quan tri đã chứng minh cho quan thầy và những kẻ tôi tớ đi theo và cả dân làng Trằm thấy rõ rằng ngài là kẻ giết người thành thạo. Quan tri kéo đầu thầy Quyết ra phía ngoài ao, lật nghiêng người thầy lại rồi một tay túm tóc tay kia nắm chặt chuôi lưỡi lê xuyên thẳng vào yết hầu đến lút cán. Người thầy Quyết khẽ oằn lên, một tia máu nhỏ rỉ ra chẩy xuống ao. Dòng máu chẩy ri rỉ khiến lòng chưa hả, quan tri mắm môi thọc sâu thêm lưỡi lê. Thọc một lần chưa hả thì hai rồi ba, rồi liên tiếp rút ra thọc vào. Bàn tay quan đẫm máu.
Đàn cá mương ngửi thấy mùi tanh nhao vào cầu ao. Nhưng có phải lần đầu tiên chúng ngửi thấy mùi máu, hay mảng nước đỏ lòm kia, hay tiếng gầm của quan khiến chúng hoảng sợ chỉ dám bơi lòng vòng ngoài xa, cái miệng hớp hớp như ngạt thở.
Đám lính kinh khiếp, không đứa nào dám đứng gần, lùi hết ra tận ngoài sân đình, bưng kín mặt không dám nhìn. Trương Bân vẫn xưng xưng cho là mình là kẻ bạo gan, đã từng hứng hàng bát của máu kẻ cướp, thế nhưng đến giờ cũng lại lộ rõ chân tướng như đã từng khoe võ nghệ trước khi thầy Quyết về làng, chúi đầu vào gốc tre nôn thốc nôn tháo. Có người thứ hai giữ được bình tĩnh trước hành động của quan tri, đó là ngài công sứ. Cuộc đời trận mạc hơn mười năm ở châu Phi rồi bẩy năm ở Đông Dương đã không ít lần gặp những cảnh thế này và thậm chí còn có phần tàn bạo hơn khiến ngài nhìn máu tuôn đổ khác nào người hoạ sĩ vụng nhỡ tay làm rơi chiếc bút lông đã nhúng màu đỏ xuống khiến bức tranh bị loang nổ. Màu sắc của chiến tranh mà. Ngài đổ lỗi tại chiến tranh chứ thực ra ngài là con chiên hết lòng thờ phụng chúa, thay mặt chúa đi gieo hạt nhân quả cho thiên hạ, ngài còn là một hoạ sĩ đam mê sắc màu. Ánh mắt mãn nguyện, nụ cười hài lòng, ngài đi lại đám con dân ngồi dụi vào nhau hoảng sợ. Ngài hãnh diện nói bằng thứ giọng xa lạ:
-Ô là là, những giọt nước mắt đáng thương làm sao, con người An Nam đáng yêu, như vậy là yếu đuối lắm, hắn ta là kẻ đáng sợ phải biết loại trừ ra khỏi cuộc sống. Ngay ngày hôm nay, rừng Vàng sẽ bị triệt hạ, người Pháp sẽ mở một con đường qua đấy để thông thương, khai phá văn minh cho vùng đất này, một hào một cây gỗ lim hạ xuống, còn một đồng cho một cây vận chuyển ra tới Cẩm Giang, làng này sẽ giầu làng Chuông, làng Đạo, cố lên!
*
*     *
ĐĨ THỊ XÔ TÊN LÍNH, CHẠY HỘC TỐC VÀO NHÀ, HỐT HOẢNG GỌI:
-Thầy ơi! Nhà con ra sao rồi mà không thấy về?
-Bình tĩnh đi con, nếu có làm sao thì đã tìm thấy rồi, phải kín miệng lại không thì người ta gây phiền phức cho. - Cụ Tổng nói nhỏ an ủi con.
-Không cần phải kín miệng nữa, chính tôi cho phép nó về bên này giải quyết việc ấy. Đêm hôm kia, thằng cu Toại giả vờ múa vài đường quyền để mọi người không để ý tới thằng Quyết, sau rồi mất tích luôn. Nó đâu? Nếu có chết trong lúc truy đuổi sao lính dòng rà xoát tận từng gốc cỏ mà không tìm thấy xác, chắc chắn là đã trốn thoát để báo cho bọn Việt Minh, có vậy thì cả nhà ông cũng phải chịu tội.
Quan tri đi vào theo sau, mặt đanh lại như cục thép nguội. Sau lúc ông anh họ ra tay hạ thầy Quyết, con dân làng Trằm nem nép sợ, lý Ngà cảm thấy vị thế của mình được nâng lên, hãnh diện cắp thước ở nách, nghênh ngáo đi cùng quan tri.
-Hạn trong ba ngày nữa, khi mà rừng Vàng bị triệt xong, gia đình phải tìm cách báo cho thằng Toại trở về, nếu không đã mang tội chứa chấp nay thêm tội có người nhà theo Việt Minh thì đừng trách tôi ăn ở không biết điều.
Mới có hai ngày mà rừng Vàng đã ngã rạp xuống, ngổn ngang những thân cây bị đốn  trơ gốc đỏ lòm như những người tử thương còn cố ngửa mặt lên nhìn giời cầu cứu. Cu Sơn leo qua những thân cây to mấy người ôm, rẽ những tùm lá phủ kín mặt đất để xác định đúng nơi đêm đã gặp cán bộ Việt Minh. Cu Sơn chỉ nhớ đó là chỗ đất lầy, có một vũng nước to độ bằng cái nong, lội ngập đầu gối nhưng cụ thể ở vị trí nào thì khi ấy trời tối quá lại vừa vội vàng vừa lo sợ nên không kịp nhận ra.
Đĩ Thị bắc loa tay hú gọi:
-Hú ... hú ... hú ba hồn bẩy vía ông Toại ở đâu thì về báo cho nhà biết, hú ... hú ... hú!
Tiếng hú của đĩ Thị không có chỗ trong không gian đầy chật tiếng chan chát của rìu búa chặt vào thân cây, tiếng hầy ạ giục lũ trâu kéo gỗ. Người đang sống chăm chú tìm đồng tiền bát gạo ở trong từng gốc cây đây, chứ lời hú kia có thảm thương mấy nào để ý làm gì. Không một cánh lưng nào uốn thẳng lên một lúc, không một khắc những múi cơ căng phồng như con trạch xẹp xuống để đáp lại tiếng hú gọi của đĩ Thị. Bước chân của đĩ Thị đuổi theo ranh giới của rừng Vàng đang lùi dần về mạn Bắc. Tiếng hú khàn khàn, khiêu khiếu khô như tiếng con vạc kêu.
-Chị đĩ ơi, đừng đi nữa! - Tiếng cu Sơn cũng đã khàn khao kháo sau bước chân của chị.
Những giọt nước mắt cu Sơn rơi lã chã. Không còn là những giọt nước mắt hờn chị như mọi khi, cu Sơn đã là người lớn, nhìn chị ngã xiêu ngã vẹo mà thương quặn ruột. “Chị đĩ ơi, đừng đi nữa!” Miệng gọi nhưng trong lòng cu Sơn mong chị đừng dừng lại. Đi nữa đi chị ơi, biết đâu tiếng gọi của chị được giời thương mà làm phép cho anh cu sống lại, nếu không thì cũng cho biết xác của anh ấy ở đâu để mang về nơi về chốn, có mồ có mả mà nằm. Những cành cây ngả ngang ngả dọc như những mũi gai đâm vào gan bàn chân buốt nhoay nhoáy, cào tướp da tướp thịt, mồ hôi rịn ra sót tê người, cu Sơn vẫn cố bươn theo kịp bước chân của chị. Hai chị em đã vào sâu trong rừng, tiếng đốn cây chỉ còn lại tiếng công cốc như tiếng cuốc kêu quanh quất đâu đây. Dây rừng quấn lấy chân kéo dúi chị em ngã sấp mặt xuống đống lá mục. Mệt mỏi khiến đầu óc u u, mê mê, da thịt cũng tê dại không còn cảm giác đau đớn, nhìn ra xung quanh như có màn sương che phủ, hai chị em bám vào cây đứng dậy, lại lết chân đi như bị người cầm tay lôi kéo. Anh cu gọi đấy chị à, cố lên đống kia có phải có tiếng người không, nghe choang choảng như là có cãi vã ấy. Anh ấy có biết to tiếng với ai bao giờ, nhưng cứ dấn lên để hỏi người ta xem. Ôi dào, người ta đâu rồi, sao bỗng dưng lại nín câm thế.
Đĩ Thị khuỵ chân ngã vào gốc cây, người thõng thượt như thân dọc mùng héo tái, tiếng hờ chồng chỉ còn khào khào tiếng rít gió. Đây là tới đâu rồi, xung quanh sao tối âm âm chỉ thấy một khối đen nhoà trước mắt, có ai đó bám vào tay mình, bàn tay ấm nóng, đĩ Thị buông tiếng hỏi theo tiếng thở dài:
-Ai thế?
-Em đây, chị sao thế, không nhìn thấy gì à?
-Cu Sơn, chị mệt quá! Có thấy anh ấy không?
-Về thôi chị ơi, trời sắp tối rồi, không ra khỏi rừng được đâu! Anh ấy còn sống chắc phải đi xa lắm, nếu có chết cũng chẳng tới chỗ này đâu, về thôi, xem ở nhà tìm thế nào, chứ chị em mình đi nữa cũng không tìm thấy đâu! Về đi, còn cu Lạc ở nhà nữa mà chị.
-Anh ấy chết rồi!
-Chị...!
Không tin chị sao. Từ cái đêm nhìn vào ánh mắt thất thần, vô vọng của anh ấy, linh cảm không hay dần quấn thít lấy mình, chị nhào lại ghì xiết, thậm chí còn cào cấu vào lưng anh, một phần là chuyện chị đã trở thành người đàn bà trong niềm hoan lạc tột cùng, một phần là như anh ấy đang dần tuột khỏi vòng tay của mình chị phải gắng sức níu giữ lại. Đĩ Thị nấc nghẹn trong tiếng u ử khóc chồng.
-Chị ơi! Chị khóc đấy à?
Cu Sơn ngước nhìn vào mắt chị, chờ đợi được thấy những dòng nước mắt đau thương trào ra. Nhưng bên khoé mắt của chị chỉ có hai giọt long lanh như hai giọt keo, trong vắt như nhựa chuối. Chị ơi, em hỏi thầy sao người già khóc không có nước mắt, thầy bảo người già khóc trong lòng nên nước mắt chảy ngược vào trong, chị đã già bằng bà Tắc, bà Đúc đâu mà nước mắt đã chảy ngược vào trong. Cuộc đời chị rồi sẽ khổ, ngày mới lấy anh cu thầy nói với em thế. Vậy là đúng rồi. Không biết sau này thế nào, mong cho đừng xảy ra chuyện đau lòng nữa.
-Chị em mình đi đến đâu rồi? Đống này là đống nào nhỉ, không khéo lạc sang Bắc Ninh?
- Trời tối quá, hình như chưa ra khỏi rừng Vàng chị à, cây cối ngổn ngang chẳng nhận ra là đâu.
Đĩ Thị cắm cúi đi, lặng lẽ.
-Em nhận ra rồi, đây là Tổ Hùm, mả cụ tổ mình kia kìa. - Cu Sơn kéo chị đi lại chỉ cho chị ngôi mộ tổ.
-Có phải không, chị chưa ra thăm lần nào? Nhưng lùm lùm đống đất thế này liệu có phải mả cụ tổ nhà mình không nhỉ, trời tối thế này sao cậu nhận ra?
-Thầy mới dẫn em ra đây, không lầm được, cây sung kia thì em nhớ rõ. Thầy còn chỉ cho em từng chữ trên gia phả đằng nhà bác trưởng Kiệm, mả quay hướng tây bắc, đầu gối gò Sung, chân phải gác lên đụn khoai, chân trái duỗi thẳng về sông Vàng, chị nhìn xem có đúng thế không nào. - Cu Sơn đứng thần người, giọng run run: - Các cụ nhà mình muốn cụ tổ được nghỉ ngơi thảnh thơi, con cháu về sau mới an nhàn đấy mà. Thế mà em thấy nhà mình đã được an nhàn lúc nào đâu chị nhỉ.
-Dạo này chị thấy cậu người lớn quá, cũng lại khổ như chị mất thôi. Chị em mình vái cụ rồi về đi kẻo khuya quá ở nhà mong.
-Chị đã đỡ mệt chưa?
-Từ sáng tới giờ chị em mình chưa ăn gì mà chị chẳng thấy đói, chỉ sợ cậu không đi nổi, để chị cõng một đoạn.
Sắp sửa mười bốn tuổi, như cu Được con nhà Sinh đã có vợ rồi, thế mà chị cứ làm như còn bé lắm mà bảo cõng, cu Sơn dỗi chị vùng vằng vượt lên trước. Chị đĩ tấp tểnh chạy theo cho kịp em. Mảnh trăng bị tước mỏng như chiếc nan tre cài vào bờ cây đầu làng Trằm, ánh sáng đỏ như vết máu bầm không làm cho đêm đen rạng lên được chút nào. Lần thứ hai cu Sơn đi đêm trên cánh đồng. Lần trước cắm đầu cắm cổ chạy, thêm nỗi lo sợ nên đêm với cu Sơn là một khối đen nặng nề, chứa đầy những mối nguy hiểm chực đổ chụp xuống đè nát con người, không biết đường nào mà tránh. Đêm hôm nay, cái đói đã phát hiện ra mục tiêu, bắt đầu trỗi dậy tìm cách vặn xoắn từng khớp xương, níu bước chân của hai chị em chùng xuống, rã rời. Cu Sơn dừng lại cố hít thở thật sâu, muốn dồn khí vào sâu trong người để lấy thêm sinh lực. Nhưng bóng đêm nặng trình trịch đã vo viên cu Sơn lại, đến những luồng khí cũng không thể hoà tan được vào cơ thể đã dồn ứ lại ở cổ nghèn nghẹn. Há miệng hớp sâu một bụm không khí, cu Sơn thấy hoa mắt, đưa hai tay lên bưng mặt. Da mặt lạnh băng. Cu Sơn thấy cơ thể mình nhẹ lâng lâng như làn khói, tan loãng vào đêm. Bóng đêm như bãi vắng rộng mênh mông và phẳng lặng, chỉ một mình cu Sơn ở đó, chơ vơ, không biết phương hướng nào mà đi. Mà sao cứ nhấc chân bước đi lại bị trượt ngã, cu Sơn đành bất lực đứng yên nhìn xung quanh. Nhưng sao muốn nhìn mà cũng chẳng nhìn thấy gì, trước mắt chỉ thấy mờ mịt như có mành sương giăng phía trước. Tiếng váy của chị đĩ quyệt lật phật vào đám cỏ may, tiếng bước chân lệt sệt trượt trên mặt đất dội vào tai như gió phất cu Sơn giật mình bừng tỉnh. Nuốt khan miếng nước bọt, cu Sơn hỏi chị:
-Đến đâu rồi chị?
-Đến cầu mương ông Lãm. Nghỉ tí đã, chị theo em đứt hơi mới kịp.
-Em có đi đâu, vẫn đứng chờ chị, sao chị đi lâu thế.
-Cậu làm sao thế, đi phăm phăm mà bảo không đi, để chị không theo kịp.
Những dải sương mù xuất hiện như kéo ánh sáng từ dưới lòng đất trồi lên. Con đường về làng nhờ nhờ trắng như vết nứt của đêm rạn ra. Tiếng chó sủa hú hú, man dại. Hai chị em ngồi tựa lưng vào cây cột tre đầu cầu, cố nén tiếng thở dài mệt mỏi không để cho nhau nhận ra. Đau thương trong lòng bị cái đói, cái mệt dìm xuống, lại được bóng đêm trùm lên che kín, trước mắt chỉ thấy mông lung con người trở nên cô độc để cho chính mình lại vật lộn với mình, giẫy giụa để sống. Hơn ba năm chung sống với nhau, chưa một lần đĩ Thị nghe được một lời to tiếng của chồng, những lúc bực tức lắm cũng chỉ thấy mắm môi thở dài. Số phận sao xe kết hai con người có cách hành sử với đời giống nhau là nguyên cớ gì? Bọn trai đinh trong làng chả giấu giếm ý nghĩ thèm muốn đứa con gái xinh xắn, chúng khoe đã nhìn thấy đầu vú như trái xoan chín đỏ qua khoảng hở cổ yếm mà có lần nào đó đĩ Thị vô tình để trễ, thấy bắp chân thon, nuột như ngó sen ao đình bóc nõn mà có lần sơ ý đĩ Thị rửa chân kéo váy quá đầu gối, có đứa tụt hẳn quần xuống hãnh diện khoe vết sẹo ở mông là do con Mực nhà cụ tổng đớp bởi không thể chịu được khi nghe thấy tiếng dội nước, bóng đĩ Thị đang tắm thấp thoáng sau bờ liếp. Nhưng thử hỏi, có đứa nào dám buông lấy một câu bóng gió, tình ý với đĩ Thị chưa. “Thế nào ấy, đến gần nó thấy mình run hơn là phải gặp quan lớn chốn công đường.” “Khoác, đời mày mấy lần ra khỏi cái làng Trằm này mà đã nói được gặp quan.” Những câu chuyện như vậy đĩ Thị được nghe cả, lúc này tự dưng hiện về mồn một, rõ cả tiếng cười nhạt nhẽo của lý Ngà khấp khểnh nhẩy quanh đâu đây, rõ cả ánh mắt lấm lét nhìn ngang của cu Rạng như con rết loằng ngoằng bò trong đêm. Rồi mọi ý nghĩ bất chợt ấy như những lạch nước cuối cùng cũng dồn về một chỗ, đó là hình bóng chồng. Nói là đĩ Thị lấy chồng theo sự sắp đặt của thầy cũng phải, bởi có ai được biết trong lòng đĩ Thị nghĩ về ai, biết được ánh mắt của đĩ Thị dành cho ai. Cho đến bây giờ, trong bóng đêm mờ nhạt ánh trăng, cu Sơn mới là người thứ hai được biết. Đĩ Thị nói trong tiếng thở dài:
-Cậu Sơn có quý anh Toại nhà chị không, chị hỏi là từ ngày anh ấy chưa lấy chị ấy?
-Anh ấy cũng như chị, chẳng ai dám gần, nhất là bọn trẻ con, em cũng chẳng biết nữa. Còn sau này chị cũng biết rồi còn gì, nhiều hôm sang chơi rồi ngủ luôn bên ấy, anh ấy còn gần gũi hơn cả anh Dạ.
-Ừ thì chị hỏi vậy cho đỡ nhớ. Anh ấy nhút nhát lắm. Cái năm lễ đình trước khi cưới ấy, lúc đứng xem các cụ chuẩn bị vào lễ, tiếng trống hôm ấy không biết ai gõ mà có lang có lớp thế, lúc thì dồn đến nghẹt thở, lúc thì thong thả như ngồi rồi ngắm ao đình xanh biêng biếc, tiếng khua tang như tiếng sừng trâu đánh gióng, ấm lòng người nghe. Đời người mấy ai có một lần nghe được tiếng trống như thế. Ngài, thành hoàng làng, Uy Vũ Đại Vương ban cho chị đấy. Chị nén tiếng thở sâu và ngay khi ấy cảm giác có một ánh mắt đang chăm chú nhìn mình từ phía sau. Chị quay lại. Anh ấy đỏ mặt, lúng túng quay nhìn ra nơi khác. Không ít những ánh mắt nhìn vào mình nhưng toàn những ánh mắt bặm trợn, đầy thèm muốn thấp hèn thôi em ạ. Chỉ có ánh mắt của anh ấy chị thấy ấm áp, thân tình. Và cũng chỉ có anh ấy là người dám nói với chị sau ánh mắt nhìn. Anh ấy nói: “Năm nào tôi cũng thấy cô đứng đúng chỗ này khi các cụ hành lễ”. Vậy a, chỉ cần anh ấy nói một câu bất kì với chị cũng đã hơn hẳn đám trai đinh khác, đằng này anh ấy nói vậy có khác nào Ngài đã xe duyên cho chị. Nào đâu có phải là sự sắp đặt của thầy, phải không em.
Màn sương như mảnh khăn trắng chụp xuống bưng kín trần gian. Hai chị em thấy mình trôi bồng bềnh trong dòng sông ánh bạc, những giọt nước mơn man lùa vào tận chân tóc, buồn buồn. Cu Sơn gục đầu vào lòng chị, tận hưởng cảm giác được lạc vào vùng tiên cảnh, giống như câu chuyện chàng nho sinh nghèo khổ gặp người tiên được lên tiên giới, thanh thản và tan loãng bởi những đắm say cảnh đẹp mà dưới trần ai không có. Kia rồi, anh cu Toại đứng từ rất xa, lặng lẽ ngắm nhìn hai chị em, mặt ánh lên những nét hồng của cảm giác thẹn thùng giống như lần nhìn trộm đĩ Thị từ phía sau bị bắt quả tang thuở nào. Hay đó là chàng nho sinh Từ Thức đang trên đường tới đất tiên. Hình bóng cứ mờ mở, ảo ảo trong màn sương. Người ấy lướt nhẹ, chao đảo như bị làn gió thổi nhẹ. Đất trời nồng nàn mùi hương hoa bưởi. Nghĩ tới mùi hoa bưởi mới nhớ tới cây cam thầy Quyết mang về trồng ở đầu sân, đã hơn hai năm, thế mà cu Sơn chẳng để ý xem nó đã đơm hoa vụ nào nói chi thấy hương hoa của nó có giống hương hoa của cây bưởi đầu ngõ. Thầy Quyết bảo giống cam này ngọt lắm, chỉ ở mạn Bắc Quang mới có. Cu Sơn ngồi dậy. Sương mù đang tan dần, những vệt đen hiện dần lên.
-Chỗ thầy Quyết bắn nhau với lính dõng chỗ nào, cậu có biết không? - Đĩ Thị bất chợt hỏi.
-Kia kìa, chỗ này cũng nhìn thấy kia, quan tri nghi ngờ anh cu chết chỗ ấy nên sai lính quần nát tinh từng ngọn cỏ, sụt hết cả một đoạn bờ, chỗ đỏ đỏ kia kìa!
-Chị em mình ra đấy đắp cái mộ giả, có thế chị mới yên lòng về được em à.
Sương mù đã tan. Mảnh trăng mỏng như chiếc lạt đã treo lên giữa trời. Ánh sáng không đủ tỏ khiến cho đĩ Thị phải lần mò tìm đón những vốc bùn cu Sơn đưa lên. Tiếng  nước khua bong bõng như thứ hồ nhão nhỏ giọt. Đắp xong ngôi mộ giả lùm lùm bằng cái thúng, hai chị em dùng bàn tay vuột mặt cho thật nhẵn. Khoát nước rửa tay chân cho sạch, hai chị em quỳ xuống, chắp tay vái, miệng khấn vong linh anh cu Toại quanh quẩn đâu đây thì về nằm nghỉ. Trước mắt như bị màn sương giăng kín như khi nãy, khua tay lần đứng dậy, hỏi em:
-Sương sao lại xuống nhiều thế, cậu?
-Có sương đâu chị, trời trong lắm.
-Chết thật cậu ạ, mắt chị sao cứ dinh dính, kéo màng kéo kén ấy, dắt chị đi với, nhìn chả rõ gì cả! Mà hình như có tiếng chân người đang tới, có phải không cậu?
-Để em nhìn kỹ xem nào. Đúng rồi, có mấy người, đi nhanh lắm.
Toán người nhận ra hai chị em, dừng lại hỏi:
-Có phải cu Sơn với đĩ Thị đấy không?
-Em đây! Bác Diệc à!
-Cả nhà lo quá, hai chị em có sao không, đi tìm khắp không thấy đâu. Thế hai chị em đi những đâu? Cô Thị làm sao mà khùa tay thế?
-Làm sao em chả nhìn rõ cái gì cả.
-Chết thật, không khéo bị loà thì khổ, về nhanh đi.
-Có những bác nào đấy? Các bác đi tìm em à?
-Ừ. Nhân tiện rẽ xuống đây, tôi nghi bác Quyết giấu xác chú Toại ở đống này, mà sao bọn lính khuấy đảo, đào bới sụt cả bờ mà không thấy là thế nào! Phải tìm bằng được xác chú ấy, tìm cách mà giấu đi, không rồi như bác Quyết thì khổ!
-Thằng quan công sứ tròng thừng vào cổ bác Quyết rồi cho ngựa kéo lê về huyện, mới tới Đồng Trung mà dóc không còn mảnh thịt nào. Kinh khủng quá! Chúng doạ, nếu tìm được chú Toại cũng làm thế.
-Chú Dĩnh đưa chị em cô Thị về trước đi, chúng tôi tìm lại xem sao, may ra vong hồn của chú ấy hiểu ra mà nổi lên chăng. Đưa sang nhà chú nghỉ tạm.
-Sao lại sang đấy, bác cả?
-Nhà mình, cả nhà chú Toại chúng đốt cháy sạch rồi!
*
*     *
NHỮNG SỢI MƯA NHƯ NHỮNG CÂY ROI DÀI VÔ TẬN, THẬT MỀM MẠI TRONG TAY ông giời. Nhưng cũng thật ác nghiệt bởi ông đang có nỗi tức giận, phải quật vung vãi để hành hạ trần gian cho hả. Vi vút, rào rạo, ùng ục, đất trời cuộn sôi lên những âm thanh của gió rít, của mưa quất, của cây cối vật vã. Chiếc áo tơi mưa tết bằng rơm trên người Sơn cùng chung tình cảnh như mọi vật khác đang hiện hữu trên cánh đồng, tướp tơ, sũng nước và không còn giữ được nguyên dạng mà ông giời đã cố công nhào nặn nên. Ngẩng đầu lên thì ngay lập tức mưa quật vào mặt đau rát như cào như cấu, cu Sơn phải cúi rạp mình, nhoài người xé mành mưa, rẽ mặt nước hối hả bước đi thật nhanh. Chiếc nón lá bị gió giật ra khỏi đầu tung ra giữa sông Vàng. Xoáy nước cuộn cuộn như sợi dây thừng kéo thít chiếc nón bẹp dúm lại rồi nhấn chìm xuống lòng sâu. Nước chẩy tràn trên mặt vuột không kịp, đành nhắm mắt mà đi. Nước ngập tới đầu gối có nhìn cũng chẳng thấy đường, nhưng khắp cánh Phệ, từ cái rãnh nhỏ qua đường nhắm mắt lại anh cu cũng biết chính xác ở vị trí nào. Nền trời bàng bạc, sẽ còn mưa lâu. Chả biết cái năm anh cu sinh ra có mưa to thế này, cứ hình dung theo lời thầy, lời chị đĩ Thị thì có lẽ không thể bằng. Nhưng năm ấy chắc lụt phải to hơn, ngập tới sân đình cơ mà, cánh Phệ khi ấy phải ngập đầu người cho nên cây lim làm cột đình to tới hai người ôm mới trôi băng băng được, anh cu Sức bơi giỏi như giái cá vậy mà không thể vượt qua để kiếm ít lá ngải cứu, nhọ nồi cầm máu cho u.
Ông trời đã mỏi mệt, những sợi roi mưa được buông lỏng, nhẹ nhàng vung vãi từng hạt nước xuống trần gian. Nhưng đừng tưởng vậy là ông trời đã buông tha, tiếng thở của ông khào khào trong tiếng gió rít qua bờ tre, những tiếng mắc nghẹn trong họng giận dữ, đầy đe doạ. Anh cu dừng chân, hít một hơi thật sâu rồi thở ra thật dài để tống khứ hết những ưu phiền trong lòng. Về đến nhà phải vui lên, đừng có để điều gì u uất trong lòng, thầy hay nhắc anh cu như vậy.
Nhưng có muốn vui lên cũng không được. Từ ngày bị bọn tri huyện Nghiệp đốt sạch nhà cửa, cụ tổng dựng cho mình gian nhà nhỏ, chỉ vừa đủ kê chiếc chõng tre và chiếc thồi để ngồi uống nước. Gian bếp vừa một người ngồi thổi nấu và xếp đủ gánh rơm. Cái niêu cơm chỉ bằng vốc tay, cái bát không nhỉnh hơn cái chén tống là bao, cái siêu đồng và bộ ấm trà hạt mít của người bạn ở Bát Tràng tặng là vật bất ly thân, tất cả vật dụng cuối đời cụ chỉ có bằng từng ấy. Ngày hai bữa, bóng cụ ngả nghiêng bên ánh lửa bếp ai mà không mủi lòng, nói gì đến cu Sơn. Mưa gió thế này không biết ngôi nhà có chịu nổi, không biết thầy có lên nhà trên? Đã mấy lần bảo thầy lên nhà trên ở với bác Diệc mà nhất định không nghe, lại còn gắt gỏng rằng không có việc hệ trọng thì đừng đứa nào tự tiện mở cổng mà vào. Cánh cổng rấp bằng búi tre rong chẳng mấy khi được dỡ ra. Giờ không biết có việc gì hệ trọng mà thầy cho người tìm anh cu về gấp. Chẳng nhẽ là việc xấu đến sức khoẻ của thầy.
- Thầy ơi, con về rồi! - Chưa về tới cổng cu Sơn đã gọi thầy.
Như mọi lần, trước khi vạch những cành tre rong rào cổng, anh cu cũng phải lên tiếng gọi thầy trước. Nhưng lần này, có nhẽ vừa thấy bóng cu Sơn ngoài cổng cụ tổng đã tất tả chạy ra, không mê nón che đầu.
- Thầy, mưa gió thế này thầy ra ngoài cảm lạnh thì khổ!
Anh cu vội vàng bước đạp lên những cành gai nhọn, chạy vào đỡ thầy.
- Vào nhà đi thầy. Có việc gì hệ trọng mà thầy gọi con về gấp thế?
Chắc không phải vì chuyện sức khoẻ của thầy rồi, cũng mừng. Nhưng thầy là người hành xử kín đáo chứ đâu vội vàng, nét mặt lại thất thần thế kia. Chuyện chắc nghiêm trọng. Vào trong nhà, cụ tổng lấy khăn khô trên sào phơi, tự tay lau người cho con. Anh cu ngồi xuống chõng để cho thầy vò chiếc khăn vào mái tóc của mình. Thầy đã kìm được cảm xúc khi nãy, lại chăm chút tỉ mỉ cơ thể con mình như những ngày vui vẻ trước đây. Nhưng lần này anh cu thấy bàn tay của thầy có khác biệt hơn, nhất là khi vuốt xuống má bàn tay ấy run run, xúc động.
- Thầy, có việc gì thầy nói luôn đi, con phải sang Chuông họp bây giờ.
- Hoãn lại con ạ, mưa gió thế này ai muốn ra khỏi mái ấm nhà mình. Nước thầy đun rồi, pha ấm trà mà uống cho đỡ lạnh.
Mưa gió thế này thì cuộc họp càng giữ được bí mật, nhưng thầy nói thế là nhất quyết có việc hệ trọng rồi, cũng không thể đi ngay được. Như mọi lần pha trà cho thầy, cu Sơn cẩn thận tráng ấm thật sạch, ngâm vào nước nóng già để chờ đến khi nào sờ vào lớp men nóng giẫy tay mới bỏ ra. Cụ tổng giục:
- Hôm nay không phải cầu kỳ thế nữa, pha luôn uống cho ấm người, thầy có vài nhời để con còn đi, lỗi hẹn là không được.
Cụ tổng chiêu một bụm trà, đặt chén xuống, chậm rãi nói, ánh mắt mờ như mành mưa che phủ:
- Con đã biết chuyện thằng cháu Sông chưa? Tháng nay con đi xa chắc không biết, buồn lắm con à. Ngày xưa nó ăn cắp áo của quan tri Nghiệp đã thấy buồn nẫu ruột, cả nhà đã phải chịu hậu hoạ, ấy vậy mà bây giờ nó lại ăn cắp tiền của nhà thầy Quyết! Khổ chưa! Người ta là ân nhân, người ta đã cưu mang u con nó, có người ta thì u con nó mới có cửa hàng cửa hiệu ở ngay đất kinh kỳ như thế. Thế mà u nó đầu tắt mặt tối kiếm không đủ tiền cho nó ăn chơi. Chẳng biết cái nghiệt chướng nào rơi vào nhà mình thế! Phải nhà người khác thì người ta đã bắt giải quan, có nhục không. Nhưng có khi được như thế lại tốt, nó mới trắng mắt ra, mới ngộ ra việc của mình làm là thế nào.
Nghe những nhời thầy nói, cu Sơn cũng chết lặng người. Nhà này có ai thế bao giờ, bỗng dưng mọc ra một đứa đổ đốn.
- Nó được như con, như thằng cháu Thư thì thầy mừng. Nó về mấy hôm rồi, chẳng biết mưa gió thế này có ở nhà trên hay lại sang bên nhà trương Bân đánh tổ tôm. Sang đấy lắm rồi lại hỏng hơn thôi. Thầy gọi con về trước hết là việc ấy. Nhà mất rồi, gây dựng lại cũng chưa thể bằng như cũ nhưng cũng chẳng phải nhà xiêu vách nát gì. Thầy ở đây, nhiều lúc anh cả vùng vằng, thế làm xấu mặt cả họ. Thầy biết con không bao giờ nghĩ thế. Đời người là thế con à, khi trẻ ai cũng thích vêng vang mình hơn người, đến khi già rồi chỉ muốn vo tròn như con sâu trong kén để quên nhân tình. Còn trẻ cứ nhìn thấy đằng nhà lý thầy cũng ấm ách nhưng đến giờ thấy việc đó là phi lý. Cái làng nhỏ hon hon thế này, sao không sớm lửa tối đèn có nhau, lại gây thù chuốc oán làm gì. Chuyện nhà ấy phá tán nhà mình thầy uất lắm nhưng biết sao được, thôi thì bây giờ mang cừu gây oán làm gì. Thầy nói thế là không phải con đường của con bây giờ đang dấn chân vào. Đây là thầy nói về tư tưởng của thầy. Càng ngày thầy càng ngẫm nhiều về  Lão Tử. “Đạo sinh ra vạn vật. Đức làm cho vạn vật tốt tươi” Đạo là của giời, còn ta thực hành cái đức để cho đời tốt tươi. Lấy cái đức mà cảm hoá cháu mình, con ạ. Anh trưởng từ khi có thằng Sông thì hình như không vui, thờ ơ với cả u con nó. Thế là không được. Anh hai Dạ thì cũng nhu nhược lắm, tính tình lại mọn, thầy chả mong.
Ngoài giời mưa lại trút xuống ràn rạt. Cụ tổng chiêu một bụm trà. Giọng trở nên trầm ngâm hơn:
- Còn việc này nữa, ý nguyện của thầy nhưng con thấy được thì nghe theo, nếu còn bận công bận việc chưa muốn thì thôi, thầy không ép. Việc trước hết, thầy muốn con lấy vợ. Có cái đĩ Xoan con cụ bá bên Miễu, thầy có nhời dạm rồi, xem chừng đồng ý. Cũng mỏng mày hay hạt nhưng cái tướng nó rồi sẽ vất vả. Thầy quý nó là nó biết thương người, biết lo công lo việc. Mà nhà ta cần người như thế. Việc nữa là con sẽ xây lại gian nhà này cho chị con. Thầy biết tính chị con, nó sẽ không đi bước nữa. Con xây nho nhỏ thôi, tâm tính chị con thích được ở như thầy thế này. Khi nào con khởi công được thì thầy sẽ đưa tiền cho. Cũng may, trước lúc nhà bị đốt, thầy đã giắt lưng ít tiền, định mang ra Hà Nội lo cho mẹ con nhà thầy Quyết. Mẹ con nhà thầy Quyết tốt lắm, biết gia cảnh nhà ta nên một mực từ chối, lại bắt thầy phải nhận thêm ít vàng để sửa xang nhà mình. Thế là bao đời nay, các cụ nhà ta mới gầy dựng được cơ ngơi, bỗng chốc tan bọt nước tất cả! Nay anh em con lại phải bắt đầu từ đầu, thầy hy vọng ở con. Mong sao đừng để cho nhà tan con ạ!


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét