PHẦN 4
DÒNG SÔNG
CHỞ KIẾP
NHỮNG CÁNH HOA MUA TRỞ NÊN NHÀU NHĨ, TÍM
TÁI HƠN DƯỚI BÓNG CHIỀU. Bóng tối đang ẩn nấp sau tán lá khiến những cây mua
như được cuộn tròn mình lại, chẳng khác gì một đàn gà đã lên chuồng xếp cánh gà
gật ngủ. Sơn bần thần, đi xuống tới lưng chừng rồi lại leo lên không biết bao
lần trên quả đồi sau doanh trại. Cảnh đoàn viên với gai đình của các đồng đội
khiến Sơn mủi lòng. Những cánh hoa mua bị vò nát, tím thâm bàn tay. Tiếng kẻng
báo giờ cơm chiều rộn rã, khua tan không gian tĩnh lặng trong giây lát. Chờ khi
nào bóng tối sụp xuống Sơn mới trở về, một mình ăn cơm rồi lặng lẽ lên giường
cố dìm mình vào giấc ngủ.
Khi tiếng reo: “Đất liền kia rồi!” của ai
đó hét lên, tất cả mọi người đều bật dậy nhao lên mũi tầu. Mọi ánh mắt nhìn
miết về một vệt xam xám như sợi chỉ căng ngăng mặt biển phía trước, háo hức chờ
đợi. Vệt màu xám dần dần vồng lên trông như chiếc lá chuyển sang màu đen sẫm. “Đúng
là đất liền! Ngày xưa tôi ra biển nhiều rồi sao chưa lần nào lại để ý tới đất
liền hình thù thế nào khi quay trở về cơ chứ!” - Một người đứng sau Sơn cố
kiễng chân để nhìn cho rõ, hậm hực nói. Bầu trời sau cơn mưa trở nên trong
suốt. Những con sóng vỗ lách chách hai bên mạn tầu. Mọi người nghe thấy hơi thở
dồn dập của nhau. “Có phải hàng cây kia không? Đúng là hàng cây rồi!” “Bác lái
tầu ơi, có phải sắp vào tới bờ rồi phải không?” “Nửa tiếng nữa là tới Sầm Sơn”
Một tiếng reo vang lên, cầm nhịp cho gần
hai trăm chiến sĩ tù binh Côn Đảo trở về trên ba con tầu đang hướng mũi về đất
liền đồng thanh reo lên như tiếng sấm rền loang trên mặt biển. Tất cả đồng loạt
cởi hết quần áo, khuân những hòm nhu yếu phẩm được phát của quân đội Pháp ném hết
xuống biển.
Mới chỉ nhìn thấy đất liền thôi đã có
người xúc động đến quỵ ngã. Thế là những ngày chờ đợi đến cạn kiệt, mong mỏi
đến cháy lòng, ngày được trở về với quê mẹ đã trở thành hiện thực. Bước chân
xuống bãi cát nóng bỏng của bờ biển Sầm Sơn, Sơn bần thần ngóng đợi, một ánh
mắt thân quen, một tiếng gọi tên mình Sơn sẽ nhào đến để trút những giọt nước
mắt đang ầnh ậng dâng lên. Biết điều đó là vô vọng nhưng Sơn vẫn cứ ngong ngóng
chờ đợi. Mặc bộ quần áo mới, được đi dưới rừng cờ và hoa của những người đến
đón chào, Sơn cố hoà mình vào niềm vui chung của mọi người nhưng mỗi khi bắt
gặp những cái ôm thân tình, những lời hỏi thăm cởi mở của những người nhà ra
đón lại khiến Sơn chạnh lòng. Sơn tủi thân, ngày mới bị bắt, chỉ cách nhà có
vài cây số đã chẳng được ai một lần hỏi thăm, chắc ngày trở về sẽ chẳng ai màng
tới.
Học xong khoá chỉnh huấn của quân khu Tả
Ngạn, trước khi phân công công tác mới, đơn vị cho nghỉ phép một tháng về thăm
gia đình. Mấy ngày được nghỉ ngơi cho nên ngày nào mọi người cũng rủ nhau ra
con dốc cổng doanh trại, hướng ánh mắt về phía xa ngóng chờ bóng những chiếc xe
ô tô chạy ngang qua, phỏng đoán xem chiếc nào sẽ rẽ vào đón mình. Còn Sơn, một
mình lủi thủi bên vạt rừng nhặt nhạnh những cành củi khô, chờ tới giờ tiếng
kẻng cơm dóng lên mới lững thững trở về. Sơn lặng lẽ ném bó củi cho nhà bếp,
rửa chân tay rồi bưng khẩu phần của mình ra góc nhà lặng lẽ ăn. Cho đến buổi
trưa ấy, mặt trời đã ngả sang phía tây nhưng không có tiếng kẻng báo nào vang
lên, Sơn biết thế là đơn vị chỉ còn mình Sơn. Nỗi cô đơn quặn thắt trong lòng,
đau đớn, Sơn ôm lấy một gốc cây cho khỏi khuỵ ngã. Nhưng nỗi cô đơn kéo tuột
Sơn vào trạng thái bồng bềnh, giống như cái ngày chạy về với cha. Trắng băng
màn nước, Sơn chồi chụt, ngoi ngóp như con nhái, cố bươn về phía trước nơi có
chỗ để bấu víu cho sự sinh tồn. Sự hiện hữu của mái nhà, giọng nói ấm áp của
cha, ngọn lửa nhen lên trên bếp, tiếng nồi cơm lục bục sôi, những cái đó sẽ
khiến Sơn thoát khỏi cô đơn, nhưng khi ấy chỉ có màu trắng đục, lạnh lẽo và
tiếng ào ạt của mưa gió dìm Sơn vào vô vọng. Sơn cố vùng vẫy để giải thoát ra
khỏi sự cô đơn. Nhưng chỉ chững bước chân lại, mở mắt ra thấy mênh mông, trống
trải của cánh đồng nước thì nỗi cô đơn lại dìm Sơn xuống. Giờ đây, những dãy
nhà lợp lá cọ như nằm ệp xuống trước sự trống vắng của sân doanh trại, màu xanh
ngằn ngặt của núi rừng tràn ra xoà kín khắp trần gian. Mênh mông màu xanh. Màu
xanh loang chảy như thứ keo dấp dính bọc kín Sơn lại trong tê tái. Những đám
mây trôi qua, bóng nắng chạy như trận đồ bát quái bủa vây, thách thức Sơn phải
vượt qua. Vượt qua sao được khi không còn cái đích để mình cố bươn lên mà bấu
víu. Cái đích ấy chẳng nhẽ chỉ là nấm đất nhỏ nhoi đắp lên người cha mà trong
suốt từng ấy năm xa quê Sơn canh cánh một lần gặp lại để quỳ xuống tạ lỗi! Nấm
đất ấy bây giờ cũng bị màu xanh u minh của núi rừng xoá nhoà trong trí não,
không một hình ảnh nào hiện hữu thành đường nét cụ thể, cô đơn đã khiến Sơn
trống rỗng và vô hồn.
Những người trả phép lần lượt lên đơn vị.
Người ta hỏi thăm nhau chuyện gia đình, chuyện làng xóm, cả những chuyện tai
nghe mắt thấy dọc đường. Có những niềm vui tột cùng và cũng không ít những giọt
nước mắt đau thương. Nhưng cõi lòng con người được chia sẻ cùng nhau sẽ bớt cô
đơn. Đâu phải như Sơn, biết được chia sẻ điều gì hay để rồi cô đơn lại thêm
chồng chất cô đơn.
Bóng tối như con rắn trườn ra từ trong
mạch đất, nhẹ nhàng quấn níu bước chân Sơn ở lại cùng với cô độc của rừng thẳm.
Nhưng bất ngờ những đốm lửa nhỏ nhoi được nhen
bùng lên, tiếng cười nói, tiếng lịch kịch của đồ vật va chạm vào nhau từ
phía doanh trại dội ra tạo nên sức hút ma lực của sự hiện hữu cuộc đời kéo Sơn
về với những khát khao. Hãy bươn lên để sống, hãy vạch lá tìm đường để thoát ra
khỏi đại ngàn, sẽ thấy con đường để mình đi tiếp, đó là những ý nghĩ tự động
viên mình mấy ngày hôm nay của Sơn. Hôm nay là ngày trả phép cuối cùng, những
gian nhà chật kín người, tiếng cười nói tưng bừng, đến tiếng chào hứng khởi của
ai đó chạy ngang qua Sơn cũng vội vàng. Sơn thở dài trút bớt ưu phiền trong
lòng. Tiếng lách chách rộn ràng của dòng nước như mời gọi, Sơn rẽ vào mó nước,
dầm mình trong làn hơi lạnh mơn man.
- Sao lại dửng dưng thế hả Sơn!?
Anh Thịnh là người cùng buồng giam ở Côn
Đảo đi ngang qua, hỏi có ý trách móc.
- Dửng dưng chuyện gì hả anh? - Sơn không
hiểu ý anh Thịnh, hỏi lại.
- Người nhà lặn lội lên thăm từ chiều mà
chú vẫn còn ngồi bì bạch ở đây là thế nào.
- Người nhà ai ạ!?
Thay vì nhận được câu trả lời của anh
Thịnh, Sơn giật mình bởi tiếng đàn bà hờ khóc gọi mình:
- Sơn ơi! Chị nghe thấy tiếng em rồi, em
ở đâu!?
Bác Sông! Sao lại có chuyện bất ngờ thế
này. Sơn quýnh quáng mặc vội quần áo, luống cuống đến nỗi lộn ngược lộn xuôi
không xỏ được tay vào áo. Bà Sông nhào tới túm tay em lôi tuồn tuột về phòng.
Sơn níu tay chị lại như đứa trẻ hờn dỗi, vùng vằng:
- Chị ơi, chờ em mặc quần áo xong đã!
Thịnh phải bật cười vì hành động của hai
chị em:
- Thì bác để chú ấy mặc xong quần áo đã
nào, tôi chưa thấy chị em nhà nào lại mừng vui như chị em bác, ấy vậy mà chú ấy
cứ buồn suốt mấy tháng nay.
Bà Thư với đĩ Xoan cũng chạy xúm lại kéo
Sơn. Bà Thư chì chiết:
- Cậu thật không biết điều, đi vào nhà
rồi tôi bảo!
- Thì để em mặc quần áo xong đã nào!
- Đi về thay bộ quần áo mới, quần áo hôi
rình thế này mà cứ để mặc à!
Khoác bộ quần áo còn thơm mùi hồ, hơi vải
ấm sực nhưng Sơn vẫn cảm thấy hơi lạnh bò tê khắp da thịt, người run lên bần
bật như phải cơn sốt rét. Sơn so ro ngồi ghé vào mép giường như đang chịu lỗi
trước hàng chục người ngồi vây quanh. Mọi người đến để mừng cho buổi hội ngộ
của gia đình Sơn. Đĩ Xoan ngồi cạnh chồng, mặt cúi gằm, thút thít khóc. Bà Sông
quyệt ngang quyệt dọc những dòng nước mắt chẩy tràn trên mặt, luôn miệng cười
chào mời mọi người. Bà Thư từ lúc gặp em vẫn giữ nét mặt căng thẳng. Bỗng bà
Thư đập tay xuống chiếu khiến mọi người im lặng. Bà giành giọt nói từng tiếng:
- Cậu Sơn! Cậu nghĩ thế nào mà từ bỏ chị
em, từ bỏ làng quán, ai làm nên tội với cậu nào!
Bà Sông lau nước mắt, gàn bà Thư:
- Để chú ấy vui với anh em đã, chốc nữa
có chuyện gì chị em hãy nói.
Bà Thư cương quyết:
- Không được, nhân tiện có anh em đồng
chí đây, cậu phải nói để cho mọi người thấy cái sai của cậu.
Đĩ Xoan khóc nấc nghẹn.
Hai hàm răng va vào nhau cồng cộc, Sơn ậm
ừ nói dỗi:
- Thì các chị có coi em ra gì đâu!
Bà Sông vuốt mặt, than:
- Ôi giời ơi! Sao em tôi lại nói thế, hả
giời. Cả nhà chỉ còn mình chú...!
- Thì ba tháng ở bốt Cầu Bà Sinh, ở đồn
Cẩm Giang có ai đả động gì tới em đâu.
Bà Sông lại than, nhưng là giọng nói phấn
chấn vì đã hiểu được ý em:
- Ôi giời ơi! Tính chú ấy giống hệt ông
cụ nhà tôi các đồng chí ạ, động tí là tự ái, mà tự ái đến sụp giời sụp đất.
- Cậu có còn là thằng cu lên năm lên ba
không, có bằng cái đĩ nhà cậu không. Cái đận chúng nó giam cậu ở dưới ấy, vợ
cậu bụng chửa vượt mặt mà đi bộ mấy chục cây số, ăn đường ngủ chợ để chầu chực
van nài chúng nó cho gặp cậu, cái đêm nghe báo cậu chuyển đi nó chạy xấp chạy
ngửa may mà không xẩy, đến giờ con cậu công nên việc xuống được rồi cũng chưa
được đặt cái tên, cậu là Sơn chúng tôi gọi lái đi là Núi, cố chờ cậu về. Thế
cậu nghĩ chúng tôi ở nhà ăn ở thế nào mà dằn dỗi, hả!? - Bà Thư nói dồn một
thôi. Nói xong bà ôm ngực ho dữ dội.
Sơn ngỡ ngàng nhìn chị, nhìn vợ, nhìn ra
xung quanh mọi người. Nước mắt trên mặt bác Sông đã khô, tiếng thút thít khóc
của vợ cũng bặt, ánh mắt của mọi người thu lại giấu sau hàng mí cụp xuống. Tất
cả yên lặng có phải là để trách móc Sơn! Nước mắt ầng ậng dâng lên, rồi lăn
tràn xuống, Sơn cố kìm tiếng khóc nấc nhưng không được, hậm hực trong cổ. Các
chị cứ trách em nữa đi, em muốn được nghe các chị nói, mỗi lời nói của các chị em
thêm nhẹ lòng. Gia đình mình là thế đấy các chị, sống ở đời lấy cái tình làm
nặng, em dằn dỗi cũng tại tưởng mình đã bị mất cái tình ấy. Không biết cô Xoan
có hiểu được cái tình ấy của gia đình chồng? Lấy nhau để chiều ý thầy, gần nhau
có được mấy ngày, ấy vậy các chị nói về cô ấy khiến em ân hận về những ngày vừa
rồi lắm. Giá kể em về thì tình cảm giữa hai chúng em có chăng thêm khăng khít.
Em đã được làm cha mà không hề có tí chút tình cảm của một người cha là thế
nào. Em về thì có thêm được tình cảm cha con, sẽ làm ấm lại gia đình. Thế mà
trong lòng em lại nguội lạnh là sao? Có phải em không biết nghĩ tới điểu đó,
hay chính em là người đã tự đánh mất cái tình ấy rồi hả các chị!
- Đấy, cậu nghĩ lại xem, chúng tôi làm gì
nên tội để cho cậu giận nào!
Sơn không thể kìm được những hàng nước
mắt lã chã lăn xuống, tiếng nấc nghẹn ngào, không kìm được lòng mình, quỳ xuống
trước mặt các chị xin tha tội:
- Em biết tội rồi, các chị, các chị tha
tội cho em. Mai ngày em sẽ về tạ lỗi với thầy, u!
- Cậu biết thế là chúng tôi vui rồi, đứng
lên mời mọi người ăn múi cam. Cậu còn nhớ cây cam của thầy Quyết mang giống về
trồng không, từ ngày cậu chưa đầy chục tuổi, năm nay sai trĩu quả các đồng chí
ạ, nhưng mà chua, chả biết đồng đất quê tôi thế nào chứ mấy năm đầu quả cam ăn
ngọt như đường, thế mà mỗi năm lại thêm mỗi chua, ăn với chị em chúng tôi vài
múi cho đỡ háo.
Những múi cam mọng nước, rôn rốt chua hoá
ra lại dễ ăn với mọi người. Hai bị cam đầy chỉ một chốc không còn lấy một quả.
Cuộc chia vui cùng gia đình Sơn mãi tới tận khuya mới chia tay. Tĩnh lặng ôm
trùm khắp đất trời. Những dãy nhà bình yên, nằm duỗi dài tắm mình dưới dòng ánh
sáng trong vắt như dòng nước từ trên trời xuôi xuống, mơ màng những giấc mộng
đẹp. Có con bìm bịp nào đó thấy ánh trăng tưởng trời đã sáng, giật mình hoảng
hốt bay ngang qua cánh rừng cất tiếng gọi bạn làm chênh chao cả trời đêm.
Những giọt sương đêm đọng lại trên ngọn
cỏ long lanh vụn như thuỷ tinh. Sương tan vào lần vải áo mơn mơn lạnh, Sơn muốn
ngồi sát vào cạnh Xoan vừa để tìm hơi ấm, lại vừa tạo được tình cảm gần gũi vợ
chồng nhưng nhìn lên nét mặt nghiêm nghị của hai chị lại không dám. Sơn rụt rè
đề nghị:
- Hai bác với u cái Núi vào chợp mắt lấy
một lúc để còn lấy sức, mai xe đơn vị đi sớm, không rồi mệt.
- Chú dứt khoát đi để chúng tôi còn liệu.
Tôi phân tích hết nhẽ rồi đấy, chú phải về quê, tuy không phải là trưởng nhưng
bây giờ chú là giường cột trong nhà để chúng tôi cậy nhờ. Chú không tính tới
cái chuyện với nhà lý nữa sao, ai ngờ nó khốn nạn đến thế, từ lúc chú nói tôi
mới biết được nó chỉ hầm, bầm gan tím ruột mỗi khi nghĩ tới bộ mặt nó còn nhơn
nhơn ở làng, ma ranh ma bùn hơn thằng bố nó, chú về lần này phải vùi mặt nó
xuống chuôm mới bõ. Tôi hỏi ướm các anh trên huyện rồi, còn ai phụ trách quân
sự huyện hơn chú được nữa, các anh ấy mong chú lắm, chú đừng phụ lòng mọi
người.
- Em không về mọi người lại bảo em bạc
tình bạc nghĩa, nếu có về thì không trả thù lý Ngà thì không hả, em nghe rõ
tiếng nó nói để nó đi ra đình đã rồi hãy đào, tìm lâu lâu một tí, nếu bắt được
bắn chết luôn cho tiệt giống. Ai mà không hận không thù. Nhưng thực lòng, nghĩ
đi là thế, nghĩ lại mình ăn ở gây thù chuốc oán thêm thì cũng không qua được
sông để mà thoát xác.
- Chú ... thật ... chẳng khác thầy tí
nào!
- Bác ạ, em cũng ngẫm ngợi suốt từ hôm
nhà anh Ruộng bên Chuông về báo, à mà có khi từ ngày mình mới giải phóng cơ, em
cũng phân vân, bây giờ cậu Sơn về thì gia đình mình được quần tụ, có chị có em,
có cậu có cháu, đĩ Xoan được gần chồng chả hơn ư, nhưng mà nếu cậu Sơn có về
rồi tối ngày qua lại gặp mặt nhau sẽ không sinh chuyện nọ thì cũng chuyện kia
chẳng tránh được, mà giành giật, hằn thù nhau trong cái làng nhỏ hin hin này
phỏng đáng mặt gì, tại sao có cơ hội mình không tung hoành cho thoả chí trai,
đó cũng là ước nguyện của thầy, của ông, mình được vẻ vang với xã hội thì họ
nhà nó không gằm mặt mà bước trước mình hay sao.
- Tôi thì chẳng nghĩ được như cô. Thế ý
thím Xoan thì sao?
- Phận em chẳng được như các chị, em ý
kiến gì được. Các chị ạ, chúng em lấy nhau là do thầy u hai bên sắp đặt, lại
gần gũi chẳng được mấy ngày, đến giờ thầy cái Núi được tự do em chẳng dám níu
về. Thầy nó thấy thế nào hơn thì làm. Còn chuyện tình cảm vợ chồng, nếu thầy nó
có năm thê bảy thiếp em cũng vẫn sống thờ cha chết làm ma nhà chồng, thầy nó
tìm được ai tâm đầu ý hợp thì em mừng.
Một vệt sáng của ngày mới rạn ra sau đám
mây đằng Đông, mỏng mảnh như lưỡi gươm treo ngang đầu núi. Bà Sông chống đầu
gối đứng dậy, ánh mắt mệt mỏi nhìn vệt sáng, buông tiếng thở dài, hậm hực:
- Nhưng ngày nào cũng nhìn thấy nhà lý
nhơn nhơn cái mặt tôi không chịu nổi!
*
*
*
“THẰNG SƠN VƯỢT NGỤC, GIỜ CHỈ HUY ĐƠN
VỊ BỘ ĐỘI HUYỆN!”
“Mẹ cha nó, không biết nó nói thế có phải
hay hù doạ mình! Cái thằng mặt quắt như hai ngón tay chéo thì sao tin được, làm
nội gián cho Việt Minh, thằng quan hai cho ra Hà Nội đi cô đầu có một buổi đã
giở mặt làm phản, bao nhiêu cơ sở bị phá thế mà nó vẫn kín mặt. Thằng hai mang,
thằng ma lanh!” Mỗi lần tiếng súng rộ lên là lý Ngà lại sợ rúm người lại, nhìn
quanh tìm xem có chỗ nào có thể an toàn để rúc người vào, tiếng thằng Tí
“chuột” lại văng vẳng bên tai như lời phán của thần chết rình mò đâu đây. Tiếng
súng ran lên, chỉ quãng cầu Đá, mấy viên đạn lạc về chiu chíu bẻ toác cành ổi
đầu cổng khiến đĩ Sung hoảng sợ ôm đầu chạy thục mạng vào trong nhà. Nhìn thấy
chồng rúc trong gầm bàn, đĩ Sung hai tay vỗ đùi, miệng gào lên:
- Giời ơi! Chui vào đấy mà tránh được
chết à! Thằng Sơn nó dẫn quân về đến nơi rồi, biết chửa!
- Thế ra cái thằng Tí “chuột” nói đúng
à?!
- Còn ngờ gì nữa, cả nhà nó đang kéo nhau
ra đón kia kìa!
- Trốn đâu bây giờ!?
- Còn đâu nữa, ra bốt cầu Bà Sinh theo
người ta mà nhờ cậy!
- Biết người ta có chứa mình không?
- Nó mà không dám à!
Nó rúc vào váy tôi mà còn dám giở mặt à!
- Thế ra ...!
- Thế cái gì nữa,
lúc này còn thế cái gì, có đi nhanh lên không!
Lý Ngà lật bật xuống
nhà ngang, cố nín thở lấy bình tĩnh để bước chân không bị run, nhỡ có ai nhìn
thấy thì coi như cái sự việc bộ đội đang đánh về không có gì liên can tới mình.
Chính vào cái chỗ bờ tre ngày xưa trương Bân hay chui ra chui vào để tòm tem với
u lý Ngà trên gác rơm chuồng trâu, đến bây lý Ngà mới nhận ra đó là một lối đi
an toàn nhất. Lý Ngà nằm ép người xuống bờ đất, nhìn trước ngó sau xem có người
nào đi ngang qua. Bên kia bờ rào là chuồng hôi nhà Thôi, lại cả dãy dài chuồng
trâu, chuồng lợn, phân gio chảy ra ngập ngụa, ruồi nhặng mỗi khi có động bay
lên cất tiếng kêu ran như tiếng sáo thổi thì chỉ có ma mới dám lại gần. Gai tre
kéo rách toạc áo, cào tướp da tướp thịt nhưng dẫu vậy cũng chẳng khiến lý Ngà
có một tiếng xuýt. Có nhẽ mọi người, nếu ai đó nhút nhát thì đã chui nhủi vào
đâu đó để tránh mũi tên hòn đạn, còn ai bạo gan thì đã kéo nhau ra hết đầu làng
đón Việt Minh trở về, cho nên đường làng vắng tanh vắng ngắt. Mà đến cả con chó
cũng không thấy chạy rông ra ngoài. Giời phù cho nhà lý. Lý Ngà chắp tay vái cầu may rồi cắm đầu chạy một
thôi tới nghĩa địa cống Rô. Không bắt gặp một ai.
Đầu làng Chuông có
bóng người, lý Ngà thụp nấp xuống sau ngôi mộ. Một toán người đang chạy lại, lý
Ngà nằm như dán người xuống mặt cỏ. Cỏ xước chọc vào người ngứa nhôn nhốt. Bộ
đội Việt Minh, thoáng thấy mũ lưới trên đầu là nhận ra. Lý Ngà bò giật lùi lại
phía sau. Nhầy nhầy dưới bụng, mùi tanh khăn khẳn xộc vào mũi khiến Lý Ngà xuýt
nôn. Tiếng chân rầm rập chạy qua, những bóng người khuất sau bờ tre làng Trằm,
lý Ngà chống tay đứng dậy. Hẳn là bộ đội của thằng Sơn về rồi. May quá, giời
phù cho mình chạy ra được tới đây. Ôi giời ạ, vừa nằm trên tấm ván thôi nhà nào
mới bốc chắc chỉ dăm ba hôm. Lý Ngà ôm bụng nôn thốc nôn tháo. Nhưng từ sáng
tới giờ đã được miếng cơm nào đâu để mà có cái nôn ra. Những dải nước dãi lầy
nhầy, thòng thõng chảy từ miệng xuống như mớ ruột từ trong họng xổ ra khiến lý
Ngà càng thấy kinh tởm nôn thêm. Bụng quặn thắt lại, lý Ngà vật vã đau.
Khi cơn đau dìu dịu,
lý Ngà níu vào một cành xà cừ xoà xuống đứng dậy, nhìn quanh xem chừng có người
để đi tiếp. Đằng ngôi mộ tổ nhà Thiếp hình như có người lúi húi! Lý Ngà hoảng
sợ thụp xuống nấp. Ai thế, giờ này ra đây làm gì? Lý Ngà khom người, tia mắt
qua khe hở của các ngôi mộ xem chừng. Không có ai là thế nào, rõ ràng đúng ở
chỗ ấy, sau tấm bia kia, chỗ này nhìn rõ. Hay là người ta cũng nhìn thấy có
người nên ẩn nấp? Lý Ngà nhô đầu lên xem lại. Đúng vẫn là người kia, đứng
nguyên chỗ ấy. Ai thế!? Lý Ngà thụp xuống nhìn qua khe các ngôi mộ. Lại không
thấy gì cả. Lý Ngà lại nhô lên nhìn. Người ta đang nhìn mình chằm chằm, còn
nhăn răng ra cười ngặt ngẽo. Ai lại mặc bộ quần áo trắng toát thế kia? Cười mà
chẳng ra tiếng, thôi đúng là mà trêu rồi!
Lý Ngà vùng bỏ chạy.
Áo móc phải cành xà cừ, lý Ngà bị kéo giật lại ngã bật ngửa ra sau.
- Hu ... hú ... hú!
Thầy ơi, cứu con!
Lý Ngà vùng dậy, vừa
chạy vừa la. Tiếng la thảm thiết của Lý Ngà đánh động cho cả làng Chuông kéo
nhau ra đón đường. Thấy có người chặn đường, Lý Ngà rẽ xuống cánh đồng, cắm đầu
chạy như con trâu điên bị đứt thừng qua các thửa ruộng khô nẻ, cố thoát khỏi sự
truy đuổi phía sau.
- Ai kia! Đứng lại!
- Du kích làng Chuông không nhận ra nhà lý, chạy đuổi theo.
- Hu ... hú ... hú!
- Đứng lại, thằng
Việt gian kia, đứng lại không tao bắn!
Lý Ngà nghe tiếng
quát càng hoảng sợ, bươn chạy nhanh hơn.
Du kích nổ súng bắn
doạ.
Tiếng nổ khiến đôi
chân như sợi dây cao su đang bị kéo căng bỗng chùng lại, lý Ngà ngã mài mặt
xuống những vẩng đất khô. Tiếng bước chân rầm rập như đất đang sụp tới nơi, lý Ngà
vùng chạy tiếp.
Lý Ngà chạy, chỉ có
phần xác chuyển động còn phần hồn đã bị văng đi mãi đâu. Cho tới khi quỷ thần
bỗng nhận ra, số nhà lý chưa phải xuống địa phủ mới khèo chân kéo phần xác chạy
nhào xuống mương để dừng lại chờ xem phần hồn ở đâu thì nhập về rồi hãy chạy
tiếp. Nước xộc vào mồm, vào mũi khiến phần xác ôm ngực ho bỏng rát họng, cổ
dướn lên hít lấy hít để không khí để còn duy trì sự sống không thì thối rữa đến
nơi rồi. Phần hồn đang lơ lửng bay, thấy cái miệng há ngoác ra liền chui tọt vào
trong. Đây là đâu rồi? Lý Ngà choàng tỉnh, nhìn quanh. Thế ra đây đã là mương
Sói bên Đồng Trung rồi cơ à, nhanh thế! Đúng là ma đưa lối quỷ dẫn đường chứ lý
Ngà có biết mình chạy thế nào. Cái cây thị này bị lính đồn cưa sát gốc để quan
sát cho dễ đây mà. Chính hôm cưa mọi người cho rằng gốc thị có ma không ai dám,
lý Ngà đã là người kéo đường cưa đầu tiên thì chẳng thể quên được. Lý Ngà vỗ
tay vào gốc thị tỏ lòng biết ơn giời phật cứu mạng rồi bám vào trèo lên. Bốt
cầu Bà Sinh lù lù như đống rạ kia rồi. Nhìn lại phía sau, không còn ai đuổi
theo, lý Ngà thở một hơi dài trút hết nỗi hoảng loạn vừa rồi ra rồi ngẩng cao
đầu cho đĩnh đạc như mọi khi, tiến thẳng về bốt.
Một loạt tiếng nổ
bỗng rộ lên, những viên đạn xiu xíu sạt ngay gần, những viên đạn này không phải
là đe doạ như khi nãy mà có chủ định nhắm trúng mục tiêu. Lý Ngà hoảng sợ nằm
rạp xuống, co rúm người lại như con tôm. Không biết bên nào bắn đây? Tiếng súng
vừa dứt lý Ngà nhao dậy chạy về bốt. Lại một loạt đạn nữa, lần này tầm bắn đã
hạ thấp nên đất trước mặt lý Ngà cày tung một hàng, bụi mù. Bọn lính trong bốt
bắn ra! Bọn bay nhầm à, lý Ngà thầm nghĩ như vậy nên vững lòng chạy ngược lại
đường đạn, hai tay vời lên trước, miệng gào to:
- Tôi đây! Đừng bắn
nữa!
- Đứng lại! Ai!
- Ngà đây! Lý Ngà
làng Trằm đây! Ngài quan hai cứu tôi với!
Tiếng kêu cứu của lý
Ngà vừa dứt thì tiếng súng bắt đầu rộ lên. Khắp nơi, cả phía trước phía sau,
ngay trên đầu, cả đất dưới chân lý Ngà cũng rùng rùng chuyển rung sau những
tiếng nổ. Phía sau, tiếng lên đạn lách cách nghe rõ mồn một, tiếng bước chân
càng ngày càng tiến sát đến, phải vào bốt thì mới thoát được, lý Ngà thục mạng
chạy giữa hai làn đạn.
Lý Ngà chạy bổ vào
phòng ngài quan hai. Những viên đạn đuổi theo găm vào, bẻ gãy toang toác từng
đoạn xà tre. Gian nhà như kẻ bị thương oằn oại, đổ dụi xuống. Ngài quan hai mọi
ngày mặt đỏ phừng phừng như cổ con gà chọi giờ tái xanh như tàu lá, chạy nhao
ra tránh nhà sập. Ngài chạy va phải lý Ngà ngã bật ngửa ra sau. Phản ứng của
người lính khiến ngài rút súng chĩa thẳng vào đối phương đã làm ngài ngã.
- Đừng bắn! Đừng
bắn, con đây mà!
Phản ứng của kẻ tôi
đòi khiến lý Ngà thụp xuống quỳ lạy. Và chính cái phản ứng đó đã giúp lý Ngà
tránh khỏi những viên đạn từ nòng súng của ngài quan hai khạc ra.
- Ông ơi, con đây
mà! Lý Ngà làng Trằm đây mà!
Ngài quan hai nhận
ra đối phương là ai, đút súng vào bao, đứng dậy lấy lại oai phong của kẻ bề
trên. Sắc mặt đã hồng lên một chút, ngài hắng giọng:
- Mẹ cha nhà anh,
cắm đầu mà chạy thế à! Mà anh chạy vào đây làm gì?
- Cứu con với, ông
ơi!
Một loạt đạn chiu
chíu găm xuống đất trước mặt, ngài quan hai vội nằm xoài xuống phòng thủ. Những
tên lính buông súng chạy ngang qua. Một loạt đạn khác lao tới bẻ nốt những
thanh xà chưa chịu rơi xuống. Tiếng súng gần lắm, ngài quan hai ngẩng đầu lên
quan sát. Bóng những người mặc áo nâu, có cả những người mặc quân phục màu cỏ
úa, mũ lưới trên đầu chạy vượt qua lô cốt đầu cầu. Việt Minh vào được bốt rồi!
Ngài thốt lên, mặt biến sắc tái xanh hơn cả khi nãy. Ngài vùng bỏ chạy. Nhưng
nào ngài có chạy được bởi lý Ngà đã túm chặt lấy chân.
- Con lạy ông, cho con theo với! Ông có
bắt con cắn cứt con cũng xin theo!
- Thế thì mày cắn đống cứt kia đi! - Ngài
quan hai văng đại một câu để lý Ngà buông tay chứ làm gì còn thời gian cho ngài
đưa tay xuống rút súng ra được.
- Dạ!
Đạn lửa ác nghiệt thế mà sao đống cứt chó
vẫn giữ nguyên được hình trạng từ lúc nó được thải ra, để cho ngài quan hai dù
có đang bấn lên cũng dễ dàng nhìn thấy và để cho lý Ngà có cơ hội bày tỏ lòng
thành theo ngài tới cùng. Nếu là lúc khác thì ngài quan hai sẽ cảm kích lắm,
nhưng lúc này, đôi chân của ngài vừa được buông lỏng là lập tức lao vọt đi như
con tuấn mã với nước chạy thượng phong.
Lý Ngà vọt lao theo.
Dọc theo hai phía đường ray đâu cũng thấy
bóng Việt Minh, ngài quan hai chỉ còn nước nhảy xuống gầm cầu, hướng về bãi cỏ
lăn mà thoát thân.
Mang tiếng làm bốt trưởng ở đây bao nhiêu
năm rồi mà không biết địa hình ở đây thế nào, để phải nhảy từ trên cao xuống -
Lý Ngà thả người tụt theo triền dốc xuống trước mặt ngài quan hai đang ôm chân
đau đớn, trách thầm.
Những viên đạn xén xoèn xoẹt bụi cỏ lăn.
Lần này thì lý Ngà là người chạy trước, còn ngài quan hai tập tễnh chạy theo
sau, bám sát gót chân hai người là những viên đạn có hồn.
Tiếng “hự ... ờ ... ờ ... ợ!” đau đớn của
ngài quan hai ngay sau lưng khiến đôi chân lý Ngà mềm nhũn lại, nhôn nhốt buồn
như có kiến bò bên trong xương tuỷ. Lý Ngà lê lết từng bước bằng đôi chân không
còn cảm giác, bằng lý trí mù mờ như lạc vào cõi bịt bùng, vô định về không gian
và thời gian. Đôi chân không còn đứng vững nổi đã xô đẩy toàn thân lý Ngà ngã
nhào xuống. Cảm giác cuối cùng khi ấy lý Ngà còn nhận ra là mặt bị đập xuống
nước đau rát và hai lỗ mũi bị bịt chặt không thở được. Lý Ngà đau đớn, vẫy
vùng. Nhưng càng vẫy vùng càng bị nhấn chìm sâu xuống nước. Rồi tiếp theo là
thế nào thì cho đến lúc ý thức sinh tồn của một sinh linh trỗi dậy bắt lý Ngà
phải vùng thật mạnh chân tay để cho thân xác hoạt động, hớp lấy chút không khí
để cứu lấy linh hồn một lần nữa văng ra. Lần này thì thân xác lý Ngà nhìn thấy
linh hồn của mình. Nó ngồi thu lu trong búi cỏ lau. Có nhẽ ngồi lâu thấy buồn,
nó trèo lên vít ngọn cỏ lau luồn vào lỗ mũi rồi theo đó mà chui vào nhập về
thân xác. Lý Ngà nhìn thấy linh hồn giống như một con cá quẫy nước tum tủm.
Nước bắn lên mặt khiến lý Ngà tỉnh hẳn nhưng vẫn còn trong trạng thái mơ màng,
bệnh bềnh trôi. Mà đang trôi thật, lý Ngà ngồi nhổm dậy lập tức bị tụt thủm
xuống, nước lút ngang đầu. Lý Ngà chới với đạp mạnh để chồi người lên. Đám rong
đuôi chó không những không cuộn vào chân kéo xuống mà như một thứ bàn đạp đẩy
người lý Ngà lên.
Ơn giời, còn sống! Ý nghĩ đầu tiên của
một sinh linh còn tồn tại trên dương gian là lý Ngà thốt lên câu nói đầy cảm
kích đó. Đây là đâu? Mấy giờ rồi? Hôm nay là mồng mấy mà giời tối thui thế này?
Lý Ngà hít một hơi thật sâu để khảng định mình còn sống, rồi bắt đầu cố nhớ lại
những gì xảy ra trước đó. “Mình trượt từ trên đường tầu xuống chân cầu, đá răm
cứa tướp thịt, giờ vẫn còn tê tê sót. Mình chạy, tiếng súng đuổi ngay sau lưng.
Hai tai bây giờ vẫn còn vọng ù ù tiếng nổ. Thế thì khi ấy đạn vãi ra phải nhiều
lắm. Không dính phải viên nào. Khủng khiếp quá! Thằng quan hai vời tay gọi,
mình quay lại kéo tay nó chạy. Bỗng nó buông tay, khựng lại xuýt kéo giật mình
ngã ngửa về sau, phát ra những tiếng kêu đau đớn. Không biết khi ấy mình có
ngoảnh mặt lại xem nó thế nào không nhỉ? Không nhớ được. Nhưng tiếng hực của nó
còn như lẩn quất đây đây. Liệu nó còn sống không? Cầu giời cho nó chết đi,
không thì nhục! Miếng phân chó lầy nhầy, khăn khẳn như vẫn còn đọng lại ở kẽ
răng thì phải. Mẹ cha nó! Nhục! Thế mà chẳng cậy nhờ được nó. Giờ thế nào đây?
Đi đâu bây giờ? Đi thì không biết đường biết nẻo mà về nhỡ ra thằng Sơn trả thù
thì cũng chết”
Lý Ngà vục nước cho vào miệng xục để cho
hết cái cảm giác còn dính cứt chó trong kẽ răng. Tiếng nước rơi tong tõng như
tiếng người rên rỉ quanh đâu đây trong đêm vắng lặng! Lý Ngà ngánh tai nghe.
Không phải! Không còn tiếng nước rơi vã xuống nữa nhưng tiếng rên vẫn còn.
“Tiếng gì thế? Hay tiếng linh hồn của thằng quan hai lẩn quất đâu đây! Giống
lắm, giống tiếng linh hồn của mình khi nãy kêu than trước khi nhập về với thân
xác!”
Hay là ma! Giữa đồng không mông quạnh này
thì ma lang thang chẳng phải là chuyện bỡn. Ban ngày ban mặt, ngay đầu làng
người qua người lại, súng nổ ầm ầm thế mà ma còn trêu nữa là ở đây. Lý Ngà thấy
lành lạnh, sởn da gà, chân tay bắt đầu run cầm cập. Lý Ngà quờ tay gạt búi cỏ
lăn trước mặt, luống cuống đạp nước bươn lên. Nhưng đi hướng nào mới vào bờ
đây? Lý Ngà dừng lại xác định hướng thì bắt đầu vô vàn tiếng rỉ rả từ trong
lòng đất ngoi lên, tiếng keng kéc như nghiến răng từ trên trời liệng xuống. Giá
kể nhìn thấy thứ gì đó trước mắt để còn bấu víu cũng yên lòng, đằng này màn đen
đặc quánh đến nỗi có con dao trong tay thì cũng không thể xắt ra lấy lối mà đi
được. Trống ngực đập thình thịch, lý Ngà lẩy bẩy đưa chân dò dẫm bước đi. Đích
thị là dẫm phải con cá chuối. Con cá phải to lắm bởi nó chuồi chuội đầy kín
lòng bàn chân, nó giẫy thoát thân mà hất lý Ngà xuýt ngã. Biết đó là con cá
chuối, nhưng lúc này, giữa đêm đen vắng lặng, lại từ dưới lòng đất chồi lên thì
cũng khiến hồn phải xiêu, phách phải lạc, bắt lý Ngà không chạy không xong.
Húc đầu xuyên qua bức tường đêm mà chạy,
đạp lên nhầy nhụa của đất đen mà chạy, thân xác không xác định được hướng thì
đã có linh hồn dắt đi. Thân xác chạy hay là bay, hay là bò, giữa đêm đen đến
những bóng ma cũng không nhận ra, đến linh hồn cũng không theo kịp để dắt
đường. Vậy nhà lý đã về đến nhà thế nào? Cuối cùng thì thân xác đâm xầm vào
cánh cổng, dừng khựng lại để cho linh hồn theo kịp nhập vào. Đau nhói ở đầu và
cái lưỡi rám ráp, nóng hôi hổi của con chó liếm lên mặt chủ đó là cảm giác đầu
tiên để nhận ra linh hồn và thể xác đã hoà nhập làm một.
- Ối giời ơi, tưởng ông chết rấp chết dúi
ở đâu rồi, còn về được thì phúc mấy mươi đời rồi, ông ơi! - Đĩ Sung vừa nghe
thấy tiếng chó rên ư ử vì ra sức lôi chồng vào nhà đã la toáng lên.
Lý Ngà giằng tay khỏi con chó, chạy vào
bịt miệng vợ.
- Đồ đĩ! Im mồm ngay, mày lu loa thế là
muốn gọi chúng nó đến giết tao phải không!
Đĩ Sung ẩy chồng ra, hai tay đập váy
miệng gào lên to hơn:
- Sợ chúng nó giết còn mò về làm gì!
- Tao không biết, cứ chạy chả biết thế
nào lại về đến nhà. Thế nào, chúng nó có mò vào nhà không?
- Có!
Lý Ngà hoảng hốt nhìn ra cổng rồi thu
người ngồi nấp sau cánh cửa, run rẩy hỏi:
- Mẹ cha mày, thế mà mồm mày lu loa lên
thế à! Chúng nó có hỏi gì tao không?
- Có chó nó để ý đến ông. Chúng nó bảo
tôi ra đình họp, không có ông nhà thêm rộng, mấy tay huyện uỷ gì đấy trẻ măng,
còn trẻ hơn thằng Sơn ...
- Đồ đĩ dài đĩ rạc! Cái chuyện mày với
thằng quan hai ông chưa rờ đến, giờ lại còn đĩ mồm, cạnh khoé ông à. Ông là ông
báo cho chúng nó gô cổ thằng ấy vào.
- Có giỏi thì đi báo, người ngợm như con
cua bấy, chả bõ làm ngứa háng bà!
- Á chà! Từ dạo tao kết thân với thằng
quan hai là thấy mày sinh ra chờn mặt với tao, hôm nay mới biết vì sao, tưởng
tao chết đêm nay mày định rủ thằng nào vào nhà nữa mà dám chửi thẳng vào mặt
tao.
- Chứ không à! Nói thật với ông, chẳng
phải tôi dấm dúi với thằng nọ thằng kia là tôi thèm cái đấy, mà dạo này thấy
ông hèn mọn, chẳng đáng mặt đàn ông ...
- Mẹ cha mày, coi
khinh ông à!
Lý Ngà đang ngồi thu
lu sau cánh cửa vừa rít lên vừa nhoai dậy túm chân đĩ Sung kéo giật hất lên. Đĩ
Sung ngã ngửa dập mông xuống nền nhà. Chưa kịp phản ứng gì, thậm chí đĩ Sung
cũng chưa kịp kêu đau thì đã bị lý Ngà chuyển tay túm gấu váy kéo tuột ra khỏi
người, tơ hơ. Nhanh như mèo vồ chuột, lý Ngà chồm lên đè vật đĩ Sung nằm xuống.
Phản xạ đầu tiên của người bị ăn hiếp, đĩ Sung vội luồn hai tay xuống ấp lên
bẹn, miệng u ơ ngạc nhiên:
- Ông ... ông làm gì
... thế?
- Mẹ cha mày, ông
cho mày biết thế nào là đàn ông, mày tưởng ông hèn mọn à!
Hiểu chuyện gì đang
xảy ra, đĩ Sung buông tay ở bẹn mình ra, xoay lại thọc vào trong quần chồng.
- Gớm nhỉ, tưởng sợ
thụt dái vào thế ra vẫn còn hăng nhỉ, bố con nhà ông chẳng sợ mất giống!
Đĩ Sung buông xuôi,
nằm thõng thượt vô cảm như mọi lần. Mỗi khi làm hắn tức, thể nào đêm ấy đĩ Sung
cũng bị hành hạ bằng những cái cấu véo đến thâm tím vùng bẹn. Mỗi lần như thế,
con cu của hắn lại thụt tịt vào chẳng bằng đứa trẻ lên mười. Đĩ Sung càng chọc
tức thêm bằng cách cầm “con đỉa” nhũn nhẽo của hắn dí vào của mình. Khinh cho
bõ tức chứ mỗi lần làm thế đĩ Sung càng bị đau hơn bởi thế nào cũng bị dằn ra
để trả thù, ngón tay hắn thọc sâu vào cửa mình đau rát. Nhưng lần này không
thế, của hắn cương lên, ấn lút sâu vào cơ thể đĩ Sung.
Mỗi lần ấn sâu vào
là một lần hắn vả vào mặt đĩ Sung, và tiếp đó một câu chửi văng ra:
- Mẹ cha mày, tưởng
ông không là đàn ông à mà mày còn đi đánh đĩ!
- ....!
- Mẹ cha mày, chúng
nó không động chạm đến ông, để ông sống là cho ông hành hạ mày tới nhục, đồ đĩ
rạc!
- ....!
- Ông sẽ lấy vợ hai,
cấm cửa mày để cho mày chết già!
Cũng may thằng cu
Vương với cái đĩ Ngái đi ra đình xem Việt Minh rồi không biết ngủ chạ nhà nào.
*
* *
NGỌN GIÓ MÙA ĐÔNG
BẮC ÀO QUA, ĐÁM LÁ KHÔ RÙNG MÌNH CỌ VÀO NHAU RÀO rạo. Những quả ba giăng đen
nhánh, treo lúc lỉu trên cành cây, run rẩy va vào nhau phát ra tiếng lách cách
như tiếng mõ trâu từ đâu đó vẳng trên không trung. Hình như ở nơi đô hội san
sát nhà, chật ninh ních người ta mới có xúc cảm về những đợt gió mùa Đông Bắc
tràn về thì phải, ai cũng run rẩy trong lần áo bông to xù, ai cũng ngán ngẩm
ngước nhìn lên bầu trời xám xịt, quan sát cảnh vật xung quanh để buông tiếng
xuýt xoa và có vài lời bình phẩm về đợt rét lần này thế nào, sẽ ra sao. Ba mươi
tuổi, như vậy là cuộc đời đã trải qua ba mươi mùa đông có những đợt gió mùa
Đông Bắc, nhưng hai chín mùa trước chưa một lần Sơn để tâm tới những cảm nhận,
có những quan sát về sự thay đổi của không gian, thời gian chuyển mùa thế nào.
Và những con người ở thôn quê ai cũng thế, có rét cắt da cắt thịt, lội ruộng
lạnh thấu xương cũng thế thôi, năm nào cũng vậy có chuyện gì đáng phải bận tâm
đâu. Hay chăng, lúc này Sơn đang cô độc, không một người thân quen giữa thành
phố lớn, hoặc là Sơn đang chỉ có một mình trên chiếc ghế đá lạnh băng trong
công viên mà nẩy ra cái ý nghĩ đó chăng? Sơn đưa tay lên sờ lại chiếc khuy cổ
của chiếc áo đại cán vừa mới được thưởng hôm qua. Mùi vải còn thơm, mép chỉ còn
cứng cọ vào cổ ngưa ngứa. Sơn nén tiếng thở dài, tự trách mình sao hôm nọ lại
vô cớ nặng lời với anh Thịnh. Thứ mùa đông ở đây sao giá băng, dễ khiến con
người buồn nản, con người mình đâu có thế ... - Sơn cố tự vấn mình bằng những ý
nghĩ trong sáng về người đồng chí, người mình phải mang ơn.
“Đi với tao đi!” Chỉ
một câu nói bâng quơ nhưng cởi mở, thân tình của người anh, người đồng chí cùng
buồng giam ngoài Côn Đảo đã lôi kéo Sơn tới thành phố miền biển này. “Em đã
biết gì về công việc đâu, nhỡ không làm nổi” “Cứ có tinh thần cao, trách nhiệm
tốt thì công việc có khó mấy rồi sẽ mầy mò làm được hết!” Có thân tình thì mới
có lời nói chân thành đến thế, Sơn quý anh Thịnh ở chỗ sống chất phác, nhiệt
tình với anh em. Sở thương nghiệp - cái tên đã đủ lạ lẫm với Sơn chứ chưa nói gì
tới công việc phải đi giao dịch, thu gom hàng hoá ở các nơi về, rồi lại phải
phân phối xuống các cửa hàng bán lẻ sao cho công bằng, hợp lý thực sự là bài
toán hóc búa. Nhiệt tình thì Sơn có thừa, xe đạp cơ quan nặng hơn xay cối đá
nhưng hơn ba chục cây số tới các hợp tác xã ngoại thành dưới cái nắng đổ lửa có
chăng chỉ là việc rèn luyện sức khoẻ, nhiều hôm không có xe nhưng cuộc hẹn với
khách hàng thì không thể lỡ vậy là nửa đêm đã mài chân trên đường. Anh Thịnh
nói đúng, mình cứ nhiệt tình với công việc cũng khiến người ta phải cảm động mà
thụân công thuận việc, chứ dùng lời ăn tiếng nói để thuyết phục có khi lại bị
ghét, người ta nghĩ rằng mình lươn lẹo mánh qué. Mình có trách nhiệm cao, lúc
nào cũng toàn tâm toàn ý với công việc thì rồi khó mấy cũng tìm ra hướng giải
quyết. Chỉ chưa đầy một năm, hệ thống thu mua và phân phối sản phẩm nông nghiệp
trong toàn thành phố đã được Sơn đưa vào guồng máy hoạt động theo một chu trình
khép kín và có hiệu quả. Sở thương nghiệp hình thành một phòng mới - đó là phòng
nông nghiệp.
Một tuần chờ công bố
quyết định thành lập phòng chức năng mới cùng bộ máy điều hành của nó là một
tuần Sơn rạo rực, phấn khởi. Thế là bao ngày chỉ mình Sơn nhọc công, nhọc sức,
trút bao tinh thần và vật lực cho đứa con mới ra đời, vun đắp “ngôi nhà” sở
thương nghiệp thêm hoàn thiện. Rồi mai ngày Sơn sẽ đưa tiếng tăm của phòng vang
xa, khiến mọi người kính nể, để không phụ lòng dìu dắt của anh Thịnh. Buổi sáng
nào đến cơ quan, Sơn cũng phải đi ngang qua phòng giám đốc, liếc mắt vào cánh
cửa màu xanh lá cây mong chờ hôm nay nó sẽ mở ra. Một tuần ngóng trông như vậy.
Ngay tuần sau thì ... Anh Thịnh đi công tác đã về! Sơn thầm reo lên trong lòng
khi thấy cánh cửa màu xanh lá cây hé mở, bên trong cánh quạt trần quạt gió phần
phật. Mong chờ là thế nhưng từ xa bước chân Sơn đã chựng lại, trù trừ không
biết có nên vào chào anh ấy? Nếu là những ngày trước kia thì chắc chắn Sơn sẽ
ào vào phòng giám đốc, vui mừng reo lên như được đón người thân đi xa lâu ngày
trở về. “Nhưng lần này mà thế, người ta sẽ đánh giá mình ra sao? Một tay xu
nịnh, bợ đỡ để mong được cất nhắc! Một kẻ thấy người sang bắt quàng làm họ,
trình độ học vấn được là bao, công lao đã là gì mà đòi được làm lãnh đạo! Nếu
thế thì ô danh lắm” Ánh mắt của mọi người tuần nay đã khác, khiến Sơn phải suy
nghĩ. “Khi còn ở cái làng bé hin hin, hô hào, ra lệnh cho mấy chục người đã
thấy mình là oai, đến khi ra đây thấy mình chỉ là gã quê mùa choáng ngợp trước
sự đồ sộ của một thành phố lớn, ngẩn ngơ trước sự vận hành của một hệ thống
kinh tế”. “Liệu mình có đảm đương được chức vụ sắp được giao hay không?!” “Phải
được! Có gian nan nào mình đã từ!” - Sơn tự vấn mình.
Bước chân do dự đưa
Sơn bước qua phòng giám đốc lúc nào không hay. Đến khi có bàn tay bám vào vai
giữ lại, rồi tiếng giám đốc ngay sau khiến Sơn giật mình, tim thót lại hồi hộp.
- Trông cậu làm sao
thế này, lại sốt rét à, mặt mũi tái mét, run lẩy bẩy thế này, đi qua phòng tôi
cũng không vào chào nhau lấy một lời là thế nào?
Sơn nuốt hơi thật
sâu để bớt hồi hộp nhưng giọng vẫn còn run, dối lòng:
- Dạ, anh về khi nào
em không biết, tưởng anh Tùng phó giám đốc vẫn vào giờ này như mọi hôm.
- Có bị ốm không
đấy? Lên y tá xem thế nào. - Anh Thịnh băn khoăn hỏi lại.
- Em không sao mà.
Ngày trong tù sốt rét đến bốn mươi độ còn không vật nổi em nữa là mới nhức đầu.
- Sơn nói vui để trấn an lòng mình.
- Nếu không sao thì
vào phòng tôi có việc đây!
“Các chị ơi, mong
ước của các chị em đã thực hiện được. Em đã trả ơn được cho các chị rồi. Làm
trưởng phòng của một công sở lớn nhất nơi đô hội, thử hỏi cái danh này cả xã,
cả tổng đã ai có được!” Nếu không cố giữ cho mình thật bình tĩnh thì có lẽ
những bước chân vấp váp đã kéo nhào Sơn ngã xuống. Chỉ có quãng đường hơn chục
mét mà khiến Sơn thở gấp gáp như vừa vượt qua chặng đường đi bộ mấy chục cây số
xuống vùng ngoại thành dạo tháng trước.
- Vào đi! - Anh
Thịnh mở rộng cửa để Sơn vào.
Lúng túng trước hành
động khách sáo của anh Thịnh khiến Sơn vấp phải cánh cửa. Đầu ngón chân út đau
buốt, Sơn nén chịu tập tễnh bước vào phòng. Nhưng cái vấp tiếp theo lại khiến
Sơn rùng mình, gai gai sống lưng. Ánh mắt của Chất đang nhìn thẳng vào Sơn. Tia
mắt giấu sau đôi mắt nhỏ như mắt lươn, xoáy vào người đối diện như một mũi
khoan bằng băng lạnh buốt. Ngày ở Côn Đảo, Sơn luôn tìm cách để tránh xa anh
ta, không những sợ ánh mắt mà sợ cả hơi thở phào phào bệnh hoạn và làn da nhẫy
lạnh như da lươn. Sau khi kết thúc đợt học chỉnh huấn, Sơn không quan tâm tới
việc anh ta đi đâu, về đâu. Vậy mà hôm nay, sau gần ba năm, cơn cớ gì khiến anh
ta đến đây để Sơn phải đối mặt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Không còn
đường lui, buộc Sơn phải đưa tay ra nắm bàn tay gầy xanh và lạnh của anh ta,
chào xã giao:
- Anh giờ công tác ở
đâu? Sao gầy, xanh thế?
- Tạng người tôi thế
chứ vẫn khoẻ như vâm. Tôi gặp anh Thịnh luôn, nghe nói anh năng động trong công
việc lắm, thật mừng chúng ta lại được cùng về làm việc với nhau.
Anh ta vẫn ngồi
nguyên trên ghế, thậm chí không hề xoay người lại mà chỉ đưa tay ngang ra cho
Sơn bắt. Cái miệng thì theo lẻo nhưng hai hàm răng không tách được nhau ra sau
làn môi mỏng như đường kẻ ngang mặt. Thái độ trịch thượng của anh ta Sơn không
lạ. Nhưng tại sao lại là chúng ta cùng làm việc? Và cả cái nhìn mang vẻ bề trên
của anh ta nữa. Sơn thần người ngạc nhiên, hết nhìn anh ta lại quay sang anh
Thịnh, ánh mắt thắc mắc. Anh Thịnh đã qua nhiều năm hoạt động tình báo, cho nên
đọc được ý nghĩ của Sơn chẳng khó khăn gì. Anh Thịnh giải đáp luôn thắc mắc của
Sơn:
- Chất được thành
phố trực tiếp cử về làm trưởng phòng nông nghiệp, còn cậu sẽ làm phó. - Anh
Thịnh quay sang nói với Chất: - Những ngày đầu công việc chắc chưa quen, có
điều gì chưa biết cậu nên hỏi cậu Sơn.
Rõ ràng anh ta phải
có người thân quen vai vế lắm cho nên mới từ đâu đưa về làm trưởng phòng ngay,
đến anh Thịnh cũng phải kiềng nể, thận trọng từng lời ăn tiếng nói khi giao
tiếp với anh ta. Đấy là bây giờ Sơn mới cố phân trần với mình như vậy, chứ suốt
mấy tháng nay thì mọi điều xấu xa đều đổ xuống đầu anh Thịnh cả. Rằng, anh
Thịnh biện ra lý do chứ thành phố nào lại chen vào công việc nội bộ của cơ sở.
Rằng, khi ở trong tù cũng như những ngày chỉnh huấn anh Thịnh thân tình với anh
ta hơn với Sơn, thậm chí đã về nhà anh ta ở Thanh Hoá chơi cả tuần. Vậy sao
không há miệng mắc quai. Nhưng hôm qua, anh Thịnh đã điều Sơn về phòng hành
chính, lại chuyển Sơn sang phòng tập thể khác xa với phòng Chất chính là anh ấy
đã hiểu được những bức xúc trong lòng Sơn, khiến Sơn phải nghĩ lại. Con người
lão luyện trong công tác tình báo mà, sao không đọc được những ý nghĩ của một
người cạn nghĩ như Sơn.
Bóng chiều run rẩy,
hoảng sợ trước những mảng tối đang rình rập trong những tán lá, ẩn nấp sau
những mái nhà. Ngọn gió lạnh ào tới, những mảng tối được thể chực nhẩy xổ ra
chiếm lĩnh không gian. Những bóng người mỏng mảnh lướt qua trước mắt Sơn như
những âm hồn. Vườn hoa đưa người - Tại sao trước đây người ta lại gọi khu công
viên này bằng cái tên nghe rờn rợn? Phải chăng những ai ra đây ngồi đều mang
tâm trạng buồn. Buồn nẫu lòng, buồn đến mức mắt mờ dại, nhìn ra xung quanh như
nhìn vào phim âm bản. Sơn cho như vậy có lý hơn là lý do: những con người bần
cùng dưới chế độ trước, nơi đây chính là nơi họ
đến để buông mặc cuộc đời cho số phận đưa đẩy. Những thuỳ lá của cây
buồn ngủ khép lại bên nhau, tán buông rũ rĩ trên thân cây ngả xoãi xuống đất, trông
chẳng khác gì ông cụ già mệt mỏi thở dốc.
Không nghĩ tới những
chuyện ảm đạm nữa. Bỗng dưng dạo này mình hay vương vấn những chuyện chẳng đâu
vào đâu. Về thôi. Xuống nhà bếp xin nồi nước nóng, pha thật già để rũ trôi hết
những chuyện buồn nản đi. Xong rồi ...!
Mới về đến đầu ngõ
đã gặp Thuý đứng ngóng đợi ai, Sơn ngập ngừng chào xã giao:
- Mới tối cô Thuý đã
ngóng ai sớm thế?
- Còn ngóng ai nữa!
Anh Thịnh nói anh bị ốm, thế mà em đi tìm suốt chiều không thấy đâu.
Xong rồi, tiếp ý
nghĩ lúc nãy của Sơn là, sẽ sang phòng Thuý ướm thử lời mời tối mai chủ nhật,
lại có bộ phim hay mới chiếu, nếu Thuý rỗi thì Sơn có lời mời. Thế mà lại đường
đột gặp Thuý đứng chờ mình, tình huống diễn ra ngoài dự định khiến Sơn lúng
túng, những lời muốn nói cũng quên biến như cậu học trò không thuộc bài trước
câu hỏi của cô giáo. Sơn lúng búng nói:
- Không sao, bị cảm
cúm xoàng thôi mà, tại thời tiết chuyển mùa đột ngột quá.
- Lát nữa sang phòng
em lấy mấy viên thuốc cảm mà uống, các anh hay coi thường sức khoẻ lắm đấy.
Phòng tắm mù mịt hơi
nước. Sơn ào ào dội nước lên người, kỳ miết thật mạnh khiến cho làn da đỏ lựng.
Toàn thân tê rát vì nước để nóng già. Tâm trạng nặng nề dường như đã bị nước
nóng làm cho bốc hơi, cơ thể trở nên nhẹ nhõm, sảng khoái, đầu óc tỉnh táo
không còn u minh như khi chiều. Tỉnh táo quá khiến Sơn tự nhận ra mình rồi tự
mình dằn vặt, khi nãy mình lại trả lời nhấm nhẳn với Thuý là sao, thế mà còn dự
định sang mời cô ấy đi xem phim, rõ là vụng về. Đã bao lần Sơn cố tạo cho mình
một lối cư sử khéo léo để thu hút sự chú ý của Thuý mà không làm nổi. Có lúc
Sơn đã so sánh, tại sao mình lại không làm được như Chất. Lúc nào hắn ta cũng
tỏ ra bề thế bằng cách đóng khung cơ thể lẻo khẻo trong bộ sơ mi trắng, nếp hồ
ở cổ và tay áo phẳng như những tấm bìa cứng, còn đường li của chiếc quần màu
tím than phải nổi gồ sống trâu, thẳng căng như dây dọi. Và những câu vần vè,
những ca dao tục ngữ sao hắn nhớ nhiều thế, lại với ngôn từ khéo léo vận dụng
vào đưa đẩy khiến không chị em nào lại không dừng lại khi đi ngang qua trót
thấy hắn đang hào hứng nói chuyện. Và rồi mặt cô nào cũng đỏ lựng, giấu sau
lưng nhau cười khinh khích.
Khi nãy cô ấy có ý
chờ mình, tại sao mình lại vội vàng thế để không nhận ra, để không có được một
câu hoa mỹ mào đầu, để mà lấy cớ lát nữa sang đưa đẩy câu chuyện, thì lời mời
cho buổi tối mai cô ấy từ chối sao đành. Và rồi Sơn sẽ đạt được mục đích quan
trọng hơn. Nhưng thôi, đừng có ý nghĩ ấy nữa, mình đâu phải loại hèn mọn vậy.
Cô ấy sống thẳng thắn, mình quý trọng
Thuý ở điểm ấy. Mỗi lần gần cô ấy mình thấy tự tin hơn. Và mình muốn với cô ấy
có một buổi tối chỉ hai người bên nhau để tiếp thêm nghị lực vượt qua nỗi khổ
tâm này. Chứ đâu phải cái ý nghĩ tồi tệ hôm qua chợt loé lên, rằng mời được cô
ấy đi chơi cũng là cách hạ nhục hắn. Hắn đang theo đuổi Thuý. Liệu Thuý có bằng
lòng với một kẻ lươn lẹo không nhỉ?
Nhếu nháo vài miếng
cơm đã thấy ngang dạ không muốn ăn. Nhìn lên đồng hồ đã quá tám giờ. Mạnh dạn
lên, ngày mai hai người không đi xem được với nhau thì sẽ không còn cơ hội nào
nữa, đầu óc Sơn nóng râm ran với ý nghĩ tự thúc giục mình như vậy. Sơn mở chiếc
hòm gỗ kiếm tìm bộ quần nào thật chỉn chu để khi gặp cô ấy sẽ hiểu Sơn muốn gì.
Đã khi nào Sơn để tâm tới những nhu cầu thiết yếu của một thanh niên thành phố
đâu mà có được bộ quần áo tươm tất, hợp kiểu. Thôi đành khoác lại chiếc áo đại
cán là mới nhất và thế cũng chững chạc, chắc hợp với tính cách của cô ấy.
Sơn hồi hộp như
thanh niên chưa vợ lần đầu đến với người con gái mình yêu. Đúng là Sơn đã có vợ
con nhưng nào đã biết thế nào là rung động của buổi ban đầu. Cái đêm đầu tiên
với Xoan, hai người nằm ngay đơ như hai khúc gỗ, mỗi khi trở người toàn thân
lại căng thẳng vì phải đấu trí và đấu lực để tránh sao không va chạm vào nhau.
Cả ngày cỗ bàn, tiếp khách mệt mỏi chẳng mấy chốc cả hai ngủ thiếp đi lúc nào
không hay. Ông trời đã mất công xe duyên thì cũng phải làm cho hết phận sự của
mình. Không biết khi ấy sang canh mấy, chắc cũng phải muộn rồi, đêm đã sâu thăm
thẳm, Sơn thấy nghẹn thở cố nhoài người lên để hít thật sâu nhưng không thể.
Toàn thân đang bị đè cứng. Cố thoát ra khỏi tình trạng đó đã khiến Sơn phải
tỉnh dậy. Không biết Sơn đang ôm đè lên người Xoan hay là Xoan đang quặp chặt
lấy Sơn đây? Xoan bị đánh thức dậy và nhận ra ngay sự không bình thường của tư
thế nằm ngủ, giật mình vội xê người nằm lui ra ngoài. Lúc đầu cả hai cùng cười
thầm cho hành động hoảng sợ vô lý của mình, sau rồi không kìm được bật lên
thành tiếng. Nhưng chỉ hai người nằm gần nhau mới nghe được. Thế rồi định mệnh
có cớ đẩy ập hai cơ thể vào nhau. Cuộc tình ấy diễn ra chóng vánh như sợ người
khác bắt gặp thì phải tội khiến đến giờ Sơn không còn nhớ sự rung động của cơ
thể người đàn ông diễn ra thế nào. Rồi vội vàng mặc quần thôi chứ áo nào đã kịp
cởi đâu thì phải. Rồi vội vàng mỗi người lăn về một phía thành giường như hai
kẻ ăn vụng bị bắt quả tang. Chỉ lát sau, giấc ngủ như con rắn trườn đến kéo
tuột những cảm giác mới gặp lần đầu của cơ thể hai người ném vào đêm tối. Để
sáng tỉnh lại không còn nhớ mình đã có những gì khác thường so với đời sống
trước đây khi chưa có vợ, có chồng. Còn hôm nay, cũng vẫn là khoảng cách ba
chục mét giữa hai dãy nhà, cũng vẫn như mọi khi sang nhà nhau dăm ba câu chuyện
hỏi thăm sao mà bước chân thấy run, hơi thở dồn ứ lại đau tức cả vùng ngực. Đã
biết ý tứ cô ấy thế nào đâu ...? Vớ vẩn thật, chỉ là ý định sang để tự tìm cho mình
một nghị lực sống trong lúc gặp khó khăn về tinh thần thôi mà sao lại nẩy ra
cái ý nghĩ vớ vẩn thế. Mình là trai có vợ, cô ấy đẹp lại chưa chồng và kém mình
tới hơn chục tuổi, thế thì làm sao phù hợp, đâu phải là đối tượng cô ấy cần.
Hành động khi chiều của cô ấy cũng như mọi lần thôi và cũng như với người khác
thôi, mình đang tự huyễn hoặc mình. Cô ấy quan tâm tới sức khoẻ của mình chẳng
qua đó là công việc của một y tá trong cơ quan và lại được giám đốc dặn riêng.
Hình như anh ấy muốn tỏ thái độ xin lỗi với mình. Rồi còn pháp luật nữa, còn tư
cách của một đảng viên nữa, nào cho phép mình làm chuyện động trời, dù chỉ là
trong ý nghĩ thôi cũng không được.
Sơn hít sâu, nén khí
xuống vùng bụng rồi từ từ thở ra để lấy lại bình tĩnh. Cách này Sơn được thầy
Quyết dạy cho từ ngày còn là đứa trẻ, giờ làm lại bỗng thấy nhớ nhà, nhớ các
chị. Lần trước về, con Núi mải đi chơi với bạn bè tận bên Đồng Trung không gặp
được. Dạo này nó phải lớn lắm rồi, sắp là thiếu nữ còn gì. Ba năm không gặp
con, nghe bác Thị xuýt xoa, nó càng lớn càng giống cha, từ nét mặt tới dáng
người cao lòng khòng chẳng thể lầm lẫn được với ai Sơn thấy vui trong lòng. Mọi
người nói, con gái giống cha giầu ba đụn, số nó rồi sướng. Chả biết có phải.
Lớn rồi, không biết nó có còn xa lánh Sơn. Tình cảm cha con không được mặn mà
lắm. Cũng tại số phận run rủi, biết sao được, rồi sau này có gia đình nó sẽ
hiểu. Mải nghĩ chuyện gia đình khiến Sơn bước qua cửa phòng Thuý mà không hay,
đến khi nghe tiếng Chất gọi mới gật mình nhận ra. Chất đang ở trong phòng Thuý,
thong dong ngồi vắt chân chữ ngũ trên chiếc ghế gỗ khoát tay vẫy Sơn:
- Vào nhà chơi đã
ông Sơn! Trông ông như người lẩn thẩn, ăn mặc xốc xếch thế kia à. Đi đâu đấy,
vào nhà uống chén trà đã.
Hắn biết ý định của
mình là sang đây hay sao mà cố tỏ hành động cứ như phòng này cũng đã là của
hắn, lại được cả bộ mặt vênh vênh như giễu cợt, như thách thức Sơn, rằng Thuý
đã hoàn toàn thuộc về hắn. Không vào thì hắn sẽ nên nước, mà vào thì biết ý tứ
của Thuý thế nào, nếu cư sử có điều không đúng thì ngay ngày mai sẽ có những
chuyện đàm tiếu do chính hắn thêu dệt ra. Mỗi lần phải đối đầu với những chuyện
vặt vãnh, cá nhân kiểu này đều khiến Sơn lúng túng. Chưa biết nên xử trí thế
nào thì Thuý từ trong phòng chạy ra, cầm tay Sơn lôi vào, nói dằn dỗi:
- Lúc chiều sờ đầu
anh nóng hầm hập thế mà bảo uống thuốc cũng lười. Đi chơi cả buổi chiều rồi giờ
còn định đi đâu nữa!
Sơn lúng túng như
đứa trẻ bị người lạ lôi đi. Chất đứng bật dậy, mặt tái thâm, môi mím chặt ngạc
nhiên nhìn sự việc đang diễn ra quá bất ngờ. Thuý kéo tay Sơn bắt ngồi xuống
đầu giường, cạnh chiếc bàn nước. Chất chuyển ánh mắt ngạc nhiên sang những viên
thuốc và cốc nước đã để sẵn từ trước, đó chính là minh chứng cho sự vồn vã,
thân mật của Thuý và Sơn là thật, có chủ định trước chứ không phải những gì như
Chất nghĩ về quan hệ của hai người cách đây chỉ vài phút.
- Đây là thuốc cảm,
còn thuốc bổ ngày mai anh phải sang phòng y tế để em cấp, nhớ đấy, chuyện sức
khoẻ đàn ông các anh chẳng biết giữ gìn. Có phải không anh Chất? Cả anh nữa,
anh mà không giữ sức khoẻ, đi chơi đêm hôm, vườn hoa nhà kèn nhiều sương giá
rồi ốm lăn đùng ra lấy ai là người lãnh đạo.
Cô ta nói thế khác
nào xổ vào mặt mình là kẻ trác truỵ. Chẳng là, có một buổi họp, Chất đã gọi
vườn hoa bên đường là nơi trác truỵ, có ảnh hưởng không tốt tới đời sống tinh
thần của cán bộ nhân viên cơ quan, khi mà ngày nào cũng phải chứng kiến những
người dỗi việc lang thang ngang qua, những cảnh trai gái cặp kè, rồi cả những
chuyện đồi bại của chế độ cũ còn sót lại thì sao mà có thể trở thành con người
mới trong xã hội mới đang vận động đi lên được. Thế nhưng chính Chất lại bị bắt
quả tang, nửa đêm còn nấp sau bụi cây để rình xem một đôi trai gái đang hôn
nhau trên ghế đá trong công viên. Chính Thuý chứ không là ai khác, cầm chiếc
gậy tre chọc vào mông Chất đang cong lên sau bụi cây. Tiếng cười của đám con
gái khiến Chất muốn độn thổ chui xuống đất. Nhưng nếu hôm ấy mà chui được xuống
đất thì hoá ra mình đã công nhận cái hành vi đồi bại của mình à. Sự nhanh nhạy
của Chất đã xoay chuyển ngược tình tình. Trong giây lát, đang bị ở thế dồn ép
đã chuyển sang thế công để giành chiến thắng. Chất đỏ mặt tỏ ý giận giữ, vung
tay chém không khí, nạt giọng:
- Các cô là đàn bà
con gái đêm hôm ra đây làm gì, muốn học những chuyện đồi bại ở đây phỏng!
- Thế đồng chí lãnh
đạo ra đây làm gì? - Các cô gái đồng thanh hỏi lại.
- Vớ vẩn, ai cho các
cô hỏi tôi chuyện này. Nhà vệ sinh bẩn ngập ngụa, đèn đuốc chẳng có, đêm hôm ai
mà vào được, mai tôi sẽ cho kiểm điểm phòng y tế việc này. Mà này, tôi ra đây
là để thải chất cặn bã vào những kẻ trác truỵ như thế kia kìa.
- Lãnh đạo định lừa
chị em chúng em đấy à?
- Bậy nào, tôi mà
lừa các cô à. Có cô nào dám vào đây tôi bới ra cho ngửi xem có phải không.
Nay lại có kẻ dám
bới đống thối Chất đã mất công đậy lại thì sẽ được ngửi. Đó là thông điệp mà
Chất ném lại bằng thái độ vùng vằng bỏ về và tiếng sập cửa nặng tay quá mức từ
phòng Chất kề bên. Hắn bị cư sử như thế mới đáng. Nhưng vui thì ít mà lo thì
nhiều, Sơn đứng dậy lo lắng:
- Em nói thế không
sợ ông ấy trả thù!
- Tại sao các anh cứ
phải nhụt với anh ta. Em nhiều lần nói vỗ vào mặt rồi nhưng cứ nhơn nhơn vác
mặt sang, nhiều hôm ngồi lì tới tận khuya, phát sốt hết cả ruột, hôm nay mất
mặt với anh nên mới thế. Mà anh biết không, anh Thịnh chuyển anh sang dãy khác
là làm theo ý của anh ta. Sao mọi người cứ phải kiềng anh ta, cả trong những
chuyện vặt vãnh ấy thế nữa. - Thuý nói một thôi đầy phẫn uất.
- Người ta thế, mình
nên tránh vẫn hơn.
- Em chẳng sợ, mình
không tham ô, hủ hoá, không làm điều gì sai trái thì chả sợ ai!
Ngày hai buổi đi từ
nhà sang cơ quan, làm tròn công việc được giao, tối về tranh thủ đọc sách,
không thì đến thăm bạn bè chốc lát rồi đi ngủ thì đúng là không sợ ai cả. Nhưng
chẳng lẽ cuộc đời chỉ có vậy, Sơn vẫn canh cánh lo rồi có chuyện chẳng lành sẽ
đến. Mặc dù ngay hôm sau gặp mặt, Chất vẫn lại vui vẻ chào hỏi, thậm chí còn
chủ động hỏi chuyện trước nhưng cái xởi lởi của con người ấy mới ẩn chứa những
điều khôn lường. Rồi còn chuyện, bỗng dưng dạo này Chất hay đi ngang qua phòng
Sơn. Khi thì sang nhà anh X xin mồi thuốc, khi thì sang nhà chị Y mượn cái nồi,
lại cả lý do đi dạo cho đỡ buồn, tất cả đều là những lý do biện minh chứ ai mà
không hiểu Chất đang giở thủ đoạn. Với ai thì mọi người không biết nhưng Sơn
biết. Còn điều Chất muốn là gì thì Sơn không thể đoán ra.
Rồi cho tới tận một
tháng sau, khi mọi người đã quá quen với sự qua lại của Chất và Sơn cũng thấy
mệt mọi cho việc rào đón mọi hành động của Chất với mình. Khi mà cái nắng hanh
ram ráp như đồng tình với hành động bí ẩn của Chất, bò vào lưng áo mà gãi buồn
buồn khiến con người ta uể oải, lúc nào cũng thiu thiu ngủ. Thì giữa trưa ngày
chủ nhật, bỗng dưng có tiếng hô thất thanh bật lên:
- Cháy! Cháy nhà
rồi! Mọi người đâu ra cứu, cháy nhà rồi!
Cả hai dãy nhà đang
nằm ườn, chìm trong giấc ngủ trưa đều bật dậy đổ xô đến chỗ có tiếng hô thất
thanh. Chất vung tay như vị chỉ huy mọi người xông vào trận đánh.
- Vào cứu nhanh lên
không thì cháy hết cả bây giờ!
Nhưng có ai chực
xông vào dập thì Chất lại kéo ra, gắt gỏng:
- Muốn chết hay sao
mà vào tay không thể hả! Về nhà chuyển hết đồ đạc ra ngoài, cháy thế này lan
sang bây giờ đấy!
Những người ở gian
kế bên vội chạy về khuân đồ đạc nhà mình chuyển ra ngoài. Sơn ngái ngủ từ trong
phòng chạy ra, nhận ra sự việc vội chạy ra bếp múc xô nước định hắt vào dập thì
bị Chất giằng lại:
- Cắt điện chưa mà
dội nước vào, ông định tự sát phải không. Mau, đồng chí nào đi gọi cứu hoả!
Mà có nước đâu mà
dội. Mọi người ào tới những vòi nước công cộng nhưng tất cả như đều ngậm miệng
khô rang không rỉ ra được lấy một giọt. Những họng nước cũng đồng loã cùng ngọn
lửa.
Lúc mọi người đổ xô
đến mới chỉ thấy những đụn khói đùn ra từ chân tường, thế mà chần chờ có giây
lát, lo chuyển đồ nhà mình xong thì những lưỡi lửa đã bùng ra lém liếm từ chân
tấm liếp trước cửa phòng Sơn và đang chuẩn bị leo dần lên mái giấy dầu.
- Trời hanh heo thế
này không dập nhanh thì nguy!
Vẫn là tiếng Chất
gào thất thanh, thúc giục mọi người. Và chính Chất là người đầu tiên cầm cây
gậy tre xông vào dập lửa. Những tàn lửa toé ra như hoa cà hoa cải sau những cú
vung gậy của Chất. Như thế có khác nào mồi thêm cho những đám cháy khác bùng
lên. Ngọn lửa bùng lên ngày mọt to hơn, hắt hơi nóng rát rạt vào mọi người.
Chất chạy lùi ra ngoài, tay cầm theo chiếc sọt đựng rác trước cửa nhà Sơn.
Khi mọi người còn
chưa hết bàng hoàng vì đám cháy đã thiêu rụi nửa dãy nhà tập thể, còn bận đổ
tại cho nhau sao khi ấy ai cũng cứ như người ngủ mơ không chịu lao vào dập lửa
ngay từ đầu, thì ngành công an đã bắt tay vào điều tra nguyên nhân. Người đầu
tiên bị gọi đến cơ quan công an thẩm tra là Sơn.
Bước vào phòng làm
việc của các điều tra viên, vật đầu tiên khiến Sơn phải chú ý đó là chiếc sọt
đựng rác bị cháy nham nhở đặt giữa bàn. Không phải không còn hình thù nguyên
trạng mà Sơn không nhận ra sọt đựng rác nhà mình. Cả khu tập thể chỉ có Sơn
dùng sọt đựng rác bằng tre đan và được gia cố bằng những sợi dây đồng dưới đáy
để tăng độ cứng. Nhìn chiếc sọt rác khiến Sơn lúng túng. Nó ngồi chễm chệ trên
bàn khác nào đã có một nhân chứng buộc tội cho Sơn. Những ánh mắt của những
điều tra viên nhìn xoáy vào Sơn như muốn mổ xẻ tâm trạng thực hư của Sơn thế
nào.
- Đồng chí biết vật
này chứ?
Chưa kịp hỏi đây có
phải là nơi Sơn được mời đến làm việc thì một câu hỏi cất lên của người điều
tra viên ngồi khuất sau chiếc sọt.
- Dạ, hình như là
của tôi. - Sơn lúng túng trả lời rồi nhìn quanh xem mình nên đứng với tư thế
thế nào tại nơi lạ lẫm này.
- Đồng chí ngồi
xuống ghế đây! - Vẫn người điều tra viên nọ chỉ ghế cho Sơn ngồi mà tư thế
người của anh ta không thay đổi: - Đồng chí xem lại cho kỹ rồi khảng định cho chắc, có phải của đồng chí hay không!
Sơn xoay chiếc sọt rác kiểm tra kỹ càng. Đúng
là những nút dây đồng buộc không được chặt của mình. Xoay tiếp, thì không thể
nào không công nhận được bởi chữ “Sơn” viết bằng sơn xanh để đánh dấu vẫn còn
nguyên. Sơn khảng định chắc chắn:
- Vâng, đây là sọt
rác của tôi. Tôi khảng định chắc chắn!
- Vậy là rõ rồi.
Đồng chí có biết, đám cháy được phát ra từ đây?
- Điều này thì ...
thì... thực sự tôi không được biết bởi khi có cháy tôi đang ngủ trưa. Mà tôi
cũng không biết tại sao nó không bị cháy hết và lại ở đây!
Câu trả lời của Sơn
khiến người điều tra viên nổi nóng. Anh ta định đập mạnh tay xuống bàn nhưng
kìm lại được. Anh ta nói gằn:
- Đồng chí định ám
chỉ điều gì! Tôi hỏi đồng chí, trước khi đi ngủ đồng chí có vứt vật gì còn cháy
vào sọt rác không?
- Không. Hôm ấy tôi
không nấu ăn nên không vứt vật gì còn cháy vào đấy cả.
- Đồng chí hút thuốc
gì?
- Tôi chỉ hút Trường
Sơn.
- Đồng chí có giữ
báo cáo tổng kết quý ba của sở không?
- Tôi không được
giữ. Nhưng bản báo cáo này tôi được biết bởi anh Thịnh có đưa cho tôi đọc.
- Tại sao đồng chí
Thịnh lại đưa bản báo cáo cho đồng chí, trong khi đây không phải là trách nhiệm
của đồng chí?
- Vâng cũng có nguyên do. Quý vừa rồi,
anh Thịnh đi nước ngoài học, anh Chất ở nhà thay cho nên anh Chất viết báo cáo
này. Anh Thịnh về, đọc trong báo cáo thấy có thấy những điều không tốt về tôi
cho nên đưa cho tôi đọc để hỏi xem có phải đó là sự thực. Đúng là nguyên tắc
thì anh Thịnh không được làm thế nhưng là chỗ anh em muốn hỏi cho rõ để giúp đỡ
nhau tiến bộ cho nên....
- Cho nên mới vì tình riêng mà làm sai
nguyên tắc, có phải không!
*
*
*
PHIÊN TOÀ ĐƯỢC MỞ. CÔNG TỐ VIÊN ĐỨNG DẬY
ĐỌC CÁO TRẠNG:
- .... Nay truy tố bị cáo với hai tội
danh - Thứ nhất: Cố tình làm sai nguyên tắc quản lý nhà nước, thông đồng làm lộ
bí mật của cơ quan. - Thứ hai: Có âm mưu che giấu tội lỗi dẫn đến vô tình huỷ
hoại tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa...
Cuối khán phòng bỗng bật lên tiếng phản
đối cắt ngang lời công tố viên:
- Tôi phản đối! Đồng chí Sơn không có tội
gì!
Chủ toạ đứng bật dậy, to tiếng hỏi:
- Đồng chí là ai? Ai cho phép đồng chí có
ý kiến khi chưa được toà cho phép!
- Bởi lời buộc tội vô lý, chúng tôi không
muốn nghe tiếp!
Mọi người trong khán phòng nhao lên đồng
tình với người phản đối.
- Đồng chí là ai? - Chủ toạ tức giận đập
tay xuống bàn.
- Tôi là Thuý, nhân viên y tế của cơ
quan, còn đây là tất cả các đồng nghiệp, đồng chí của anh Sơn.
Trước sự phản đối của mọi người, chủ toạ
đấu dịu:
- Đồng chí phản đối ở mục nào. Tất cả các
tội danh đã được cơ quan công an điều tra, đã được bị cáo xác nhận là đúng.
- Có những tình tiết khi điều tra không
được rõ ràng, hôm nay chúng tôi mới được biết. Thứ nhất: Tôi khảng định trong
sọt rác của anh Sơn chỉ có một tóp thuốc lá, bởi vì tôi đang bắt anh ấy bỏ hút,
hôm trước được phân phối thuốc lá, tôi đã giữ xuất của anh Sơn lại, buổi trưa
hôm ấy tôi chỉ cho một điếu để hút cho đỡ thèm, thế mà khi điều tra trong sọt
rác lại có hai tóp thuốc. Thứ hai: Sọt rác của anh ấy luôn buộc vào gốc cây dâu
da, có đậy nắp tôn để tránh gà bới, nếu có đốt cũng chẳng thể bắt lửa vào nhà
được, vậy sao hôm ấy lại để sát chân vách. Và còn một chứng cứ nữa, chúng tôi
lấy đâu ra xăng mà hôm ấy có mùi và có vết loang. Nếu cố tình đốt tài liệu thì
làm sao anh ấy phải cho vào sọt rác mới đốt. Còn nữa, anh Thịnh cho anh Sơn
mượn báo cáo đọc xong rồi trả ngay, cả một tuần ấy anh Sơn đi công tác, về đến
nhà vào ngày chủ nhật là bị cháy thử hỏi anh ấy lấy đâu ra bản báo cáo để đốt.
- Như vậy đồng chí cho rằng có người cố ý
hãm hại bị cáo?
- Vâng.
- Là ai?
- Chúng tôi làm sao mà biết được.
- Đồng chí có bằng chứng gì để chứng minh
cho những lời của đồng chí là đúng.
- Tôi chỉ nói những gì tôi biết.
- Những gì chúng tôi biết, đó là bị cáo
đã ký vào những lời khai đúng với cáo trạng viện kiểm sát đã đưa ra.
*
*
*
CHẤT ĐỌC XONG TỜ ĐƠN, MÔI MÍM CHẶT ĐỂ KÌM
XÚC ĐỘNG, TRONG MĂT VẰN những tia đỏ.
- Cô xin thôi việc thật sao?!
- Vâng!
- Tại sao?
- Em sẽ đi khiếu nại bằng được.
- Nó bị ba năm tù là toà đã xét tới công
lao của nó cống hiến cho cách mạng, chứ không chung thân còn nhẹ. Cô mà khuấy
lên thì có mà chôn nó.
- Thà bị chôn đi còn hơn là bị oan khuất.
- Người nhà, máu mủ ruột thịt không phải,
người thân cũng không, tại sao cô lại phải hy sinh vì nó. Tôi cũng thấy lạ.
- Chẳng có gì là lạ. Tôi với anh Sơn là
người yêu của nhau.
- ...!!
- Mà không phải là gì đi chăng nữa thì
thấy vô lý tôi phải làm cho ra nhẽ. Tính tôi anh còn lạ gì.
- Cô đang buộc thêm tội hủ hoá cho nó nữa
đấy. Tôi mà kiện thì cả hai đi tù!
- Có kiện một lần nữa cũng chẳng là gì!
- Thế ra cô đổ vấy cho tôi làm hại thằng
Sơn?
- ....
- Tôi mà hại nó cũng chỉ vì tại cô!
- ...!!
- Thế Thuý không vì tôi mà ở lại được à!
- Anh không ký đơn tôi vẫn cứ thôi việc!
*
*
*
CHIẾC XE COM - MĂNG - CA KHỰNG LẠI TRƯỚC
RÃNH XẺ TÁT NƯỚC NGANG đường. Nó thận trọng tiến lên như dò dẫm độ trơn trượt
của mặt đường, rồi bất ngờ rú ga để vọt qua bờ đất. Không được rồi, rãnh nước
sâu quá, bờ đất sụt xuống kéo ngập bánh xe xuống bùn. Bánh sau quay tít. Khói
tuôn ra đen đặc. Chiếc xe rùng lên run bần bật nhưng không tiến thêm được chút
nào. Tiếng động cơ của chiếc xe gầm rú như lời gọi những trẻ chăn trâu, những
người nhổ cỏ lúa quanh đây kéo lại. Chiếc xe cố sức nhích dần lên từng tí một.
Bọn trẻ làng Trằm lũ lượt kéo nhau ra xem. Lần đầu tiên có ô tô đi vào làng.
Chúng rụt rè sờ vào thân xe rồi lập tức rụt tay lại cứ như sờ phải thú dữ sợ nó
cắn. Không phải lũ trẻ hoảng sợ mà dường như là chiếc xe hoảng sợ lũ trẻ cầm
cành, que chúng nhặt ở dệ đường quật túi bụi vào thân xe như quật vào mông con
trâu không chịu đi. Chiếc xe rú ga vọt lên thoát được khỏi rãnh nước. Lũ trẻ
nhẩy dựng lên reo hò thích thú. Chiếc xe chạy trước chồm chồm vượt qua những
rãnh xẻ, những ụ những mô đất, lũ trẻ chạy theo sau vung tay vung chân nhảy
múa, chẳng khác gì một con ếch bị lũ trẻ trêu chọc hoảng sợ bỏ chạy.
- Ông cốp về làng mình!
Bọn trẻ phán đoán, nếu không là ông cốp
thì còn có ai có thể ngồi trên xe com - măng - ca mà về làng được, nếu không
thế thì hoạ chỉ có là con vua cháu chúa. Chúng nhẩy lên nhòm vào trong xe nhưng
chỉ có thể nhìn ra người lái xe lạ lẫm, chứ những người ngồi ở ghế sau đều trong tối mờ mờ không biết là
ai. Không phải ai báo, người người kéo
nhau ra đón đứng chật kín cổng làng, những ánh mắt nghển lên trông chừng, dò
hỏi là ai về làng thế.
- Hay là xe về dự đám cưới nhà Ngà?
- Phúc bảy mươi đời nhà lý Ngà chưa có
cái vinh dự này.
- Nhà cô chỉ biết có chổng mông lên cho
thằng bố Võng ở nhà chứ đi đến đâu mà biết đã dè bửu nhà người ta.
- Lấy vợ hai mà mổ những ba con lợn bảy
mươi cân kia kìa, thằng cu Sông mổ hẳn hoi nhớ, làm bát tiết ngọt như đòng
đòng, xem ai về đây, mời vào làm khúc nhồi, nói chuyện thế giới thì phải nói
làng này không ai hơn được tôi.
Chiếc xe chồm chồm lao thẳng tới đám
người đứng chắn giữa cổng làng. Mọi người kéo áo nhau dạt ra như tránh con trâu
sứt mũi bị đứt thừng, hung hãn. Tiếng xe bim bim như nhảy dỡn cùng với những
hàm răng ghếch lên cười của những cô gái dúi vào lưng nhau đố dám nhìn vào
trong xe xem là ai. Chiếc xe từ từ lướt qua cổng làng chật hẹp. Người lái xe
thò đầu ra quan sát. Anh cu Võng tranh thủ hỏi:
- Ai về làng Trằm thế bác tài ơi?
Người lái xe mải quan sát không thể trả
lời câu hỏi ấy bởi còn giật giọng quát sau cú phanh chựng xe lại:
- Muốn chết hả! Mất đầu chứ chả bỡn.
Thằng bé nhảy lên bậc xe định thò đầu vào
trong xem cho rõ là ai, bị chiếc xe phanh dừng đột ngột khiến nó tượt chân rơi
xuống nhưng tay áo lại bị mắc vào thành xe không rời ra được. Nó bị treo lủng
lẳng như miếng giẻ bên thành xe. Xe dừng lại. Sơn mở cửa bước xuống gỡ thằng bé
ra, rồi quay lại chào bà con. Có lẽ mọi người ngỡ ngàng quá khiến không ai nhận
ra ngay thằng cu Sơn làng mình. Đến khi ông Veo tập tễnh bước lên, vỗ bàn tay
khùng khoè vào vai Sơn, hồ hởi chào thì mọi người mới ồ lên vui mừng:
- Oách thế hả chú mày! Cu Sơn con cụ tổng
đây mà, thế mà mọi người cứ bảo ông cốp nào. Mẹ cha con thằng Đủ không nhận ra
ông mày hay sao mà sấn lên xuýt nữa mất mạng.
Nhưng sau thoáng vui mừng, mọi người bỗng
chựng lại, lùi ra xa. Bởi, chẳng chuyện gì có thể qua khỏi dư luận của dân
làng, thằng cu Sơn bị xử ba năm tù cơ mà, đến giờ được bao lâu rồi mà có xe con
đưa về tận làng thế này không khéo gặp phải chuyện tày đình, mất mạng chứ chẳng
bỡn!? Nhìn ánh mắt của mọi người Sơn hiểu cả làng Trằm đang nghĩ gì về mình. Và
anh Thịnh cũng hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra ngoài xe. Anh Thịnh điềm đạm
bước xuống. Còn mọi người đồng loạt quay lại sau để nhường đường cho bà Thư sấn
tới chỗ em mình:
- Thằng cu Sơn về phải không! Em ơi, thế
này là thế nào, mới đầu hè chị đã phải dứt lòng với em ở toà án cơ mà, sao bây
giờ lại xảy ra thế này đây hả em ơi!
Sơn đã lường trước được tình huống này
nhưng đến khi gặp phải thì lại lúng túng không biết xử trí ra sao. Anh Thịnh
cũng lường trước được mọi việc, mở cặp lấy ra tờ báo giơ lên trước dân làng:
- Xin giới thiệu với bà con, tôi là lãnh
đạo của thành phố, cũng là người có liên đới đến vụ án của đồng chí Sơn. Có tờ
báo chụp hình tôi phát biểu ở hội nghị trung ương, bà con xem có đúng là tôi
không.
Chờ cho mọi người chuyền tay nhau xem tờ
báo, rồi những ánh mắt tin tưởng nhìn mình, anh Thịnh mới tiếp lời:
-Báo ngày hôm qua còn rõ nét lắm phải
không. Tôi làm vậy để bà con tin. Và tôi cũng đứng ra trước dân làng để thanh
minh cho đồng chí Sơn thì bà con mới thực sự tin đồng chí Sơn, có phải vậy
không nào. Trước hết tôi có lời xin lỗi với gia đình đồng chí Sơn sau là xin
lỗi với toàn thể dân làng Trằm, do tôi đã quản lý nhân viên dưới quyền không
được sát sao cho nên mới dẫn đến sự oan uổng cho đồng chí Sơn. Nhưng ... - Anh
Thịnh dừng lời quay lại mở cửa xe, mời Thuý đi ra: - Nhưng trước hết dân làng
phải cám ơn sự dũng cảm đấu tranh cho sự thật của đồng chí Thuý. Nếu không có
đồng chí Thuý thì sự thật đã bị che lấp và đồng chí Sơn không tránh khỏi oan
sai.
Mọi người đã hiểu hết sự thật. Đúng là
ông cốp thật, cán bộ cấp thành phố mới được xe com - măng - ca đưa về tận làng.
Bỗng ai đó hét dựng lên:
- Cưới đi, cưới vợ hai đi cu Sơn, làng
mình có hai đám cưới lấy bà hai!
Đám cưới nhà Ngà vắng tanh vắng ngắt.
Những mâm cỗ ế để ruồi bậu đen. Trẻ con còn bận tâm khám phá sự kỳ diệu của
chiếc xe lần đầu tiên đỗ ở sân kho làng mình. Người lớn ngồi chật sân nhà bà
Sông nghe anh cán bộ thành phố có tài kể chuyện thời nay mà hay không kém gì
những tích chuyện cổ.
ĐOẠN KẾT
Khi tôi cất tiếng khóc chào đời thì những
hạt mưa bắt đầu rơi xuống. “Số thằng này rồi đỡ vất vả hơn bố mẹ nó rồi đây!”
Mọi người hít sâu luồng khí mát lạnh của trận mưa đem tới sau những ngày nắng
nóng ngồn ngột, nhìn ra ngoài trời mà đoán tướng số cho tôi vậy. Nhưng không ai
ngờ, nhìn trời xanh ngằn ngặt tưởng chỉ mưa chốc lát thế mà ở đâu đùn ra những
khối mây xám xịt, khổng lồ xây thành đắp luỹ để chuẩn bị đè sập xuống, nhấn
chìm trần gian trong biển nước. Trời đổ xầm xì như bóng đêm đã chụp xuống.
Những tiếng sấm kinh thiên động địa khiến tôi giật mình khóc thét lên lanh lảnh
như định thi giọng cùng ông trời. Ông trời ra roi đe doạ tôi bằng những sợi mưa
vừa dai vừa dài chẳng khác nào ngọn roi mây quất vi vút trong không trung.
Những hạt nước quật mình đèn đẹt xuống mặt đường giận giữ. Mưa tầm tã mấy ngày
liền. Nước dềnh lên ấp ứ đường phố. Mấy vùng nông thôn bị lụt lút nóc nhà.
Đấy là sau này lớn lên tôi mới được nghe
mọi người kể lại, chứ lúc ấy chỉ là một mầm sống mới chồi lên thì sao đã biết
chuyện gì xảy ra quanh mình. Ông giời có khiến tôi giật mình bằng tiếng sấm thì
cũng để chứng minh uy quyền của ông ấy với trần gian chứ nào một sinh linh nhỏ
bé như tôi khi ấy có biết gì đâu mà sợ.
Bố tôi khi ấy nghĩ khác. Ông ôm chiếc cặp
lồng cơm trước ngực để tránh mưa hắt, chờ bệnh viện mở cửa mang vào cho mẹ tôi.
Người rét run vì nước mưa, ông liên tưởng, không biết ngày ông sinh ra cũng là
một trận mưa kinh hoàng, liệu có giống như trận mưa này không nhỉ? Ông cũng chỉ
được nghe kể lại chứ nào khi ấy đã biết gì đâu nhưng hai sự kiện một trong trí
tưởng tượng, một đang xảy ra trước mắt có điều gì đó giống nhau khiến ông nghi
ngờ về thân phận của tôi rồi cũng vất vả như cuộc đời ông. “Thuý bây giờ được
các y bác sĩ chăm sóc, nâng đỡ chứ không phải vượt cạn đến kiệt sức như u (tức
bà nội tôi) ngày xưa. - Bố tôi mừng mừng, lo lo thầm nghĩ như vậy: - Và chắc số
thằng bé rồi cũng không phải long đong lận đận như mình”. Ông tự an ủi.
Tôi là một thằng bé ăn khoẻ, mới ba tuổi
mà ăn xuất của người lớn của bếp ăn cơ quan không đủ. Bữa trưa, ông dẫn tôi
sang bên vườn hoa để dỗ dành cho tôi ăn được nhiều. Hết leo lên ghế đá lại trèo
lên lưng con cóc phun nước, không thì chui vào bụi cây nào đó khiến bố tôi đuổi
theo mướt mát mồ hôi mới xúc cho tôi được thìa cơm. Trưa nào cũng vậy, phục vụ
bữa ăn cho tôi xong, ông đưa tôi lại nhà giữ trẻ của cơ quan rồi chuẩn bị vào
làm với cái bụng đói meo. Bà nhà bếp biết chuyện đôi khi để phần lại cho ông
miếng cháy, không thì khi chia cơm gia gia cho xuất của tôi thêm một bát. Khi
ấy mẹ tôi phải theo cơ quan mới đi làm xa, cả tuần về nhà một lần vào chủ nhật.
Ấy là sau này tôi mới được nghe kể lại,
chứ bằng ấy tuổi chỉ cốt sao cho lo bụng mình, như con lợn con gà hết đói thì
không kêu chứ đã biết thế nào tới người khác. Tôi lớn lên trong sự vô tư con
trẻ như vậy.
Tôi không biết ngày đầu tiên mình bước
chân về mảnh đất làng Trằm thế nào. Cũng không ai kể cho tôi nghe một chuyện
nào liên quan tới việc ấy. Bởi hai tiếng về quê đã định sẵn trong tiềm thức,
như là một chu kỳ vận động sinh lý trong cơ thể mỗi con người Việt Nam, cho nên
nào đâu có ai đặt cho mình một dấu ấn để nhớ. Tôi chạy nhẩy những đâu, làm
những việc gì, tất cả chỉ là những hình ảnh mờ ảo như nhìn hình của mình dưới đáy giếng đục. Ngay
cả chuyện, một hôm trời mưa, tôi cùng một đứa trẻ nữa chạy theo hai chị của mình
ra cánh đồng. Nước trắng băng phủ kín bờ ruộng, đứa trẻ kia không dám đi tiếp,
còn tôi vẫn bì bõm chạy theo. Tôi chạy chệch ra khỏi bờ, tụt người xuống chuôm, ngụp lút đầu. Tôi vùng
vẫy, quẫy đạp thế nào, uống căng bụng nước ra sao đôi lúc muốn nhớ lại cũng
không thể nào định hình được, cảm giác của người chết đuối ra sao cũng không
nhớ nổi. Nhưng cái bạt tai của chị Núi, chỉ là đánh đùa thôi nhưng cảm giác rát
bỏng gáy vẫn lưu lại cho đến giờ. Tôi còn nhớ khi ấy mình đang khổ sở để ựa
nước trong bụng ra thì hai chị cười rí rách, mắng rằng cái vũng nước nhỏ thế mà
cũng bị chết đuối. “Đấy mà là cái vũng à, có con gì to lắm, dài phải cỡ hai đòn
gánh, đầu to bằng cái đấu, quấn chặt lấy chân em rút tụt xuống, cái vũng thì
làm sao mà nó sống được!” Buổi chiều hôm ấy, tôi một đứa bé tám hay chín tuổi
gì đó vì tức hai chị biết em bị uống nước no lại còn cười đã biết bịa chuyện
doạ lại. “Hình như là rắn ma ở sông Vàng bò vào!” Hai chị lại được một phen
cười cái thằng bé khéo ba hoa. Ngay tối đó, đoàn thanh niên tổ chức chia tay
thanh niên lên đường nhập ngũ ở sân đình. Tôi cũng ra xem. Hát hò đang rôm rả,
bỗng có tiếng la hốt hoảng: “Anh Thạo vừa đứng đây đâu rồi!?” “Chẳng nhẽ anh ấy
trốn mọi người về nhà!” “Không khéo muốn đảo ngũ!” “Ác mồm thế!” Có tiếng nước
lũm bũm dưới ao đình. Mọi người dồn lại xem sự thể. “Thạo hả, có phải Thạo đới
không?” Lều bều như mớ bèo tấp dưới chân cầu ao, nhưng lại động đậy như là
người khiến mọi người sờ sợ hỏi với xuống. Chị Núi là người bạo dạn, bước xuống
bậc sát mặt nước, đập tay vào mớ đen đen bên dưới. Chị giật mình rụt tay lại,
thất thanh: “Ối giời, người!” Mớ đen đen nổi trên mặt ao dường như cũng bị giật
mình theo vùng dậy, vội vàng bám vào cầu ao lần lên. Thì ra là anh Thạo. Anh ta
ngây ngây như dại nhìn mọi người. “Mày làm sao thế?” “Bị ma rút. Có con gì to lắm
quấn chặt lấy chân tao kéo xuống!” “Thế thì giống cậu mày khi chiều cũng bị
thế!” Chị Núi kéo tôi sát vào người chị, giữ chặt. Anh Thạo đi bộ đội được một
năm thì có giấy báo tử gửi về.
Rồi một lần, tôi bị cái nhọt to bằng quả
ổi, u già cõng tôi sang nhà anh y sĩ, nghe nói phải dùng dao lam cắt miệng để
nặn mới ra ngòi, nhưng cảm giác đau đớn thế nào không còn lưu lại trong trí
nhớ. Thế nhưng hình ảnh khi u già cõng tôi về, đường làng tối đen như mực, cảm
giác bồng bềnh như trôi thì còn đọng lại.
Nhưng có một hình ảnh đọng lại rõ nét
nhất và cũng đem lại cho tôi những xúc cảm nhất đó là khuôn viên nhà lý Ngà.
Tường gạch xây cao quá tầm đầu người lớn, mạch vữa thẳng căng chứng tỏ sự cầu kỳ của chủ nhân.
Nhưng cánh cửa lúc nào cũng đóng im ỉm, nặng trình trịch thì lại chỉ được ghép
cẩu thả bằng những mảnh gỗ xoan cong vênh, sần sùi những đường bào vụng. Cho dù
có những khe hở rộng hoác nhưng đố có ghé mắt nhìn sâu được vào bên trong. Một
cây nhãn tán xoả sát đất che kín tầm nhìn, trước mắt chỉ thấy màu đen đục. Và
con chó hung tợn bên trong không để ai có thể thoả chí tò mò bằng tiếng hộc như
thổi ám khí vào mắt người ta, tiếng gặm cánh cửa sồn sột đầy chết chóc. Tôi
cùng lũ trẻ trèo lên đống rơm nhà cu Rạ nhìn vào. Cây cối um tùm không thấy
được lối đi. Ngôi nhà thấp thoáng sau những lùm cây. Những hốc cửa tối đen lúc
ẩn lúc hiện như ma trận. Một khuôn viên bí ẩn, chứa đầy chất điệp vụ, chất
trinh thám hoặc là những phế tích hoang tàn, ma thuật, mỗi lần là một câu
chuyện tôi tưởng tượng lại từ những cuốn truyện đã đọc để kéo lũ trẻ xuống.
“Ông cụ nhà ấy chết bờ chết bụi nên thành con ma hay đi lang thang để lát
người, tao đố đứa nào trèo vào trong đấy, ma bóp cổ lè lưỡi!” Đó là lời bọn trẻ
tái xanh tái xám mặt sau khi nghe chuyện của tôi dằn nhau. Nhưng quả thực mãi
sau này, khi lớn lên đi làm, phải khai trong lý lịch bố tôi bị bắt đày ra Côn
đảo tôi mới được biết về những mâu thuẫn giữa gia đình tôi với gia đình nhà lý.
Em tôi tên là Ngà - Đó là thâm ý: “Mày
chỉ đáng mặt làm con tao thôi!”. Tôi chỉ được biết điều này vào một buổi tối,
chưa khi nào thấy bố tôi lại nổi cơn thịnh nộ với người khác như vậy. Đó là hai
vị: Bí thư chi bộ thôn Trằm và đảng uỷ viên xã. Họ xuống xin xác nhận để kết
nạp cho anh cu Vương, con trưởng của lý Ngà vào Đảng. Họ xin xác nhận bố tôi bị
bắt không liên quan gì tới lý Ngà. Bố tôi lặng im. Họ chuyển sang vấn đề tình
làng nghĩa xóm, vấn đề nghĩa cử cao thượng của dòng họ nhà tôi để giúp đỡ một
con người đang hết mình cống hiến cho làng xã, cho sự nghiệp cách mạng của dân
tộc. Bố tôi lặng im. Đường xá xa xôi, lại phải chìm trong thứ ánh sáng vàng vọt
của ngọn đèn điện thiếu công suất, phải đối đầu với không gian tĩnh lặng của
gian phòng, hai vị cán bộ xã mệt mỏi vừa ngáp lệch quai hàm vừa nói, sau rồi
mắt họ lim dim, cái miệng trèo trẹo nói ra những câu chẳng ăn nhập gì, tôi ngồi
gần cũng chẳng nghe ra. Ông bí thư chi bộ thôn khật khưỡng như người mộng du,
ra ngoài mãi đâu mang về một con gà trống thiến và đùm gạo nếp trong chiếc bao
tải vá víu bằng mấy mụn vải. Vừa nhìn thấy vậy, bố tôi đập bàn đứng phắt dậy.
Mắt ông long lên dữ tợn, quát:
- Con Ngà đâu!
Cái Ngà thấy bố quát, hoảng sợ vội ôm
choàng lấy mẹ, miệng mếu máo nhưng không dám khóc. Mẹ tôi có lẽ đã chuẩn bị sẵn
tình huống này, vội bế em tôi đặt xuống trước mặt bố. Bố tôi nghiến răng, giằn
giọng:
- Con tao cũng là Ngà, thằng Ngà mặc váy,
chúng mày lạy được thằng Ngà ở quê thì
bây giờ chúng mày có dám lạy con Ngà này không! Chúng mày đủ gan thì tao
sẽ xác nhận cho. Nếu không làm được thì bước!
Năm ấy tôi mười tuổi, chưa đủ nhận biết
được hai vị thuyết khách ấy ra về với vẻ mặt thế nào để sau này nghĩ lại còn tỏ
thái độ. Còn bố tôi ngồi thần thừ một lúc rồi buông tiếng thở dài:
- Tội nghiệp cho hai thằng, trời lạnh thế
này ngủ vạ vật ở ga!
Tôi cũng thấy thương thương họ. Hai vị ấy
rúm ró chắp tay trước bụng chào vội bố tôi không thành tiếng rồi khép nép cúi
đầu lùi ra khỏi cửa đã tạo cho tôi ấn tượng, người quê mình sao cứ phải hạ thấp
mình thế.
Đấy là chuyện bây giờ khiến tôi nhớ lại,
chứ hai mươi nhăm năm tiếp sau ấy, chưa một lần gia đình tôi nhắc tới chuyện
nhà lý. Hình ảnh ấy tôi cũng đã quên có lẽ ngay từ sáng hôm sau ngủ dậy. Những
năm sau này tôi có về quê, đi qua nhà lý, tường gạch đã bị vỡ vài đoạn, cánh
cổng đóng im ỉm ngày xưa không còn nhưng tôi chưa hề đưa mắt nhìn vào trong ấy
lấy một lần. Quả thực là do tính tôi không thích tò mò những việc nhà khác chứ
chẳng phải hằn thù, cố chấp chuyện xưa đâu. Mà chuyện xưa thì đến bây giờ bác
Nhụ mới kể lại, tôi mới biết.
“Bà Sông sắp chết rồi, cậu mợ tranh thủ
về, hai bà ngày nào cũng nhắc gọi cậu về!” Mấy lời nhắn vội của con chị Núi. Bố
tôi mất đã được mấy năm, một quãng đời sắp qua của dòng họ Nguyễn làng Trằm chỉ
còn hai bà. Hôm nay tôi về, bà Sông tròn một trăm tuổi, bà Thư tròn tám mươi.
Con tầu rung lên bần bật như kẻ lên cơn sốt
rét ác tính. Thời buổi hiện đại hoá tại sao người ta vẫn dùng tới con tầu cũ kỹ
thế này. Không khéo đang chạy trật đường ray thì hai bà già lão ở quê chưa ra
đi thì tôi tóc còn xanh đã phải chào trước. Từ làng tôi ra tới đường quốc lộ
bắt xe ô tô khách cũng phải tới hơn hai chục cây, xe máy thì gia đình còn nghèo
chưa mua được, vì vậy tầu hoả có chạy lê chạy lết trên đường thì vẫn cứ phải
bám vào mà đi. Chính thế, ngày bố tôi mất, mấy anh em lo việc không ai có thể
về quê báo, đánh điện qua bưu điện thì phải hai hôm sau mới nhận được. Khi họ
hàng ra nhìn mặt cụ lần cuối thì cụ đã nằm sâu dưới ba thước đất. Chị Núi giận
dỗi hờ trước nấm đất, rằng bấy lâu bố đã không quan tâm tới, gì (tức mẹ đẻ tôi)
lại coi chị không phải là con, còn chúng tôi thì lạnh nhạt với quê hương bản
quán. Đoàn tầu ậm ịch, ngả nghiêng như chao trên sóng khi phải qua những đoạn
đường đang sửa. Hành khách sốt ruột thò đầu ra ngoài cửa sổ trông ngóng. Khi
tụt lại, bộ mặt nào cũng nhăn nhó, cáu kỉnh với nhau như người khó tính bị mắc
oan. Còn tôi chẳng vội gì. Hai bà bác tôi tuy già lão nhưng còn khoẻ lắm, khác
nào khúc rễ xà cừ dai ngoách bám sâu xuống đất, chẳng thể dễ dàng đào trốc lên
ngay được. Đằng nào thì hết ngày cũng về được đến nhà, thong thả cho tư tưởng
được thoải mái mỗi khi về quê. Còn nửa tháng nghỉ phép, hai bà muốn nhắn nhủ
điều gì cũng chẳng sợ hết thời gian. Bác Sông vừa chẵn trăm tuổi, thế là đã năm
năm tôi không về quê. Tệ thế! Lần trước về mừng thọ chín năm tuổi tôi còn đùa,
rằng sao bác cứ chùm chiếc khăn vuông màu đen tùm hụp, khuôn mặt chỉ thấy những
hốc tối, duy chỉ nhìn thấy đôi mắt trắng như miếng cùi dừa treo vào (chả là bác
ấy bị lông quặm mấy chục năm, không có điều kiện chữa chạy nên hai mắt bị
hỏng), nếu có thêm cái lưỡi hái thì khác nào thần chết hiện hình. Bác chửi “Tổ
bố nhà chú thằng Sông, bà còn phải sống đến trăm tuổi!” Giọng của bác còn lanh
canh như tiếng thau đồng thì trăm tuổi còn phải lùi lại xa. “Trăm tuổi rồi, lẫn
lắm, chẳng còn sống được thêm bao năm nữa đâu!” Mấy đứa cháu ra chơi còn hậm
hực thêm mấy lời ho bõ: “Dạo này bà hay chửi lắm. Mà cứ nhằm vào lúc nửa đêm bà
chửi. Thế thì là cái điềm rồi phải không cậu, lo hậu sự cho bà là vừa.”
Mọi lần về đến ga chỉ quãng năm giờ
chiều, thế nhưng chuyến tàu hôm nay bảy giờ mới tới nơi. Chiếc đầu máy phả hơi
nóng hầm hập, phình phịch xả hơi như người đang phải vật lộn với cơn sốt ác
tính. Mới đi hết đất Đồng Trung tốp người xuống ga chỉ còn lại mình tôi. Mà từ
ga về làng mới được có nửa đường đất. Thẻo đất làng Trằm cô quạnh quá, tôi đâm
bẳn gắt một mình khi phải trầy trật với bóng đêm và con đường lục cục những đất
đá mới đổ như đang bị lạc xuống một vực đá sâu thẳm. Kẹc kẹc. Lũm bũm. Roóc
roóc. ... Bất thần những hỗn tạp âm thanh ấy rộ lên râm ran. Những âm thanh
trong đêm vắng như những con giun nước không những chỉ ngoe nguẩy trước mắt mà
nó còn cọ vờn vào làn da khiến tôi rùng mình, sởn gai ốc. Những âm thanh này
như lời nhắc, thế là về tới cuối làng Chuông đầu làng Trằm của tôi rồi. Con
đường chỉ hiện lên dưới bàn chân, chứ trước mắt là bức tường đen vững chắc tôi
phải gắng sức lao vào mà không chắc có biết mình đang đi đúng.Một bên là đầm
ấu, một bên là nghĩa trang, đi trật về bên nào cũng đều gặp những chuyện không
hay. Không có gì phải sợ, ngày trong bộ đội, tôi đã từng bị lạc trong rừng suốt
đêm còn không sợ nữa là ngay trước kia đã là nhà mình. Có phải ánh đèn nhà ai
hắt bóng le lói sau bờ tre. Tiếng dép dưới chân miết xuống mặt đường rồn rột.
Tiếng cưu cứu của con cò đêm giăng ngang bầu trời. Tôi bỗng nghe mồn một, đâu
như có luồng khí thổi phần phật trước mặt. Liệu đó có phải hơi thở của mình?
Tôi không còn nhận ra những hoạt động của ngay chính mình. Thế là gì? Tôi nghi
ngờ bởi có giọt sương thì phải rơi xuống cánh mũi tôi lạnh buốt. Chẳng lẽ mình
lại thấy sợ. Đến đoạn nào rồi nhỉ? Tôi định nhìn quanh để xác định vị trí. Khớp
cổ dường như đã bị bó cứng khiến tôi không quay được.
Bỗng nhiên, ngay cạnh tôi một khối sáng
cỡ chiếc bóng đèn, đỏ rờ rợ như từ trong lòng đất phóng vọt lên. Ánh sáng của
khối lân tinh khiến tôi nhìn ra ngôi mộ trắng bàng bạc ngay cạnh đường. Cơ thể
tôi bị nỗi sợ hãi nẹp cứng, đau nhức nhối ở cổ, ở hai vai. Sương sống của tôi
bị co rút lại. Da đầu, da mặt bị kéo căng tê dại. Tôi đi hay tôi chạy, hay là
tôi bay, đâu còn lý trí nữa mà nhận biết được.
Bỗng nhiên tôi đâm sầm vào một đống hỗn
độn gì đó, nhằng nhịt những dây dợ, gai góc. Chỉ có màn đen bưng trước mắt. Hay
bóng đêm là thế, mình đã đâm vào tận cùng của nó. Khắp cơ thể tôi bị cào, bị
chọc đau nhói. Tôi vùng vẫy để tự giải thoát những hỗn tạp gì đó bám chặt lấy
quần áo mình. Ma trêu chăng. Ngày xưa, bọn trẻ hay kể chuyện bị ma trêu khi đi
một mình trong đêm vắng. Tôi giũ. Tôi hất. Được giải thoát khỏi vướng víu, tôi
lao chạy về phía trước. Đó sẽ là con đường về làng. Tôi cảm nhận về con đường
theo lý tính. Nhưng tôi đã nhầm thì phải. Những hỗn tạp gì đó lại cản bước tôi
lại. Hình như nó tức tôi vì có bị mù đâu mà cứ đâm đầu vào nó, ra sức cào xé
tôi đau buốt. Hai bóng lân tinh nữa bay vút lên. Con đường lờ mờ hiện ra trước
mắt tôi. Tôi đã đi vào lối nào thế này, lao đầu vào những bụi tre rong um tùm.
Con đường ở bên tay trái cơ mà. Nhà ai lại trồng re ở đây, chắc quây vào để làm
vườn. Lúc này những vết cào bị mồ hôi ngấm vào sót tê tái. Nhưng như vậy khiến
tôi tỉnh táo lại, nhận ra mình đã bình tĩnh trở lại và cắm đầu chạy theo con
đường vừa nhìn ra.
Mình chạy nhầm đường chăng. Linh tính
mách tôi, đây không phải con đường mọi năm về tôi vẫn đi. Nhưng có đường thì cứ
phải chạy đã. Ngực tôi thắt lại, quặn đau. Tôi dừng lại ôm ngực, gắng sức nuốt
những bụm khí chẹn ngang họng để thở. Xung quanh vọng lại những tiếng lách cách
va chạm của sự sống. Thế là mình đã xa khu nghĩa địa. Tôi đã dễ thở hơn, lấy
lại bình tĩnh nhìn lên để xác định vị trí. Tôi nhận ra, mình đang đứng trước
một mái nhà. Cũng dễ nhận bởi màu đen của nó sậm hơn, in hằn lên màu đen của
không gian. Đây là đâu mà có mái nhà to thế nhỉ? Cả một khối đen khổng lồ, sừng
sững như trái núi trước mặt. Hình như nhà không có người ở. Tĩnh lặng như thể
nhà để hoang. Mình đã lạc vào làng nào? Tôi ngơ ngác quay nhìn xung quanh. Lạ
lẫm giữa bóng đêm khiến nỗi hoảng sợ bắt đầu dâng lên. Chân tay tôi run bắn. Có
lẽ còn sợ hơn lúc nãy, cứ như mình đã lạc xuống địa ngục. Nếu như không có
những ánh đèn xuất hiện đang tiến đến gần mình. Tiếng cười ròn rã. Có lẽ tốp
người kia là đám thanh niên đi chơi về. Chờ tốp người đến gần tôi gọi với lại
hỏi:
- Các anh chị ơi, cho tôi hỏi nhờ!
Tốp người định rẽ sang hướng khác, nghe
tiếng gọi dừng lại, giơ đèn lên soi về phía tôi. Những bộ mặt sau ánh đèn đỏ
như mặt quỷ sứ cất tiếng hỏi lại:
- Ai đấy? Sao giờ này đứng một mình ở
đây?
- Không khéo là ma!
- Tiếng một cô gái.
Có lẽ cô gái nói
đùa. Tôi thấy tự tin hơn hỏi:
- Cho tôi hỏi, về
làng Trằm lối nào?
Tốp người giơ cao
đèn hơn, lò dò những bước chân nghi hoặc tiến lại gần tôi để nhìn cho rõ. Bỗng
một người reo lên ngạc nhiên:
- Ông trẻ phải
không! Ông về hồi nào. Sao lại đứng đây? Ông đang đứng ngay trên sân đình làng
mình lại còn hỏi.
- Ông bị ma làm hả
ông trẻ!
- Đây là sân đình!?
Sao lại là sân đình?
- Ông trẻ năng về
quê quá đấy mà. Xã hội phát triển thì làng xã cũng phải thay đổi để phát triển
theo chứ.
- Mày còn là bí thư
chi đoàn nữa không, nói năng đúng như sách. Thế là thế nào?
- Thế nào thì chờ
mai sáng sẽ tường. Thế ông đã nhận ra đường đi chưa hay để chúng cháu dắt tay
về. Hai cụ ngóng ông trẻ từng giờ.
Thằng Sách, cháu nhà
anh Cự chi dưới, ngày xưa là bí thư chi đoàn, giờ làm kế toán cho thôn. Nó chỉ
trả lời tôi thế, chứ hỏi đường đi lối lại bây giờ sao lạ thế thì nó bảo đến
sáng mai sẽ thấy.
- Cháu yêu cháu quý
về rồi đây này, hai cụ nhanh chân ra mà đón không là cháu mang đi mất lại khóc
hết nước mắt bây giờ. - Vừa vào đến cổng, cu Sách đã ơi ới gọi.
- Quà quạ, cha tổ
tiên sư chúng mày, ăn lắm vào mà béo mầm như con sâu ấy à!
- Cụ đang luyện
thanh để thi vào khoa thanh nhạc đấy.
Không cần phải câu
nói đùa của cu Sách tôi nhận ra ngay tiếng chửi ấy là của bác Nhụ. Tôi thấy tủi
thân, cố nuốt khan nước bọt để nước mắt không trào ra.
- Ông trẻ về đấy
phải không! Thằng cu Sách gọi làm cụ giật mình, sắp sửa rồi đấy.
Chị Nụ trong nhà
chạy ra đón tôi. Trên tay chị bế đứa trẻ. Chị bước vội vã, bóng ngả nghiêng
trong ánh sáng tờ mờ của ngọn đèn điện sáu oắt treo trước cửa nhà.
- Ông trẻ về bên cô
Núi từ chiều à. Sao không sang ăn cơm với cụ.
- Em từ ga về đây
luôn. Bác sao rồi? Nghe tiếng chửi còn lanh lảnh thế chắc chưa đi được đâu.
- Mong đi cũng chẳng được. Thế nào cũng
chửi đến sáng cho mà xem. Cháu chào ông trẻ này. Bố mẹ nó mải đi làm ăn, vứt
con lại cho chị, vừa chăm cụ vừa chăm cháu, quay như chong chóng. Cậu ra bể rửa
mặt đi, tôi thổi ù bát cơm cậu ăn. Tầu hôm nay sao lên muộn thế?
Vục nước giếng lạnh tê trên mặt.
- Quân bạc như vôi, mày chết đâm chết
chém, chết đầu đường xó chợ.
Nước mắt tôi ầng ậng.
- Chị đĩ đâu. Cái máu cái mủ trong váy bà
mà mày cũng vơ vào mồm mà ăn à!
Tôi nhìn chị Nhụ. Người chị mỏng như ngọn
lửa, lay lắt trong ánh sáng bập bùng. Tôi buồn, thẫn thờ đi vào nhà.
- Thằng cu “Tũn” bế tao xuống!
Tôi đứng lặng người trước cửa. Bác Nhụ
gọi cái tên hồi bé của tôi mọi người vẫn gọi! Giọng của bác hoàn toàn tỉnh táo
chứ đâu có phải những câu lẫn cẫn của người sắp chết như vừa mới đây thôi.
Nhưng bác ấy đâu? Tiếng gọi vừa rồi phát ra từ chiếc giường bên này hay là
chiếc giường bên kia. Mù mờ tối. Hỗn mang trong gian nhà. Hỗn độn những chiếu
chăn, quần áo trên hai cái giường ở hai gian nhà khiến tôi không nhìn thấy bác
Nhụ đâu. Hay cũng chỉ là những câu lẫn cẫn mà bỗng dưng bác gọi tên tôi thôi.
- Còn đứng đấy à! Bế tao xuống đất!
Đúng là bác ấy nhìn thấy tôi và những lời
lẽ ấy thì ai nghĩ đó là của người sắp chết như mấy đứa cháu thông báo. Tôi
chùng chình trên tầu đó cũng là linh đúng. Và tiếng nói ấy đã giúp tôi xác định
được nơi bác nằm. Tôi tiến lại chiếc giường, nơi vừa phát ra tiếng giục của bác
Nhụ. Tôi luồn tay vào đống quần áo, chăn màn lần sờ, bóp bóp như mò cá dưới bùn.
Tay tôi bóp phải một khẩu gì rắn, lạnh.
- Cha bố nhà anh, tôi khiến anh bóp chân
cho tôi đấy à, bóp vụn xương tôi rồi.
Tôi giật nẩy người, rụt vội tay lại. Chân
bác Nhụ! Nằm trong chăn mà chân bác lạnh và nhẫy như khẩu tre non ngâm nước.
Thảo nào không đứa cháu nào dám gần. Cánh tay bác rút ra khỏi chăn với về phía
tôi. Tôi đỡ tay bác. Bàn tay khô đen như xác ướp, nghều ngào bấu vào cánh tay
tôi.
- Gớm ở thành phố ăn nhiều, thịt rắn thế.
Bác ấy tỉnh táo lắm. Có lẽ chỉ là ngọn
đèn sắp cạn dầu, chợt bùng lên giây lát để rồi tắt hẳn. Tình cảm giữa những
người ruột thịt như ngọn lửa được thổi bùng lên, tôi nắm chặt lấy bàn tay bác.
Cái lạnh từ cơ thể của bác, dấu hiệu của một con người đang dần mất hết linh
khí của sự sống lan toả sang đã khiến tôi xúc động. Ông lái đò trên dòng sông
chở kiếp kia ơi đưa bác tôi sang sông phải cố lựa dòng sao cho êm ái một chút.
Tôi mới đụng nhẹ vào chân mà bác ấy đã kêu đau rồi đấy. Không biết tay tôi hay
tay bác đang run vì xúc động.
- Cô Thư cháu đâu hả bác?
- Chả biết bà ấy đi đâu, từ tối đã thấy
sang đâu. Anh khoẻ tay bế bác xuống đất nằm. Nhờ mà cấm có đứa nào hộ.
- Cụ thấy cháu quý về lại nói điêu, đêm
nào con chẳng bế cụ xuống. Cậu bế không quen, cẩn thận lọt tay rơi xuống thì
lại chết sớm. Thôi, để đấy chị bế cho, cơm chín rồi, chỉ có miếng cà muối cậu
ăn tạm cho đỡ đói.
- Tôi không khiến chị. Cha tổ tiên sư cái
con quạ mổ. Anh ăn xong rồi bế bác xuống.
- Sao lại nằm đất? Nằm thế ...! - Tôi
ngạc nhiên, thắc mắc.
- Thì người sắp chết mới thế chứ sao. -
Chị Nụ vừa xới cơm cho tôi, vừa nhấm nhẳn trả lời.
Đứa bé cầm cái xúc xắc nhựa chơi một
mình. Tiếng roong roóc làm nó thích thú càng đập mạnh. Nó ngoan, không làm bấn
chân bà nó như khi nãy chị Nụ tôi ca cẩm.
Tôi bưng bát cơm lại gần giường. Bác Nhụ
xua tay ra hiệu bảo tôi mang ra ngoài sân ăn. Tôi ngồi xuống đầu hè, xách tích
nước vối ở góc tường rót vào bát cơm. Ngày tôi còn bé, bữa cơm quê tôi vào
những ngày nông bận thường chỉ là tích nước vối thậm chí có đứa trẻ chan nước
mưa trong bể và quả cà muối mặn là xong bữa. Bóng đêm đè nặng xuống trần gian.
Tiếng lắc xắc của chiếc xúc sắc trong tay đứa cháu giòn nẩy, lan toả cô độc
trong không gian tĩnh lặng. Miếng cơm trong miệng lạnh lẽo, nhạt thếch của nước
vối, mặn đắng của miếng cà. Tôi cố lùa cho xong bát cơm. Chỉ là sợ bác và chị
chạnh lòng khi đứa cháu mấy năm mới về thăm lại chả có được bữa cơm tươm tất,
chứ thực tình miếng cơm đụng đến môi thấy tanh tanh mùi tử khí, cảm giác vừa
khi nãy đi qua khu nghĩa địa và những bóng ma trơi khi đối mặt với bóng đêm lại
hiện lên ám ảnh.
Biết tôi đã cơm nước xong, bác Nhụ chòi
bàn tay ra khỏi chăn, vẫy tôi. Bàn tay phất phơ như tầu lá khô chực rũ xuống.
Tôi luồn tay xuống đống chăn lùng nhùng. Nhìn một lượt, xác định tay mình đã
đặt đúng vị trí cổ và hai kheo chân bác, tôi nín hơi lấy sức, thận trọng nâng
người bác lên. Không biết có phải tôi chỉ bê độc có đống chăn không hay sao mà
nhẹ bẫng! Tôi nghi ngờ, nhấc cao hẳn lên rồi nhìn lại một lượt để xác định cho
chính xác. Chỉ thấy lùng nhùng những là chăn. Và tôi chỉ nhận ra, đã bế bác tôi
trọn trên tay, bởi ánh mắt tôi bắt gặp hai miếng trăng trắng như sữa, đó là hai
tròng mắt bác Nhụ đã được nâng lên, đung đưa cùng chiều chuyển động của cánh
tay mình. Và cái ánh sáng trắng sữa ấy hướng về phía tôi tin tưởng.
Tôi đã trải một lần chăn xuống đất để bác
nằm nhưng điều đó khiến bác khó chịu kêu gần gừ trong cổ, rồi cố nhoài ra ngoài
đất. Tôi phải cuộn lại chiếc chăn vất lên giường và cùng nằm xuống đất với bác.
Hơi lạnh của đất và của một người không còn đủ hơi ấm của sự sống bên cạnh làm
tôi rùng mình. Nhưng rồi hơi đất cũng ấm lên dưới lưng và nỗi sót xa về thân
phận một người thân đã chịu bao nhọc nhằn với đời khiến tôi xoay người nằm sát
lại, ôm choàng lên người bác. Và chỉ chờ có cử chỉ ấy của tôi, tất cả một quãng đời của chi họ nhà tôi hiện
dần về theo lời kể rành rọt tới từng chi tiết trong giọng nói lanh canh như
tiếng gõ thau đồng của bác Nhụ.
Không biết đã là mấy giờ, nghe tiếng gà
gáy râm ran nhưng tôi chưa biết đoán thời gian bằng cách này. Tiếng các loại
côn trùng kêu trong đêm ngày càng náo loạn nhưng đang yếu ớt, nhỏ dần. Mặc dù
chuyến tầu trong ngày đã làm tôi mệt mỏi nhưng tôi không hề ngủ được. Bác Nhụ
nằm im và hình như đã thiu thiu ngủ. Còn tôi bắt đầu bực dọc, trong người dần
bốc nóng râm ran nhớ lại những tình tiết vừa được biết qua lời kể của bác. Càng
nhớ lại càng khiến tôi thêm phẫn nộ. Thế ra bấy lâu nay chi họ nhà tôi vẫn cúi
mình tôn người khác máu lên đầu. Tôi vùng ngồi dậy, trút nỗi căm hận sang con
người đang chỉ còn lay lắt ngày một ngày hai ở trên đời.
- Thế anh Sông bây giờ ở đâu, bác?! - Tôi
nhỏm dậy nhìn vào đôi mắt vô hồn của bác, ấm ách hỏi như tra xét.
Bác Nhụ chưa ngủ, rành rẽ trả lời tôi:
- Nó vay nợ của người ta gần một tỷ để
buôn bán. Cái dòng máu của nhà nó là liều lĩnh, muốn vơ tiền của thiên hạ, thế
nhưng nó đâu biết nó đã sống trên mảnh đất của nhà chú thì làm thế sao phải với
giời, cho nên vỡ nợ, bỏ trốn. Giờ ở đâu, bác bặt tin mấy năm nay.
Tôi cũng đã được biết chuyện anh ta trốn
nợ. Chỉ vì không chịu được cành bần hàn chốn quê, anh ta cùng gia đình lên Hà
Nội thuê cửa hàng kinh doanh. Thời gian đầu cũng làm ăn được, khấm khá, xây
được nhà, còn mua cả ô tô riêng. Thấy mừng. Sau bị bạn làm ăn lừa lọc, rồi con
cái hư đốn nên phá tán hết gia sản, nợ nần chồng chất. Đến cái tuổi muốn được
an nhàn trên mảnh đất quê thì phải trốn chui trốn lủi tận đâu. Thấy thương cho
anh ta.
- Thế cũng may, dòng họ nhà cháu hết
nghiệt chướng! - Tôi nói buông xuôi như thể cuộc đời của anh ta với kết cục như
vậy là xứng đáng, chi họ nhà tôi đã được giải thoát.
Bác Nhụ im lặng.
Tôi tung chăn ngồi hẳn dậy, buông tiếng
thở dài, nhìn qua cửa, xuyên vào đêm sâu hun hút. Cũng tội cho cuộc đời bác.
Liệu vừa rồi mình có câu nào nặng nhẹ khiến bác day dứt trước khi lìa đời. Nếu
có thì tội cho một kiếp người lắm. Chị Nụ và đứa cháu đang ngủ say. Đứa bé ngủ
nhưng tay vẫn cầm chiếc xúc xắc. Mỗi khi nó trở người, tiếng roong roóc cô lẻ
lại vang lên ròn rã như tiếng xua đuổi âm
binh.
- Thế sao bác chỉ nói chuyện này với
cháu?
- Liệu thằng cu Sông có dám về không
cháu?! Cháu quen biết nhiều lại có điều kiện, bác nhờ cháu tìm anh ấy về cho
bác gặp lấy một lần.
- Về thế nào được, người ta không róc
xương ra mà trừ nợ chứ à, bao nhiêu gia đình phải ly tán dưới trò gian manh của
anh ấy. Mà không khéo anh ấy đang sống sung sướng ở đâu, không thèm nhớ tới quê
hương bản quán, bác khổ tâm về anh ấy làm gì nữa. Gia đình nhà cháu có điều gì
không phải với bác?
- Bác một trăm tuổi rồi, ai ngờ ông giời
hành bác, lại cho bác minh mẫn vào những ngày cuối đời cơ chứ.
Chị Nụ trở người, khẽ khàng ngồi dậy, nhấm
nhẳng:
- Như thế là lẩm cẩm chứ minh mẫn gì.
Tôi hỏi để kiểm chứng xem chị đã nghe
thấy gì:
- Hai bác cháu nói chuyện, chị không ngủ
được à?
- Lâu lắm mới được một đêm ngủ ngon,
không bị dựng dậy nghe chửi, cậu nói chuyện gì với bác thế, hai bác cháu thức
suốt đêm cơ à.
Thế là chị ấy không biết hết về cuộc đời
của mẹ mình, không biết mẹ mình đang mong muốn điều gì. Và hẳn với chị, anh
Sông vẫn là trưởng chi họ nhà tôi. Liệu tôi có nên cho mọi người biết không, để
chi họ nhà chúng tôi được tiếng trong sạch, tất cả những chuyện xấu xa của cuộc
đời hai mẹ con bác Nhụ sẽ không thuộc về chúng tôi, hai mẹ con bác phải gánh
lấy. Liệu làm thế có phải là rũ bỏ một người đã dốc cả cuộc đời phụng sự cho
nhà chồng? Nhưng chẳng lẽ tôi lặng im, làm theo lời thỉnh cầu của bác. Như thế
có phải cho tổ tông nhà tôi. Nhưng lúc lâm chung con người cần có một chỗ dựa
tinh thần để cố bấu víu lại với đời. Anh Sông là chỗ dựa, là niềm tin thoát xác
của bác. Tôi nhìn sang bác Nhụ. Hai mắt bác nhắm nghiền. Hình như bác đẫ thiêm
thiếp trôi vào một giấc ngủ thanh thản nhất cuộc đời mình. Tôi nhẹ nhàng bế bác
lên giường. Cẩn thận rém cạnh chăn sát vào người bác để giữ ấm. Ngoài sân,
sương trắng bàng bạc đang dâng lên phủ kín sân. Hơi lửa rơm dưới bếp sộc lên
cay nồng.
Tôi ra ngoài cổng, nhìn về cánh đồng Đỗ,
muốn được thư thái để đưa ra quyết định cuối cùng. Những hạt sương li ti táp
vào mặt tê tê lạnh. Thấp thoáng trong làn sương, một vệt đỏ hiện lên trước mắt
tôi, kéo dài như sợi chỉ giăng ngang cánh đồng. Vệt đỏ lúc chìm khuất dưới làn
sương, lúc hằn rõ như vết máu loang trên trên màu đất nâu. Lãng đãng. Huyền ảo.
Tôi thấy lạ, căng mắt ra nhìn cho rõ, dồn tâm trí vào phán đoán xem vệt đỏ kia
là gì. Không thể nhận ra là gì nếu không tới gần. Lại cả chuyện con đường tối
qua nữa. Tôi phân vân nhớ lại. Hình như hai điều này có gì liên quan tới nhau?
Nếu là con đường cũ thì sao lại dẫn thẳng vào sân đình? Nghi hoặc và tò mò đã
kéo tôi đi về phía vệt đỏ. Hướng đấy là đình.
Một con đường đang đắp dở. Màu đỏ của đất
đồi đổ xuống còn tươi mới. Hơi đất còn ngái. Con đường này là thế nào? Nó cách
con đường cũ không xa và xẻ cánh đồng Đỗ làm đôi. Tôi quan sát địa thế và phỏng
đoán ý đồ thiết kế của con đường. Tôi đang đứng ở vị trí giữa đình và cầu Đá,
chiếu mắt nhìn về hai phía. Thì ra người ta muốn có con đường thật thẳng, nối
từ đình qua cầu Đá, qua Thuận Thanh, tới đường quốc lộ mà không bị vòng vèo,
che khuất tầm nhìn. Chẳng lẽ chỉ với lý do như thế người ta phải đổ công đổ của
xuống? Lợi ích kinh tế thế nào, có liên quan gì tới quy hoặch tổng thể của cả
vùng chăng? Tôi tự suy xét. Trầy trật lắm tôi mới đi ra được tới đình.
Đây là đình làng tôi!? Tôi bàng hoàng,
trân trân đứng nhìn cảnh vật đổi sao rời trước mắt mình. Thảm hoạ gì đây đã
giáng xuống làng mình! Mặt đất quanh đình bị đào tróc nham nhở. Bùn đen, đất đỏ
tơi bời khắp nơi, như một vết thương bị hoại tử đang loang nhanh trên cơ thể.
Nguyên do, con đường mới mở đã xẻ đôi cánh đồng Đỗ, về tới đây đâm thẳng vào
tim ao, thấu sang tận bờ bên kia và kéo dài tới cuối bãi tha ma. Đó lưỡi dao tử
thần. Nước ao ngầu đỏ như máu loang. Máu đỏ còn vấy cả lên tường, lên mái ngói,
vung vãi khắp sân gạch. Ngôi đình oằn oại, kiệt sức. Những giọt sương hay những
giọt nước mắt của thần linh thễu mễu lăn từ trên mái đình xuống sân rơi tí tách
xuống sân đình nhoe nhoét đỏ.
Tối qua tôi đã đi về trên con đường này.
Nham nhở, trồi trụt những mô những đống đất mới đổ chưa kịp san, thế mà tôi đi
như cuốn mà không hề ngã. Có lẽ tôi đã bay. Những bóng lân tinh, không phải đó
là ngọn đèn của những linh hồn đã nâng tôi bay và định hướng cho tôi về tới sân
đình. Linh tính về lối đi cũ của tôi là đúng nhưng con đường ấy đã bị rào lại
không thể đi được. Người ta bắt dân làng phải đi trên con đường mới, mặc dù
chưa được làm xong. Con đường cũ hình vòng thúng, bao quanh lấy làng.Từ đầu
làng tới cuối làng sẽ là một đường thẳng, gần hơn, thuận tiện giao thông hơn,
đó là người ta tính tới chuyện thông thương để có thể phát triển kinh tế của
cái làng Trằm nhỏ bé và nghèo khó của tôi. Người ta đang sống trong làng, bát
cơm manh áo là việc đáng phải lo nhất. Chứ đâu có ai như tôi, mỗi khi về tới
cuối bãi tha ma, phải đứng lại ngắm nhìn về phía đình. Mặt nước ao đình bừng
lên ánh sáng trắng lung linh như vầng trăng mọc trên nền xanh mướt mát của cánh
đồng thôn quê dẫn lối tôi về. Mái đình nâu ấm, tự tại như người đang ngả lưng
xuống cánh võng làm hàng tre cong vút khiến tôi sốt ruột, mau chóng về nhà để
được ngủ vùi trong đống rơm. Nửa đêm thỉnh thoảng giật mình tỉnh dậy lắng nghe
tiếng rào rạo khô ròn của rơm khô quanh mình, hít hà mùi khói bếp cay cay, hơi
của nồi bánh chưng nồng nồng chen lẫn mùi ngái thơm của nồi nước lá mùi u già
tôi đặt cạnh bếp để khi sáng tôi sẽ được đắp hương vị ấy trên lần da mặt. Khi
nãy bác Nhụ nằng nặc đòi được ra ao đình để lần cuối ngắm mặt nước xanh như mắt
mèo, được uống một ngụm nước ngọt như nước mưa lần cuối. Tôi phải thuyết phục,
rằng đêm hôm tối tăm có đưa được bác ra tơi nơi không bị cảm gió thì cũng vấp
ngã mà chết, cố đợi đến sáng sẽ võng ra, bác còn khoẻ lắm phải còn nhiều buổi
sáng tồn tại trên đời nữa chứ không phải không còn đợi được đến sáng ngày đâu.
Tôi định nói, rằng mắt bác có nhìn thấy gì hơn chục năm nay rồi thì cái mặt
nước có xanh như mắt mèo, hay thế nào đi nữa hẳn có tác dụng gì. Nhưng tôi kìm
lại được. Tôi vốn là người hay tìm hiểu về tâm lý của con người. Người mù có
cảm nhận riêng của người mù. Người sắp chết có linh cảm của người sắp chết. Ông
trời luôn sắp đặt công bằng khi nhào nặn nên một con người.
Không biết bác Nhụ đã biết người ta đã
băm vằm ao đình đến tơi tả như thế này chưa. Cầu sao chưa ai nói cho bác ấy
biết. Bác ấy ra đi bằng những ký ức về chiếc ao đình ngày xưa như vậy sẽ thanh
thản hơn. Bác muốn được gặp anh Sông, liệu có phải ký ức về cuộc tình đã dẫn
tới nghiệt chướng cho cuộc đời bác và cho chi họ nhà tôi trong trận lụt năm ấy,
bên dưới mái đình linh thiêng và nghiệt ngã này chính là điều cầu mong cho linh
hồn của những người đã khuất trong dòng họ nhà tôi tha thứ cho bác và bác còn
cầu mong cho con ma lý Ngà không còn lang thang, tròng ghẹo người dương gian
như những câu chuyện bọn trẻ khi xưa chúng tôi hay bịa đặt ra để doạ nhau. Phải
chăng là thế. Vậy tôi sẽ đi tìm!
Ao đình đâu còn những bí ẩn mang đày chất
huyền thoại và linh thiêng nữa, người ta đã mổ xẻ nó ra một cách tàn nhẫn như
mổ xẻ một thân người trong cộng đồng cái làng
Trằm bé nhỏ này mà không hề run tay, không hề sợ bị bắt tội. Tội giận
quá má ví von ừa như vậy. Thế mà ngày còn bé, chưa một lần chúng tôi dám chỉ
tay lên điện thờ Ngài. Thế là bất kính, sẽ bị cụt ngón tay ngay. Chưa một lần
dám đái bậy xuống ao. Cả nhà đứa ấy sẽ bị tắc lỗ đít. Bọn trẻ chúng tôi rủa độc
như vậy. Thế mà bây giờ, hạt cườm cườm đính trên mũ Ngài cũng bị cạy ra xem có
phải ngọc thật, long ỷ cũng bị khoét nham nhở để tìm đồng đen làm cốt như các
cụ kể lại có đúng thế không. Không phải kẻ trộm đạo bất lương gì làm chuyện ấy
mà chính là các vị chức sắc trong làng muốn “kiểm tra, xác minh” để có kế hoạch
bảo vệ. Không có thứ gì đáng giá cả, suốt một thời gian dài không ai trông nom,
quét dọn. Còn ao đình bị lấp là muốn vươn xa để tìm tới giầu sang, phú quý cho
làng. Toàn những lý do xác đáng cả đấy chứ, nào ai phản đối vào đâu được nữa.
- Tiên nhân thằng cu “Tũn”! Cả làng này
chỉ còn mình tao thôi nhớ!
Tôi còn mải đau đáu những ý nghĩ về mái
đình làng mình, đến nỗi để cô Thư huơ gậy lên trước mặt mới biết.
- Mày đi đây đi đó được, thế mà một năm
về quê có một lần thôi mà cũng mất mặt là thế nào! Có phải thằng bố mày chết
rồi thì mày cũng mất quê luôn có phải không! Cả làng này chỉ còn có mỗi mình
tao thôi nhớ!
Cô mắng, cô chửi tôi đã lâu rồi mới về
quê thì đành đã rõ rồi, thế còn cái câu “cả làng này chỉ còn mỗi mình tao” cô
cố ý nhấn mạnh với tôi là thế nào? Có điều gì đã xảy ra với làng, có liên quan
tới gia đình mà cô có vẻ ấm ức như thế? Hay, cả làng này chỉ có mình cô phản
đối việc mở đường qua ao đình, để rồi bị các vị chức sắc trong thôn gây khó dễ
gì.
- Cháu đi đây đi đó cũng vì công vì việc.
Thế có việc gì thế cô? Chắc cô phản đối việc làm con đường này phải không? Cháu
thấy lạ quá. Đành rằng bây giờ phải lo phát triển kinh tế, không ai rảnh rỗi mà
đứng từ xa ngắm đình, thế nhưng chẳng lẽ người ta cũng không tin vào thuật
phong thuỷ nữa sao. Có ai làm nhà để đường đi đâm thẳng vào cửa không, huống hồ
đây là đình, nơi linh thiêng của cả làng.
Tôi chưa kịp nói hết ý của mình nhưng
nhìn vẻ mặt khó đăm đăm khi nãy của cô Thư không còn, ánh mắt cô ấy rạng lên
niềm tự hào. Cô nắn bắp tay tôi, tự hào nói:
- Gớm con bố Sơn béo khoẻ thế, thử hỏi cả
tổng này có ai làm nhà văn như anh không, có ai giỏi bằng anh không. Thằng cu
“Tũn” nói đúng, từ ngày lấp ao mở đường đến giờ sinh ra chuyện anh em, bố con
tranh giành đất đai, đâm chém nhau phải lên Hà Nội mới cứu sống được. Anh là
nhà văn, anh phải năng về quê để cho mọi người thấy.
- Kìa cô, cháu đã là nhà văn nhà viếc gì
đâu!
- Tiên nhân bố nhà anh, anh sợ tôi nhờ vả
à. Mà cũng phải nhờ tới anh đây, rồi về nhà tôi sẽ nói. Cả làng này chỉ còn có
mình tao thôi nhá. Sao anh giống ông nội anh từ dáng đi, nét miệng, đến cả cái
tính ấy nữa.
Tôi nói thật nhưng cô không tin, cả họ,
cả làng này không tin, tôi có phải là nhà văn đâu. Chỉ là anh công nhân bình
thường thôi. Chẳng qua mê văn chương, mới có được chục cái truyện ngắn in trên
các báo địa phương. Năm tôi ngoài hai mươi, được một số nhà văn tên tuổi quý
mến, lại in mấy truyện ngắn giờ đọc lại thấy ngô nghê của kẻ tập tọng chữ
nghĩa, ấy vậy mà bố tôi tự hào lắm, khoe với bạn bè, với làng xã cứ như tôi đã
là nhà văn lớn.
- Bớ làng, bớ xã, vợ trưởng thôn tụt quần
tôi ra đây này!
Cái làng nhỏ bé này, con gà gáy đầu thôn
cuối thôn nghe thấy huống hồ tiếng la thất thanh. Tiếng la the thé như mũi tên
đâm toang cái tĩnh lặng của buổi sớm mai. Tôi hốt hoảng nhìn quanh xác định
hướng của tiếng la vừa rồi. Còn cô Thư, ánh mắt cô bỗng hằn lên dữ tợn, cây gậy
chuyển sang cặp vào nách, đi phăm phăm bỏ tôi đứng lại một mình, như thể cô
đang xông vào kẻ thù để quyết chiến. Tôi vội chạy theo cô.
Tiếng la chuyển sang những âm thanh sằng
sặc như người bị bóp cổ.
Dân làng đổ xô về hướng có tiếng la.
Tiếng la ở trước cổng nhà lý Ngà. Dân
làng dồn tới xem sự thể là gì nhưng chỉ dám đứng từ xa nhìn lại. Cô Thư rẽ đám
người đi lên. Tôi bám theo sau.
- Bà con cô bác xem này, vợ của trưởng
thôn hãm hiếp tôi này. Tổ cha con đĩ, tưởng mày đoan chính thế nào, của chồng
mày chưa đủ hay sao mà giữa đường giữa chợ bóp dái người ta.
Trước mắt tôi, một cảnh tượng trớ trêu
đang diễn ra. Trường, con thứ của lý Ngà, hơn tôi vài tuổi, một tay túm cạp
quần bị tụt xuống tận đầu gối, tay kia giữ chặt tay cô Trinh, hay cố đẩy ra
khỏi háng chân của mình. Nếu đứng từ xa trông lại thì không thấy rõ sự thể thư
hư thế nào. Mà lại gần thì, dây vào cái ngữ ấy rồi thiệt thân. Cô Trinh, vợ của
trưởng thôn, được dân làng khen ngợi là người con gái xinh đẹp và thuỳ mỵ nhất
làng, chẳng lẽ đến nước này mọi người còn nghi ngờ gì nữa mà cứ đực mặt đứng nhìn.
- Mẹ cha cái quân bất lương!
Cô Thư xông vào vung gậy quật túi bụi vào
tay Trường. Trường bị đau, buông tay Trinh ra. Cái quần bị tụt hẳn xuống.
Trường nhảy dựng lên. Cái cu cũng bật lên bật xuống theo nhịp nhẩy. Trường la
lối:
- Cả làng làm chứng nhá, vợ của trưởng
làng thọc tay vào đũng quần tôi làm chuyện bậy bạ, lại còn bị gia đình cách
mạng vào hùa đánh tôi trọng thương đây này.
Sự thể là thế nào?!
Làng quê của tôi đang biến thành nơi chiến địa cho mục đích gì đây? Ai sẽ trả
lời hộ tôi câu hỏi này, khi mà người lớn cụp mắt, lặng lẽ quay về, còn đám trẻ
phải bạo gan lắm mới dám đứng nán lại, chỉ trỏ cái cu bần bật của Trường, bụm
miệng cười. Trinh đã thoát khỏi tay Trường bưng mặt khóc, sấp ngửa chạy bổ về
nhà. Cánh lưng cô Thư còng gập xuống, dường như chiếc gậy trong tay là cây cột
đỡ cho cô khỏi ngã dập xuống. Tôi bàng hoàng. Về nhà thì trưởng thôn Hoà, gọi
tôi là chú họ xa, chồng của cô Trinh đã chờ tôi.
- Cũng may có ông trẻ về chứng thực. Lẽ
ra cháu cứ làm ở nông trường, có vất vả một tí nhưng không phải khổ tâm thế
này. Làng xã vận động, cháu có bằng đại học nông nghiệp thì về quê làm trưởng
thôn để giúp làng đi lên. Nào ngờ chức trưởng thôn có gì đâu mà tranh giành.
Đúng là ôm rơm rặm bụng.
- Có mày ngu thì mới rặm bụng! Tao được
làm trưởng thôn như mày xây nhà mái bằng còn ít. - Anh Thôi, con bác Dạ đứng
ngoài cửa xỉa tay vào tức tối với Hoà.
- Thì chú bảo cháu làm gì ra tiền, trong
làng có đến nửa là họ hàng nhà mình không, ăn chặn ăn bớt của người nhà không
thấy nhục à. - Hoà đỏ mặt to tiếng lại.
- Đúng là cái họ nhà này chỉ hão!
Anh Thôi vùng vằng bỏ đi.
- Ông trẻ xem, đến họ nhà mình thế nào
với nhà ấy mà như ông trẻ Thôi, nó hứa cho chân coi đình nếu nó được làm trưởng
thôn thôi mà là người đầu tiên giơ tay biểu quyết trong buổi họp chi bộ hôm
qua. Như ông trẻ thấy đấy, dùng mọi thủ đoạn, hèn hạ đến thế là cùng. Sắp bầu
trưởng thôn khoá tới rồi, nó muốn xin vào đảng để vận động phiếu bầu từ trên
xuống cho chắc chắn. Nó khai lý lịch, bố nó là lý Ngà ngày xưa hoạt động bí mật
cho cụ nhà mình. Các cụ hoạt động ngày ấy chết hết rồi, chỉ có con cháu các cụ
chứng thực là có nghe kể lại, thế mà lý lịch cũng được chấp nhận, buổi họp chi
bộ chiều qua chỉ mình cháu phản đối việc kết nạp đảng của nó. Nào ngờ nó tìm
mọi cách để trả thù. Hèn hạ thế!
Tôi lặng người sau khi nghe cuộc đấu khẩu
giữa những người trong nhà mình. Cái làng Trằm nhỏ bé và yên tĩnh bấy lâu chỉ
có trong suy nghĩ của tôi. Mình đã quá thờ ơ và bàng quang với quê hương, chỉ
biết mỗi khi trở về là được nắm nhìn cảnh vật êm đềm từ cây đa, bến nước, sân
đình, từ hàng tre, mái rạ, chứ đâu có đào sâu tới nỗi đau của mỗi con người.
Đau đớn đến tột cùng, thế nhưng tôi sẽ phải làm gì đây? Tôi chưa kịp tìm được
một câu trả lời nào cho lòng mình thì tiếng lọc cọc cô lẻ của chiếc gậy của cô
Thư đang tiến ra hướng cổng đã thúc tôi đứng dậy chạy theo với một linh cảm
chẳng lành.
- Cô đi đâu thế?
- Cả làng chỉ có mình tao thôi mày nhớ!
- Cháu hiểu cô nói gì rồi. Nhưng còn
thằng cu Hoà nữa kia, có phải mình cô phản đối việc thằng Trường vào Đảng đâu!
Cô Thư không phản ứng gì trước câu nói
của tôi, lặng lẽ chống gậy đi về hướng sông Vàng.
- Thế cô đi đâu bây giờ?!
- Tao đi kiện!
- Cô muốn đi thì để mai ngày cháu chở đi,
lên huyện có đi xe đạp cũng mất nửa ngày đường, cô đi một mình sao được.
- Tao không cần thằng nào sất! Làng này
chỉ còn mỗi mình tao thôi mày nhớ!
Tôi biết, sẽ không ngăn được ngọn lửa căm
giận đang bùng lên thiêu đốt trong cô. Vả lại còn bác Nhụ nữa, từ sáng đến giờ
không biết ra sao rồi. Để cô Thư đi một mình hay quay trở vào với bác Nhụ? Tôi
phân vân. Cuối cùng đành phải thoả hiệp với mình. Cô Thư tuy còn khoẻ nhưng ở
tuổi tám mươi sao đủ sức có thể đi bộ lên tới huyện được, rồi tôi sẽ bảo ai đó
khuyên can hoặc đi cùng cô, mà việc ấy chờ thêm vài ngày nữa cũng có sao. Còn
bác Nhụ, ngọn đèn lay lắt, lụi tắt chỉ một sớm một chiều nữa thôi, biết được
lúc nào mà lo trước.
Tới đêm, bác lại bắt tôi bế bác đặt xuống
đất rồi nằm xuống cạnh. Đêm nay bác còn minh mẫn hơn đêm qua. Và hình như câu
chuyện đã được bác chuẩn bị từ lâu, công phu tới từng chi tiết, tuần tự theo
thời gian từ trước sau diễn ra những sự kiện, đến giờ chỉ giở trong trí nhớ ra
kể lại với tôi. Câu chuyện về cuộc đời bác, về những ngày đã qua của chi họ nhà
tôi được nối tiếp như một bộ phim dài tập. Giọng của bác hôm nay còn vang, khoẻ
hơn nhưng vào lúc này, tâm trạng tôi nào có tập trung được. Cảm xúc của tôi lúc
thì chồi lên với những câu chuyện của bác Nhụ kể, lúc lại phải lặn xuống lo
lắng cho cô Thư, tới giờ sao chẳng có tin tức gì cả. Đã cho các cháu đi tìm, có
đứa lên tới huyện hỏi thăm, có đứa sục sạo khắp bờ mương, bờ đầm nơi cô ấy có
thể đi qua để dò tìm nhưng vẫn không thấy đâu.
Suốt đêm trong gian nhà nhỏ bé của cô Thư
sáng đèn trông chờ.
Gà đã gáy sang canh năm. Bình minh đang
cựa mình lách qua đêm tối, tìm đường xuống trần gian. Bác Nhụ đã ngủ. Tôi ngồi
dậy, phấp phỏng lo. Có tếng ồn ào bên nhà cô Thư vọng sang. Có lẽ cô ấy đã về
chăng? Mà hình như không phải, tiếng ồn ào có vẻ gì đó lo lắng. Tôi nghe rõ
tiếng anh Thôi vung những câu chửi thề. Tôi nhẹ nhàng tránh không làm tỉnh giấc
của bác Nhụ, đi sang bên nhà cô Thư.
- Ông trẻ dậy rồi à, ông đi cùng xe với
cháu sang Đồng Trung đón cụ!
Một tay Hoà dắt xe đạp, tay kia túm áo
tôi vội vàng lôi ra ngoài cổng, ý thúc tôi phải đi luôn.
- Sao? Cô làm sao? - Tôi níu lại hỏi.
Một người lạ lúc này ở trong nhà đi ra,
giải thích cho tôi:
- Cụ nhà mình chẳng biết làm sao, lúc tối
vào nhà tôi nghỉ nhờ, quần áo ướt sũng, đầu tóc vương đầy rễ ấu, có lẽ cụ bị
ngã xuống đầm ấu.
- Thế cô tôi thế nào rồi?
- Bà cụ khoẻ thật, rét mướt thế mà chẳng
hề hấn gì, cả đêm không ngủ, cứ lẩm bẩm câu gì đó. Sáng sớm đã xuống xuống bếp
hộ nhà tôi nồi cám. Không biết có phải do lẩm thẩn nên đi trật đường.
- Thế mấy giờ cô tôi vào nhà anh?
- Lúc ấy độ khoảng tám giờ, tám rưỡi gì
đấy.
Anh Thôi bực dọc quay chiếc xe đạp làm đổ
rạp cả bụi dong diềng, miệng vùng vằng:
- Nhà bác nói khoác, sức như tôi có chạy
bộ thì độ ấy cũng chẳng thể tới được, huống hồ bà cụ tám mươi lẩm cẩm chẳng nhớ
đường đi. Tôi hỏi bác, bác đạp xe từ ấy sang đây từ mấy giờ. Hoạ chăng có bà cô
tôi biết bay.
Quả là nằm ngoài mọi phép tính, với vận
tốc của một bà cụ, với quãng đường như thế thì không thể có được một đáp số về
thời gian như ân nhân của gia đình tôi đã cho. Gặp chúng tôi, ánh mắt cô Thư có
rạng lên niềm vui, nhưng cái nhìn vẫn vời vợi những bí ẩn như những gì tôi mới
được nghe qua lời kể của bác Nhụ. Cô tôi kể về hành trình của chuyến đi:
- Này nhớ, hình như ma dẫn ấy, lẽ ra đến
cánh đồng Nô của Đồng Trung là đi thẳng, tự dưng có hai thằng thanh niên mặc
quần áo trắng đứng chặn đường bảo tao rẽ, phía trước làm đường không đi được.
Có phải làm đường không hả bác chủ nhà? Không phải chứ gì, thế có phải chúng nó
là ma hiện ra trêu tao không. Bãi tha ma của Đồng Trung sao giống bãi tha ma
làng mình thế, hai bên đường trồng toàn xà cừ, cũng một bên là mả, một bên là
ao. Đến đấy thì trời tối quá, lại mệt thở không ra hơi, ma tao chẳng sợ, phải
ngồi xuống nghỉ cái đã. Tao nghe thấy tiếng thậm thịch như tiếng chân người đi,
nhưng chẳng nhìn ra ai sất. Ma đấy. Tao cũng hãi. Đứng dậy định đi tiếp thì bị
nó đẩy vào lưng. Tao ngã úp sấp xuống đầm. Ui chao, rát cả mặt. Tao uống no
nước. Vùng vẫy. Hình như nó chỉ trêu thế thôi. Tay
tao quờ phải tay nó. Nó kéo chẳng kéo, tao phải cố sức mới bò lên được bờ. Tao
bảo, mày có trêu thì đến lúc kéo tao lên cũng phải mạnh lên tí cho đỡ mệt. Tay nó to và trơn như tay ma. Chẳng đứa nào bắt nhời lại,
lần mò quay lại thế nào lại gõ được cửa nhà bác này. Có người tốt thế.
- Ma nào, có người đẩy bà xuống thì có.
May mà bà bám được vào rễ xà cừ chứ không thành ma rồi chứ bỡn à!
Suy đoán của anh Thôi có lý. Nhưng bằng
chứng đâu. Chẳng lẽ lại có người hằn thù đến mức phải đẩy một bà già tám mươi
xuống đầm sao? Liên kết những sự việc trong những ngày gần đây, những hành động
quyết liệt của cô Thư thì chúng tôi không ai dám nói ra nhưng hẳn cùng một mối
nghi ngờ cho ai rồi. Thằng cu Hoà nói, thấy thằng Trường đứng ở đầu làng nhìn
theo cô khiến những nghi ngờ của chúng tôi thêm cơ sở. Nhìn sang cô Thư, thấy
nét mặt hân hoan và những cử chỉ nhanh nhẹ, hoạt bát hơn mọi ngày thì ngay
chúng tôi cũng tin về những con ma đã sờ vào người theo lời kể của cô là có
thật. Liệu có ma không nhỉ? Một con người đã trải qua tám mươi năm cuộc đời,
một con người có cái nhìn thần bí và người đã chứng kiến bao nhiêu cảnh huống
cuộc đời thực thực, hư hư như cái đận kéo gỗ về làm đình, như cái đận thầy
Quyết được cứu thoát khỏi bọn cướp, rồi những bóng ma bên ao đình thì câu
chuyện bị ma đẩy xuống đầm có lẽ là sự thực chăng!
Mừng là cô Thư bình an vô sự. Mừng là
thấy cô Thư vui hơn. Đó tất cả là những gì chúng tôi quan tâm nhất trên đường
đón cô trở về
Nhưng niềm vui chỉ đồng hành với chúng
tôi từ Đồng Trung về tới đầu làng Trằm.
Tiếng khóc của chị Nụ như xé gan, xé ruột
chúng tôi, xé tươm tinh những dải nắng sớm, vò nhàu những vạt sương. Một buổi
sáng lễnh loãng, đục nhờ nhờ qua những hàng nước mắt của anh em, con cháu chúng
tôi.
Bác Nhụ đi vào giờ nào không ai biết. Có
thể lúc tôi bế bác lên giường chăng? Lúc ấy bác thế nào ư? Tấm thân xác xơ
không còn hơi ấm từ lâu rồi, có nhận biết được đâu. Chỉ nhận qua hơi thở. Nhưng
nào tôi có để ý đâu mà biết hơi thở của bác có còn. Chị Nụ ư. Chồng chị đau
bụng, vật vã suốt đêm, may mà có tôi về không thì rồi không biết nhờ cậy ai.
Đến khi mang bát cháo sang, lay mẹ dậy thì người mẹ đã lạnh cứng từ khi nào.
Đành phải lấy giờ khi tôi ra khỏi nhà để
nhờ thầy xem giờ cất lễ. Thế là tròn một trăm năm ở cõi dương gian, cũng gần
từng ấy năm cuộc đời của bác phải sống cùng với những khổ đau giấu kín trong
lòng. Giờ bác ra đi cũng phải âm thầm mang theo. Bác mong được gặp anh Sông lần
cuối thế mà không được toại nguyện. Nhưng có phải bác muốn gặp anh Sông để nói
hết sự thực về thân phận của anh ấy? Không phải đâu, nếu muốn nói thì bác đã
nói lâu rồi, chứ chẳng phải chờ đến ngày này. Có nói ra thì người khổ tâm nhất
lại là anh em, con cháu thực của chi họ chúng tôi chứ đâu phải là anh Sông. Bác
biết điều đó lắm. Cả cuộc đời bác đã chịu đựng nỗi đau cuộc đời một mình thì
giờ đây bác ra đi một mình thế mới là ý nguyện của bác. Bác mong gặp anh ấy chỉ
là nỗi sót xa trần ai bỗng chốc bùng phát ra mà thôi. Gặp để mà thấy cuộc đời
của mình thật chua sót, để ngậm thêm trái đắng làm vui. Chỉ có mình tôi biết,
anh Sông là ai. Tại sao bác chỉ kể cho mình tôi? Phải chăng bác biết được,
những người viết văn hay viết về thân phận của mỗi con người trong trần thế này
mà muốn chia xẻ với tôi để tìm sự đồng cảm. Quả thực, lúc đầu nghe câu chuyện
bác kể lại, tôi cũng sót xa cho chi họ nhà tôi. Từ ngày có anh Sông, gia đình
chúng đã xảy ra biết bao biến cố, tai ương. Chúng tôi, những người sinh sau đẻ
muộn cũng không phải không gặp những trắc trở và từ đó tôi suy diễn từ những
chuyện, anh em, con cháu ly tán, người thì đành chấp nhận nghèo hèn nhưng lại
không an phận nên sinh ra việc mấy đứa cháu đánh nhau đến trọng thương, mang tật
suốt đời, có những đứa không chịu hơn thiệt trong làm ăn dẫn đến chuyện từ mặt
nhau, còn những ai muốn vươn lên lại phải gặp nhiều bất trắc, chẳng thể làm nổi
việc gì to tát để có được một vị trí cao
trong ngay cả ở trong cái làng Trằm nhỏ bé này thôi chứ nói gì tới toàn xã hội.
Tôi cho rằng, nghiệt chướng chăng? Nếu bác Nhụ khi ấy kìm được lòng dục của
mình thì liệu rồi gia đình tôi có phải chịu những chuyện sau này? Và những đứa
em, đứa cháu trong chi họ nhà tôi, biết nhường nhịn nhau thì đâu có những cảnh
đau lòng. Tất cả chỉ là dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi.
Cúng ba ngày bác Nhụ xong, tôi phải từ
giã quê để trở về nơi chốn tôi đã sinh ra và trưởng thành đến ngày nay. Tôi
muốn nếm thêm vị đắng của đời, xem lòng mình có thể chịu được đến đâu. Trên con
đường mới, hôm về tôi đã đi từ đầu làng Chuông tới đình, giờ ra đi tôi sẽ đi
tiếp từ đình qua bên Thuận Thanh để xem lòng mình còn xót xa. Tôi biết vì sao
cô Thư lại nói “cả làng này chỉ còn có mình tao” là lý do gì rồi. Duy chỉ có
thằng Hoà là người thứ hai phản đối việc tay Trường vào Đảng, thế nhưng nó lại
là người ủng hộ mở thêm con đường này, xét chung lại thì có phải làng này chỉ
còn có mình cô Thư là đúng sao. Bà cô tám mươi tuổi của tôi còn khoẻ lắm, con
đường lổng chổng những mô những đống thế mà vẫn đi băng băng chẳng phải nhờ tới
tôi giúp.
- Chỉ còn mình cô ở làng thế cô không sợ
chúng nó dã tâm à? Lần sau nó không đẩy xuống ao nữa đâu mà sẽ tàn bạo hơn nữa
đấy.
Tôi nói cho vơi nỗi xót xa mỗi khi nhìn
ra xung quanh gặp toàn những cảnh đào xới bới lộn tơi bời nhưng cũng là nói ra
nỗi lo thực sự cho cô tôi. Anh em cô giờ đây chỉ còn có mình cô trên đời. Cô có
cảm thấy cô độc, có cảm thấy buồn tủi gì không!
- Mẹ cha nhà anh, anh lại phải lo cho
tôi. Ma còn chẳng dìm được tôi nữa là. Tôi còn phải sống hơn một trăm tuổi chứ
bà Sông chết còn sớm đấy anh ạ.
Tôi không còn nhận ra cảnh vật xung
quanh, chỉ vào con mương lạ hỏi cô Thư:
- Con mương này mới đào à cô?
- Mương nào, cha bố nhà anh, tại anh năng
về quê quá cho nên không còn nhận ra đâu vào đâu nữa, chả thế hôm về đứng giữa
làng mình còn hỏi đường về làng mình lối nào. Sông Vàng đấy.
- Sao lại là sông
Vàng!?
Tôi ngơ ngác nhìn quanh xác định lại vị
trí đang đứng của tôi. Đúng là sông Vàng thật. Nhưng sao lại bị ngăn làm hai
thế này.
- Thế này là thế nào hả cô?!
- Thì bên Thuận Thanh họ đòi chia. Sông
của họ thì họ dùng, sông làng mình thì làng mình dùng. Mất khối công đắp bờ.
Tôi lặng lẽ đi về phía mộ cụ tôi. Ngày
xưa mộ cụ được nằm bên bờ dòng sông đầy ăm ắp nước mát lạnh. Dòng sông cụ tôi
đã phải đổi cả tính mạng mới khơi lên được. Thế mà đến giờ, dòng sông chỉ còn
là con mương thì thử hỏi, cụ ơi cụ dưới ấy có hài lòng. Ngày xưa, mộ cụ được
hàng xà cừ xoà bóng che mát thì giờ đây đến ngọn cỏ cũng bị bàn chân con người
và cái nắng như thiêu như đốt dày vò đến xém đỏ, lơ phơ vài cọng trồi chụt nhô
lên. Tôi đưa mắt tìm cầu đá. Cầu đá ở đâu. Thôi, chẳng phải nhọc công, dòng
sông đã mất thì cầu còn có tác dụng gì.
Tôi nhìn vào ánh mắt hướng về xa xăm của
cô Thư để tìm được người chia xẻ giọt đắng với tôi. Người già đâu có còn thể
hiện được được tình cảm của mình bằng ánh mắt nữa đâu. Bên khoé mắt của cô đọng
hai giọt nước mắt đặc quánh như giọt keo.
Tháng 10 năm 2007
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét