Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần cuối)

PHẦN  4
DÒNG   SÔNG   CHỞ   KIẾP

NHỮNG CÁNH HOA MUA TRỞ NÊN NHÀU NHĨ, TÍM TÁI HƠN DƯỚI BÓNG CHIỀU. Bóng tối đang ẩn nấp sau tán lá khiến những cây mua như được cuộn tròn mình lại, chẳng khác gì một đàn gà đã lên chuồng xếp cánh gà gật ngủ. Sơn bần thần, đi xuống tới lưng chừng rồi lại leo lên không biết bao lần trên quả đồi sau doanh trại. Cảnh đoàn viên với gai đình của các đồng đội khiến Sơn mủi lòng. Những cánh hoa mua bị vò nát, tím thâm bàn tay. Tiếng kẻng báo giờ cơm chiều rộn rã, khua tan không gian tĩnh lặng trong giây lát. Chờ khi nào bóng tối sụp xuống Sơn mới trở về, một mình ăn cơm rồi lặng lẽ lên giường cố dìm mình vào giấc ngủ.
Khi tiếng reo: “Đất liền kia rồi!” của ai đó hét lên, tất cả mọi người đều bật dậy nhao lên mũi tầu. Mọi ánh mắt nhìn miết về một vệt xam xám như sợi chỉ căng ngăng mặt biển phía trước, háo hức chờ đợi. Vệt màu xám dần dần vồng lên trông như chiếc lá chuyển sang màu đen sẫm. “Đúng là đất liền! Ngày xưa tôi ra biển nhiều rồi sao chưa lần nào lại để ý tới đất liền hình thù thế nào khi quay trở về cơ chứ!” - Một người đứng sau Sơn cố kiễng chân để nhìn cho rõ, hậm hực nói. Bầu trời sau cơn mưa trở nên trong suốt. Những con sóng vỗ lách chách hai bên mạn tầu. Mọi người nghe thấy hơi thở dồn dập của nhau. “Có phải hàng cây kia không? Đúng là hàng cây rồi!” “Bác lái tầu ơi, có phải sắp vào tới bờ rồi phải không?” “Nửa tiếng nữa là tới Sầm Sơn”
- Về tới quê mẹ rồi!
Một tiếng reo vang lên, cầm nhịp cho gần hai trăm chiến sĩ tù binh Côn Đảo trở về trên ba con tầu đang hướng mũi về đất liền đồng thanh reo lên như tiếng sấm rền loang trên mặt biển. Tất cả đồng loạt cởi hết quần áo, khuân những hòm nhu yếu phẩm được phát của quân đội Pháp ném hết xuống biển.
Mới chỉ nhìn thấy đất liền thôi đã có người xúc động đến quỵ ngã. Thế là những ngày chờ đợi đến cạn kiệt, mong mỏi đến cháy lòng, ngày được trở về với quê mẹ đã trở thành hiện thực. Bước chân xuống bãi cát nóng bỏng của bờ biển Sầm Sơn, Sơn bần thần ngóng đợi, một ánh mắt thân quen, một tiếng gọi tên mình Sơn sẽ nhào đến để trút những giọt nước mắt đang ầnh ậng dâng lên. Biết điều đó là vô vọng nhưng Sơn vẫn cứ ngong ngóng chờ đợi. Mặc bộ quần áo mới, được đi dưới rừng cờ và hoa của những người đến đón chào, Sơn cố hoà mình vào niềm vui chung của mọi người nhưng mỗi khi bắt gặp những cái ôm thân tình, những lời hỏi thăm cởi mở của những người nhà ra đón lại khiến Sơn chạnh lòng. Sơn tủi thân, ngày mới bị bắt, chỉ cách nhà có vài cây số đã chẳng được ai một lần hỏi thăm, chắc ngày trở về sẽ chẳng ai màng tới.
Học xong khoá chỉnh huấn của quân khu Tả Ngạn, trước khi phân công công tác mới, đơn vị cho nghỉ phép một tháng về thăm gia đình. Mấy ngày được nghỉ ngơi cho nên ngày nào mọi người cũng rủ nhau ra con dốc cổng doanh trại, hướng ánh mắt về phía xa ngóng chờ bóng những chiếc xe ô tô chạy ngang qua, phỏng đoán xem chiếc nào sẽ rẽ vào đón mình. Còn Sơn, một mình lủi thủi bên vạt rừng nhặt nhạnh những cành củi khô, chờ tới giờ tiếng kẻng cơm dóng lên mới lững thững trở về. Sơn lặng lẽ ném bó củi cho nhà bếp, rửa chân tay rồi bưng khẩu phần của mình ra góc nhà lặng lẽ ăn. Cho đến buổi trưa ấy, mặt trời đã ngả sang phía tây nhưng không có tiếng kẻng báo nào vang lên, Sơn biết thế là đơn vị chỉ còn mình Sơn. Nỗi cô đơn quặn thắt trong lòng, đau đớn, Sơn ôm lấy một gốc cây cho khỏi khuỵ ngã. Nhưng nỗi cô đơn kéo tuột Sơn vào trạng thái bồng bềnh, giống như cái ngày chạy về với cha. Trắng băng màn nước, Sơn chồi chụt, ngoi ngóp như con nhái, cố bươn về phía trước nơi có chỗ để bấu víu cho sự sinh tồn. Sự hiện hữu của mái nhà, giọng nói ấm áp của cha, ngọn lửa nhen lên trên bếp, tiếng nồi cơm lục bục sôi, những cái đó sẽ khiến Sơn thoát khỏi cô đơn, nhưng khi ấy chỉ có màu trắng đục, lạnh lẽo và tiếng ào ạt của mưa gió dìm Sơn vào vô vọng. Sơn cố vùng vẫy để giải thoát ra khỏi sự cô đơn. Nhưng chỉ chững bước chân lại, mở mắt ra thấy mênh mông, trống trải của cánh đồng nước thì nỗi cô đơn lại dìm Sơn xuống. Giờ đây, những dãy nhà lợp lá cọ như nằm ệp xuống trước sự trống vắng của sân doanh trại, màu xanh ngằn ngặt của núi rừng tràn ra xoà kín khắp trần gian. Mênh mông màu xanh. Màu xanh loang chảy như thứ keo dấp dính bọc kín Sơn lại trong tê tái. Những đám mây trôi qua, bóng nắng chạy như trận đồ bát quái bủa vây, thách thức Sơn phải vượt qua. Vượt qua sao được khi không còn cái đích để mình cố bươn lên mà bấu víu. Cái đích ấy chẳng nhẽ chỉ là nấm đất nhỏ nhoi đắp lên người cha mà trong suốt từng ấy năm xa quê Sơn canh cánh một lần gặp lại để quỳ xuống tạ lỗi! Nấm đất ấy bây giờ cũng bị màu xanh u minh của núi rừng xoá nhoà trong trí não, không một hình ảnh nào hiện hữu thành đường nét cụ thể, cô đơn đã khiến Sơn trống rỗng và vô hồn.
Những người trả phép lần lượt lên đơn vị. Người ta hỏi thăm nhau chuyện gia đình, chuyện làng xóm, cả những chuyện tai nghe mắt thấy dọc đường. Có những niềm vui tột cùng và cũng không ít những giọt nước mắt đau thương. Nhưng cõi lòng con người được chia sẻ cùng nhau sẽ bớt cô đơn. Đâu phải như Sơn, biết được chia sẻ điều gì hay để rồi cô đơn lại thêm chồng chất cô đơn.
Bóng tối như con rắn trườn ra từ trong mạch đất, nhẹ nhàng quấn níu bước chân Sơn ở lại cùng với cô độc của rừng thẳm. Nhưng bất ngờ những đốm lửa nhỏ nhoi được nhen  bùng lên, tiếng cười nói, tiếng lịch kịch của đồ vật va chạm vào nhau từ phía doanh trại dội ra tạo nên sức hút ma lực của sự hiện hữu cuộc đời kéo Sơn về với những khát khao. Hãy bươn lên để sống, hãy vạch lá tìm đường để thoát ra khỏi đại ngàn, sẽ thấy con đường để mình đi tiếp, đó là những ý nghĩ tự động viên mình mấy ngày hôm nay của Sơn. Hôm nay là ngày trả phép cuối cùng, những gian nhà chật kín người, tiếng cười nói tưng bừng, đến tiếng chào hứng khởi của ai đó chạy ngang qua Sơn cũng vội vàng. Sơn thở dài trút bớt ưu phiền trong lòng. Tiếng lách chách rộn ràng của dòng nước như mời gọi, Sơn rẽ vào mó nước, dầm mình trong làn hơi lạnh mơn man.
- Sao lại dửng dưng thế hả Sơn!?
Anh Thịnh là người cùng buồng giam ở Côn Đảo đi ngang qua, hỏi có ý trách móc.
- Dửng dưng chuyện gì hả anh? - Sơn không hiểu ý anh Thịnh, hỏi lại.
- Người nhà lặn lội lên thăm từ chiều mà chú vẫn còn ngồi bì bạch ở đây là thế nào.
- Người nhà ai ạ!?
Thay vì nhận được câu trả lời của anh Thịnh, Sơn giật mình bởi tiếng đàn bà hờ khóc gọi mình:
- Sơn ơi! Chị nghe thấy tiếng em rồi, em ở đâu!?
Bác Sông! Sao lại có chuyện bất ngờ thế này. Sơn quýnh quáng mặc vội quần áo, luống cuống đến nỗi lộn ngược lộn xuôi không xỏ được tay vào áo. Bà Sông nhào tới túm tay em lôi tuồn tuột về phòng. Sơn níu tay chị lại như đứa trẻ hờn dỗi, vùng vằng:
- Chị ơi, chờ em mặc quần áo xong đã!
Thịnh phải bật cười vì hành động của hai chị em:
- Thì bác để chú ấy mặc xong quần áo đã nào, tôi chưa thấy chị em nhà nào lại mừng vui như chị em bác, ấy vậy mà chú ấy cứ buồn suốt mấy tháng nay.
Bà Thư với đĩ Xoan cũng chạy xúm lại kéo Sơn. Bà Thư chì chiết:
- Cậu thật không biết điều, đi vào nhà rồi tôi bảo!
- Thì để em mặc quần áo xong đã nào!
- Đi về thay bộ quần áo mới, quần áo hôi rình thế này mà cứ để mặc à!
Khoác bộ quần áo còn thơm mùi hồ, hơi vải ấm sực nhưng Sơn vẫn cảm thấy hơi lạnh bò tê khắp da thịt, người run lên bần bật như phải cơn sốt rét. Sơn so ro ngồi ghé vào mép giường như đang chịu lỗi trước hàng chục người ngồi vây quanh. Mọi người đến để mừng cho buổi hội ngộ của gia đình Sơn. Đĩ Xoan ngồi cạnh chồng, mặt cúi gằm, thút thít khóc. Bà Sông quyệt ngang quyệt dọc những dòng nước mắt chẩy tràn trên mặt, luôn miệng cười chào mời mọi người. Bà Thư từ lúc gặp em vẫn giữ nét mặt căng thẳng. Bỗng bà Thư đập tay xuống chiếu khiến mọi người im lặng. Bà giành giọt nói từng tiếng:
- Cậu Sơn! Cậu nghĩ thế nào mà từ bỏ chị em, từ bỏ làng quán, ai làm nên tội với cậu nào!
Bà Sông lau nước mắt, gàn bà Thư:
- Để chú ấy vui với anh em đã, chốc nữa có chuyện gì chị em hãy nói.
Bà Thư cương quyết:
- Không được, nhân tiện có anh em đồng chí đây, cậu phải nói để cho mọi người thấy cái sai của cậu.
Đĩ Xoan khóc nấc nghẹn.
Hai hàm răng va vào nhau cồng cộc, Sơn ậm ừ nói dỗi:
- Thì các chị có coi em ra gì đâu!
Bà Sông vuốt mặt, than:
- Ôi giời ơi! Sao em tôi lại nói thế, hả giời. Cả nhà chỉ còn mình chú...!
- Thì ba tháng ở bốt Cầu Bà Sinh, ở đồn Cẩm Giang có ai đả động gì tới em đâu.
Bà Sông lại than, nhưng là giọng nói phấn chấn vì đã hiểu được ý em:
- Ôi giời ơi! Tính chú ấy giống hệt ông cụ nhà tôi các đồng chí ạ, động tí là tự ái, mà tự ái đến sụp giời sụp đất.
- Cậu có còn là thằng cu lên năm lên ba không, có bằng cái đĩ nhà cậu không. Cái đận chúng nó giam cậu ở dưới ấy, vợ cậu bụng chửa vượt mặt mà đi bộ mấy chục cây số, ăn đường ngủ chợ để chầu chực van nài chúng nó cho gặp cậu, cái đêm nghe báo cậu chuyển đi nó chạy xấp chạy ngửa may mà không xẩy, đến giờ con cậu công nên việc xuống được rồi cũng chưa được đặt cái tên, cậu là Sơn chúng tôi gọi lái đi là Núi, cố chờ cậu về. Thế cậu nghĩ chúng tôi ở nhà ăn ở thế nào mà dằn dỗi, hả!? - Bà Thư nói dồn một thôi. Nói xong bà ôm ngực ho dữ dội.
Sơn ngỡ ngàng nhìn chị, nhìn vợ, nhìn ra xung quanh mọi người. Nước mắt trên mặt bác Sông đã khô, tiếng thút thít khóc của vợ cũng bặt, ánh mắt của mọi người thu lại giấu sau hàng mí cụp xuống. Tất cả yên lặng có phải là để trách móc Sơn! Nước mắt ầng ậng dâng lên, rồi lăn tràn xuống, Sơn cố kìm tiếng khóc nấc nhưng không được, hậm hực trong cổ. Các chị cứ trách em nữa đi, em muốn được nghe các chị nói, mỗi lời nói của các chị em thêm nhẹ lòng. Gia đình mình là thế đấy các chị, sống ở đời lấy cái tình làm nặng, em dằn dỗi cũng tại tưởng mình đã bị mất cái tình ấy. Không biết cô Xoan có hiểu được cái tình ấy của gia đình chồng? Lấy nhau để chiều ý thầy, gần nhau có được mấy ngày, ấy vậy các chị nói về cô ấy khiến em ân hận về những ngày vừa rồi lắm. Giá kể em về thì tình cảm giữa hai chúng em có chăng thêm khăng khít. Em đã được làm cha mà không hề có tí chút tình cảm của một người cha là thế nào. Em về thì có thêm được tình cảm cha con, sẽ làm ấm lại gia đình. Thế mà trong lòng em lại nguội lạnh là sao? Có phải em không biết nghĩ tới điểu đó, hay chính em là người đã tự đánh mất cái tình ấy rồi hả các chị!
- Đấy, cậu nghĩ lại xem, chúng tôi làm gì nên tội để cho cậu giận nào!
Sơn không thể kìm được những hàng nước mắt lã chã lăn xuống, tiếng nấc nghẹn ngào, không kìm được lòng mình, quỳ xuống trước mặt các chị xin tha tội:
- Em biết tội rồi, các chị, các chị tha tội cho em. Mai ngày em sẽ về tạ lỗi với thầy, u!
- Cậu biết thế là chúng tôi vui rồi, đứng lên mời mọi người ăn múi cam. Cậu còn nhớ cây cam của thầy Quyết mang giống về trồng không, từ ngày cậu chưa đầy chục tuổi, năm nay sai trĩu quả các đồng chí ạ, nhưng mà chua, chả biết đồng đất quê tôi thế nào chứ mấy năm đầu quả cam ăn ngọt như đường, thế mà mỗi năm lại thêm mỗi chua, ăn với chị em chúng tôi vài múi cho đỡ háo.
Những múi cam mọng nước, rôn rốt chua hoá ra lại dễ ăn với mọi người. Hai bị cam đầy chỉ một chốc không còn lấy một quả. Cuộc chia vui cùng gia đình Sơn mãi tới tận khuya mới chia tay. Tĩnh lặng ôm trùm khắp đất trời. Những dãy nhà bình yên, nằm duỗi dài tắm mình dưới dòng ánh sáng trong vắt như dòng nước từ trên trời xuôi xuống, mơ màng những giấc mộng đẹp. Có con bìm bịp nào đó thấy ánh trăng tưởng trời đã sáng, giật mình hoảng hốt bay ngang qua cánh rừng cất tiếng gọi bạn làm chênh chao cả trời đêm.
Những giọt sương đêm đọng lại trên ngọn cỏ long lanh vụn như thuỷ tinh. Sương tan vào lần vải áo mơn mơn lạnh, Sơn muốn ngồi sát vào cạnh Xoan vừa để tìm hơi ấm, lại vừa tạo được tình cảm gần gũi vợ chồng nhưng nhìn lên nét mặt nghiêm nghị của hai chị lại không dám. Sơn rụt rè đề nghị:
- Hai bác với u cái Núi vào chợp mắt lấy một lúc để còn lấy sức, mai xe đơn vị đi sớm, không rồi mệt.
- Chú dứt khoát đi để chúng tôi còn liệu. Tôi phân tích hết nhẽ rồi đấy, chú phải về quê, tuy không phải là trưởng nhưng bây giờ chú là giường cột trong nhà để chúng tôi cậy nhờ. Chú không tính tới cái chuyện với nhà lý nữa sao, ai ngờ nó khốn nạn đến thế, từ lúc chú nói tôi mới biết được nó chỉ hầm, bầm gan tím ruột mỗi khi nghĩ tới bộ mặt nó còn nhơn nhơn ở làng, ma ranh ma bùn hơn thằng bố nó, chú về lần này phải vùi mặt nó xuống chuôm mới bõ. Tôi hỏi ướm các anh trên huyện rồi, còn ai phụ trách quân sự huyện hơn chú được nữa, các anh ấy mong chú lắm, chú đừng phụ lòng mọi người.
- Em không về mọi người lại bảo em bạc tình bạc nghĩa, nếu có về thì không trả thù lý Ngà thì không hả, em nghe rõ tiếng nó nói để nó đi ra đình đã rồi hãy đào, tìm lâu lâu một tí, nếu bắt được bắn chết luôn cho tiệt giống. Ai mà không hận không thù. Nhưng thực lòng, nghĩ đi là thế, nghĩ lại mình ăn ở gây thù chuốc oán thêm thì cũng không qua được sông để mà thoát xác.
- Chú ... thật ... chẳng khác thầy tí nào!
- Bác ạ, em cũng ngẫm ngợi suốt từ hôm nhà anh Ruộng bên Chuông về báo, à mà có khi từ ngày mình mới giải phóng cơ, em cũng phân vân, bây giờ cậu Sơn về thì gia đình mình được quần tụ, có chị có em, có cậu có cháu, đĩ Xoan được gần chồng chả hơn ư, nhưng mà nếu cậu Sơn có về rồi tối ngày qua lại gặp mặt nhau sẽ không sinh chuyện nọ thì cũng chuyện kia chẳng tránh được, mà giành giật, hằn thù nhau trong cái làng nhỏ hin hin này phỏng đáng mặt gì, tại sao có cơ hội mình không tung hoành cho thoả chí trai, đó cũng là ước nguyện của thầy, của ông, mình được vẻ vang với xã hội thì họ nhà nó không gằm mặt mà bước trước mình hay sao.
- Tôi thì chẳng nghĩ được như cô. Thế ý thím Xoan thì sao?
- Phận em chẳng được như các chị, em ý kiến gì được. Các chị ạ, chúng em lấy nhau là do thầy u hai bên sắp đặt, lại gần gũi chẳng được mấy ngày, đến giờ thầy cái Núi được tự do em chẳng dám níu về. Thầy nó thấy thế nào hơn thì làm. Còn chuyện tình cảm vợ chồng, nếu thầy nó có năm thê bảy thiếp em cũng vẫn sống thờ cha chết làm ma nhà chồng, thầy nó tìm được ai tâm đầu ý hợp thì em mừng.
Một vệt sáng của ngày mới rạn ra sau đám mây đằng Đông, mỏng mảnh như lưỡi gươm treo ngang đầu núi. Bà Sông chống đầu gối đứng dậy, ánh mắt mệt mỏi nhìn vệt sáng, buông tiếng thở dài, hậm hực:
- Nhưng ngày nào cũng nhìn thấy nhà lý nhơn nhơn cái mặt tôi không chịu nổi!
*
*     *
“THẰNG SƠN VƯỢT NGỤC, GIỜ CHỈ HUY ĐƠN VỊ  BỘ ĐỘI HUYỆN!”
“Mẹ cha nó, không biết nó nói thế có phải hay hù doạ mình! Cái thằng mặt quắt như hai ngón tay chéo thì sao tin được, làm nội gián cho Việt Minh, thằng quan hai cho ra Hà Nội đi cô đầu có một buổi đã giở mặt làm phản, bao nhiêu cơ sở bị phá thế mà nó vẫn kín mặt. Thằng hai mang, thằng ma lanh!” Mỗi lần tiếng súng rộ lên là lý Ngà lại sợ rúm người lại, nhìn quanh tìm xem có chỗ nào có thể an toàn để rúc người vào, tiếng thằng Tí “chuột” lại văng vẳng bên tai như lời phán của thần chết rình mò đâu đây. Tiếng súng ran lên, chỉ quãng cầu Đá, mấy viên đạn lạc về chiu chíu bẻ toác cành ổi đầu cổng khiến đĩ Sung hoảng sợ ôm đầu chạy thục mạng vào trong nhà. Nhìn thấy chồng rúc trong gầm bàn, đĩ Sung hai tay vỗ đùi, miệng gào lên:
- Giời ơi! Chui vào đấy mà tránh được chết à! Thằng Sơn nó dẫn quân về đến nơi rồi, biết chửa!
- Thế ra cái thằng Tí “chuột” nói đúng à?!
- Còn ngờ gì nữa, cả nhà nó đang kéo nhau ra đón kia kìa!
- Trốn đâu bây giờ!?
- Còn đâu nữa, ra bốt cầu Bà Sinh theo người ta mà nhờ cậy!
- Biết người ta có chứa mình không?
- Nó mà không dám à! Nó rúc vào váy tôi mà còn dám giở mặt à!
- Thế ra ...!
- Thế cái gì nữa, lúc này còn thế cái gì, có đi nhanh lên không!
Lý Ngà lật bật xuống nhà ngang, cố nín thở lấy bình tĩnh để bước chân không bị run, nhỡ có ai nhìn thấy thì coi như cái sự việc bộ đội đang đánh về không có gì liên can tới mình. Chính vào cái chỗ bờ tre ngày xưa trương Bân hay chui ra chui vào để tòm tem với u lý Ngà trên gác rơm chuồng trâu, đến bây lý Ngà mới nhận ra đó là một lối đi an toàn nhất. Lý Ngà nằm ép người xuống bờ đất, nhìn trước ngó sau xem có người nào đi ngang qua. Bên kia bờ rào là chuồng hôi nhà Thôi, lại cả dãy dài chuồng trâu, chuồng lợn, phân gio chảy ra ngập ngụa, ruồi nhặng mỗi khi có động bay lên cất tiếng kêu ran như tiếng sáo thổi thì chỉ có ma mới dám lại gần. Gai tre kéo rách toạc áo, cào tướp da tướp thịt nhưng dẫu vậy cũng chẳng khiến lý Ngà có một tiếng xuýt. Có nhẽ mọi người, nếu ai đó nhút nhát thì đã chui nhủi vào đâu đó để tránh mũi tên hòn đạn, còn ai bạo gan thì đã kéo nhau ra hết đầu làng đón Việt Minh trở về, cho nên đường làng vắng tanh vắng ngắt. Mà đến cả con chó cũng không thấy chạy rông ra ngoài. Giời phù cho nhà lý. Lý Ngà  chắp tay vái cầu may rồi cắm đầu chạy một thôi tới nghĩa địa cống Rô. Không bắt gặp một ai.
Đầu làng Chuông có bóng người, lý Ngà thụp nấp xuống sau ngôi mộ. Một toán người đang chạy lại, lý Ngà nằm như dán người xuống mặt cỏ. Cỏ xước chọc vào người ngứa nhôn nhốt. Bộ đội Việt Minh, thoáng thấy mũ lưới trên đầu là nhận ra. Lý Ngà bò giật lùi lại phía sau. Nhầy nhầy dưới bụng, mùi tanh khăn khẳn xộc vào mũi khiến Lý Ngà xuýt nôn. Tiếng chân rầm rập chạy qua, những bóng người khuất sau bờ tre làng Trằm, lý Ngà chống tay đứng dậy. Hẳn là bộ đội của thằng Sơn về rồi. May quá, giời phù cho mình chạy ra được tới đây. Ôi giời ạ, vừa nằm trên tấm ván thôi nhà nào mới bốc chắc chỉ dăm ba hôm. Lý Ngà ôm bụng nôn thốc nôn tháo. Nhưng từ sáng tới giờ đã được miếng cơm nào đâu để mà có cái nôn ra. Những dải nước dãi lầy nhầy, thòng thõng chảy từ miệng xuống như mớ ruột từ trong họng xổ ra khiến lý Ngà càng thấy kinh tởm nôn thêm. Bụng quặn thắt lại, lý Ngà vật vã đau.
Khi cơn đau dìu dịu, lý Ngà níu vào một cành xà cừ xoà xuống đứng dậy, nhìn quanh xem chừng có người để đi tiếp. Đằng ngôi mộ tổ nhà Thiếp hình như có người lúi húi! Lý Ngà hoảng sợ thụp xuống nấp. Ai thế, giờ này ra đây làm gì? Lý Ngà khom người, tia mắt qua khe hở của các ngôi mộ xem chừng. Không có ai là thế nào, rõ ràng đúng ở chỗ ấy, sau tấm bia kia, chỗ này nhìn rõ. Hay là người ta cũng nhìn thấy có người nên ẩn nấp? Lý Ngà nhô đầu lên xem lại. Đúng vẫn là người kia, đứng nguyên chỗ ấy. Ai thế!? Lý Ngà thụp xuống nhìn qua khe các ngôi mộ. Lại không thấy gì cả. Lý Ngà lại nhô lên nhìn. Người ta đang nhìn mình chằm chằm, còn nhăn răng ra cười ngặt ngẽo. Ai lại mặc bộ quần áo trắng toát thế kia? Cười mà chẳng ra tiếng, thôi đúng là mà trêu rồi!
Lý Ngà vùng bỏ chạy. Áo móc phải cành xà cừ, lý Ngà bị kéo giật lại ngã bật ngửa ra sau.
- Hu ... hú ... hú! Thầy ơi, cứu con!
Lý Ngà vùng dậy, vừa chạy vừa la. Tiếng la thảm thiết của Lý Ngà đánh động cho cả làng Chuông kéo nhau ra đón đường. Thấy có người chặn đường, Lý Ngà rẽ xuống cánh đồng, cắm đầu chạy như con trâu điên bị đứt thừng qua các thửa ruộng khô nẻ, cố thoát khỏi sự truy đuổi phía sau.
- Ai kia! Đứng lại! - Du kích làng Chuông không nhận ra nhà lý, chạy đuổi theo.
- Hu ... hú ... hú!
- Đứng lại, thằng Việt gian kia, đứng lại không tao bắn!
Lý Ngà nghe tiếng quát càng hoảng sợ, bươn chạy nhanh hơn.
Du kích nổ súng bắn doạ.
Tiếng nổ khiến đôi chân như sợi dây cao su đang bị kéo căng bỗng chùng lại, lý Ngà ngã mài mặt xuống những vẩng đất khô. Tiếng bước chân rầm rập như đất đang sụp tới nơi, lý Ngà vùng chạy tiếp.
Lý Ngà chạy, chỉ có phần xác chuyển động còn phần hồn đã bị văng đi mãi đâu. Cho tới khi quỷ thần bỗng nhận ra, số nhà lý chưa phải xuống địa phủ mới khèo chân kéo phần xác chạy nhào xuống mương để dừng lại chờ xem phần hồn ở đâu thì nhập về rồi hãy chạy tiếp. Nước xộc vào mồm, vào mũi khiến phần xác ôm ngực ho bỏng rát họng, cổ dướn lên hít lấy hít để không khí để còn duy trì sự sống không thì thối rữa đến nơi rồi. Phần hồn đang lơ lửng bay, thấy cái miệng há ngoác ra liền chui tọt vào trong. Đây là đâu rồi? Lý Ngà choàng tỉnh, nhìn quanh. Thế ra đây đã là mương Sói bên Đồng Trung rồi cơ à, nhanh thế! Đúng là ma đưa lối quỷ dẫn đường chứ lý Ngà có biết mình chạy thế nào. Cái cây thị này bị lính đồn cưa sát gốc để quan sát cho dễ đây mà. Chính hôm cưa mọi người cho rằng gốc thị có ma không ai dám, lý Ngà đã là người kéo đường cưa đầu tiên thì chẳng thể quên được. Lý Ngà vỗ tay vào gốc thị tỏ lòng biết ơn giời phật cứu mạng rồi bám vào trèo lên. Bốt cầu Bà Sinh lù lù như đống rạ kia rồi. Nhìn lại phía sau, không còn ai đuổi theo, lý Ngà thở một hơi dài trút hết nỗi hoảng loạn vừa rồi ra rồi ngẩng cao đầu cho đĩnh đạc như mọi khi, tiến thẳng về bốt.
Một loạt tiếng nổ bỗng rộ lên, những viên đạn xiu xíu sạt ngay gần, những viên đạn này không phải là đe doạ như khi nãy mà có chủ định nhắm trúng mục tiêu. Lý Ngà hoảng sợ nằm rạp xuống, co rúm người lại như con tôm. Không biết bên nào bắn đây? Tiếng súng vừa dứt lý Ngà nhao dậy chạy về bốt. Lại một loạt đạn nữa, lần này tầm bắn đã hạ thấp nên đất trước mặt lý Ngà cày tung một hàng, bụi mù. Bọn lính trong bốt bắn ra! Bọn bay nhầm à, lý Ngà thầm nghĩ như vậy nên vững lòng chạy ngược lại đường đạn, hai tay vời lên trước, miệng gào to:
- Tôi đây! Đừng bắn nữa!
- Đứng lại! Ai!
- Ngà đây! Lý Ngà làng Trằm đây! Ngài quan hai cứu tôi với!
Tiếng kêu cứu của lý Ngà vừa dứt thì tiếng súng bắt đầu rộ lên. Khắp nơi, cả phía trước phía sau, ngay trên đầu, cả đất dưới chân lý Ngà cũng rùng rùng chuyển rung sau những tiếng nổ. Phía sau, tiếng lên đạn lách cách nghe rõ mồn một, tiếng bước chân càng ngày càng tiến sát đến, phải vào bốt thì mới thoát được, lý Ngà thục mạng chạy giữa hai làn đạn.
Lý Ngà chạy bổ vào phòng ngài quan hai. Những viên đạn đuổi theo găm vào, bẻ gãy toang toác từng đoạn xà tre. Gian nhà như kẻ bị thương oằn oại, đổ dụi xuống. Ngài quan hai mọi ngày mặt đỏ phừng phừng như cổ con gà chọi giờ tái xanh như tàu lá, chạy nhao ra tránh nhà sập. Ngài chạy va phải lý Ngà ngã bật ngửa ra sau. Phản ứng của người lính khiến ngài rút súng chĩa thẳng vào đối phương đã làm ngài ngã.
- Đừng bắn! Đừng bắn, con đây mà!
Phản ứng của kẻ tôi đòi khiến lý Ngà thụp xuống quỳ lạy. Và chính cái phản ứng đó đã giúp lý Ngà tránh khỏi những viên đạn từ nòng súng của ngài quan hai khạc ra.
- Ông ơi, con đây mà! Lý Ngà làng Trằm đây mà!
Ngài quan hai nhận ra đối phương là ai, đút súng vào bao, đứng dậy lấy lại oai phong của kẻ bề trên. Sắc mặt đã hồng lên một chút, ngài hắng giọng:
- Mẹ cha nhà anh, cắm đầu mà chạy thế à! Mà anh chạy vào đây làm gì?
- Cứu con với, ông ơi!
Một loạt đạn chiu chíu găm xuống đất trước mặt, ngài quan hai vội nằm xoài xuống phòng thủ. Những tên lính buông súng chạy ngang qua. Một loạt đạn khác lao tới bẻ nốt những thanh xà chưa chịu rơi xuống. Tiếng súng gần lắm, ngài quan hai ngẩng đầu lên quan sát. Bóng những người mặc áo nâu, có cả những người mặc quân phục màu cỏ úa, mũ lưới trên đầu chạy vượt qua lô cốt đầu cầu. Việt Minh vào được bốt rồi! Ngài thốt lên, mặt biến sắc tái xanh hơn cả khi nãy. Ngài vùng bỏ chạy. Nhưng nào ngài có chạy được bởi lý Ngà đã túm chặt lấy chân.
- Con lạy ông, cho con theo với! Ông có bắt con cắn cứt con cũng xin theo!
- Thế thì mày cắn đống cứt kia đi! - Ngài quan hai văng đại một câu để lý Ngà buông tay chứ làm gì còn thời gian cho ngài đưa tay xuống rút súng ra được.
- Dạ!
Đạn lửa ác nghiệt thế mà sao đống cứt chó vẫn giữ nguyên được hình trạng từ lúc nó được thải ra, để cho ngài quan hai dù có đang bấn lên cũng dễ dàng nhìn thấy và để cho lý Ngà có cơ hội bày tỏ lòng thành theo ngài tới cùng. Nếu là lúc khác thì ngài quan hai sẽ cảm kích lắm, nhưng lúc này, đôi chân của ngài vừa được buông lỏng là lập tức lao vọt đi như con tuấn mã với nước chạy thượng phong.
Lý Ngà vọt lao theo.
Dọc theo hai phía đường ray đâu cũng thấy bóng Việt Minh, ngài quan hai chỉ còn nước nhảy xuống gầm cầu, hướng về bãi cỏ lăn mà thoát thân.
Mang tiếng làm bốt trưởng ở đây bao nhiêu năm rồi mà không biết địa hình ở đây thế nào, để phải nhảy từ trên cao xuống - Lý Ngà thả người tụt theo triền dốc xuống trước mặt ngài quan hai đang ôm chân đau đớn, trách thầm.
Những viên đạn xén xoèn xoẹt bụi cỏ lăn. Lần này thì lý Ngà là người chạy trước, còn ngài quan hai tập tễnh chạy theo sau, bám sát gót chân hai người là những viên đạn có hồn.
Tiếng “hự ... ờ ... ờ ... ợ!” đau đớn của ngài quan hai ngay sau lưng khiến đôi chân lý Ngà mềm nhũn lại, nhôn nhốt buồn như có kiến bò bên trong xương tuỷ. Lý Ngà lê lết từng bước bằng đôi chân không còn cảm giác, bằng lý trí mù mờ như lạc vào cõi bịt bùng, vô định về không gian và thời gian. Đôi chân không còn đứng vững nổi đã xô đẩy toàn thân lý Ngà ngã nhào xuống. Cảm giác cuối cùng khi ấy lý Ngà còn nhận ra là mặt bị đập xuống nước đau rát và hai lỗ mũi bị bịt chặt không thở được. Lý Ngà đau đớn, vẫy vùng. Nhưng càng vẫy vùng càng bị nhấn chìm sâu xuống nước. Rồi tiếp theo là thế nào thì cho đến lúc ý thức sinh tồn của một sinh linh trỗi dậy bắt lý Ngà phải vùng thật mạnh chân tay để cho thân xác hoạt động, hớp lấy chút không khí để cứu lấy linh hồn một lần nữa văng ra. Lần này thì thân xác lý Ngà nhìn thấy linh hồn của mình. Nó ngồi thu lu trong búi cỏ lau. Có nhẽ ngồi lâu thấy buồn, nó trèo lên vít ngọn cỏ lau luồn vào lỗ mũi rồi theo đó mà chui vào nhập về thân xác. Lý Ngà nhìn thấy linh hồn giống như một con cá quẫy nước tum tủm. Nước bắn lên mặt khiến lý Ngà tỉnh hẳn nhưng vẫn còn trong trạng thái mơ màng, bệnh bềnh trôi. Mà đang trôi thật, lý Ngà ngồi nhổm dậy lập tức bị tụt thủm xuống, nước lút ngang đầu. Lý Ngà chới với đạp mạnh để chồi người lên. Đám rong đuôi chó không những không cuộn vào chân kéo xuống mà như một thứ bàn đạp đẩy người lý Ngà lên.
Ơn giời, còn sống! Ý nghĩ đầu tiên của một sinh linh còn tồn tại trên dương gian là lý Ngà thốt lên câu nói đầy cảm kích đó. Đây là đâu? Mấy giờ rồi? Hôm nay là mồng mấy mà giời tối thui thế này? Lý Ngà hít một hơi thật sâu để khảng định mình còn sống, rồi bắt đầu cố nhớ lại những gì xảy ra trước đó. “Mình trượt từ trên đường tầu xuống chân cầu, đá răm cứa tướp thịt, giờ vẫn còn tê tê sót. Mình chạy, tiếng súng đuổi ngay sau lưng. Hai tai bây giờ vẫn còn vọng ù ù tiếng nổ. Thế thì khi ấy đạn vãi ra phải nhiều lắm. Không dính phải viên nào. Khủng khiếp quá! Thằng quan hai vời tay gọi, mình quay lại kéo tay nó chạy. Bỗng nó buông tay, khựng lại xuýt kéo giật mình ngã ngửa về sau, phát ra những tiếng kêu đau đớn. Không biết khi ấy mình có ngoảnh mặt lại xem nó thế nào không nhỉ? Không nhớ được. Nhưng tiếng hực của nó còn như lẩn quất đây đây. Liệu nó còn sống không? Cầu giời cho nó chết đi, không thì nhục! Miếng phân chó lầy nhầy, khăn khẳn như vẫn còn đọng lại ở kẽ răng thì phải. Mẹ cha nó! Nhục! Thế mà chẳng cậy nhờ được nó. Giờ thế nào đây? Đi đâu bây giờ? Đi thì không biết đường biết nẻo mà về nhỡ ra thằng Sơn trả thù thì cũng chết”
Lý Ngà vục nước cho vào miệng xục để cho hết cái cảm giác còn dính cứt chó trong kẽ răng. Tiếng nước rơi tong tõng như tiếng người rên rỉ quanh đâu đây trong đêm vắng lặng! Lý Ngà ngánh tai nghe. Không phải! Không còn tiếng nước rơi vã xuống nữa nhưng tiếng rên vẫn còn. “Tiếng gì thế? Hay tiếng linh hồn của thằng quan hai lẩn quất đâu đây! Giống lắm, giống tiếng linh hồn của mình khi nãy kêu than trước khi nhập về với thân xác!”
Hay là ma! Giữa đồng không mông quạnh này thì ma lang thang chẳng phải là chuyện bỡn. Ban ngày ban mặt, ngay đầu làng người qua người lại, súng nổ ầm ầm thế mà ma còn trêu nữa là ở đây. Lý Ngà thấy lành lạnh, sởn da gà, chân tay bắt đầu run cầm cập. Lý Ngà quờ tay gạt búi cỏ lăn trước mặt, luống cuống đạp nước bươn lên. Nhưng đi hướng nào mới vào bờ đây? Lý Ngà dừng lại xác định hướng thì bắt đầu vô vàn tiếng rỉ rả từ trong lòng đất ngoi lên, tiếng keng kéc như nghiến răng từ trên trời liệng xuống. Giá kể nhìn thấy thứ gì đó trước mắt để còn bấu víu cũng yên lòng, đằng này màn đen đặc quánh đến nỗi có con dao trong tay thì cũng không thể xắt ra lấy lối mà đi được. Trống ngực đập thình thịch, lý Ngà lẩy bẩy đưa chân dò dẫm bước đi. Đích thị là dẫm phải con cá chuối. Con cá phải to lắm bởi nó chuồi chuội đầy kín lòng bàn chân, nó giẫy thoát thân mà hất lý Ngà xuýt ngã. Biết đó là con cá chuối, nhưng lúc này, giữa đêm đen vắng lặng, lại từ dưới lòng đất chồi lên thì cũng khiến hồn phải xiêu, phách phải lạc, bắt lý Ngà không chạy không xong.
Húc đầu xuyên qua bức tường đêm mà chạy, đạp lên nhầy nhụa của đất đen mà chạy, thân xác không xác định được hướng thì đã có linh hồn dắt đi. Thân xác chạy hay là bay, hay là bò, giữa đêm đen đến những bóng ma cũng không nhận ra, đến linh hồn cũng không theo kịp để dắt đường. Vậy nhà lý đã về đến nhà thế nào? Cuối cùng thì thân xác đâm xầm vào cánh cổng, dừng khựng lại để cho linh hồn theo kịp nhập vào. Đau nhói ở đầu và cái lưỡi rám ráp, nóng hôi hổi của con chó liếm lên mặt chủ đó là cảm giác đầu tiên để nhận ra linh hồn và thể xác đã hoà nhập làm một.
- Ối giời ơi, tưởng ông chết rấp chết dúi ở đâu rồi, còn về được thì phúc mấy mươi đời rồi, ông ơi! - Đĩ Sung vừa nghe thấy tiếng chó rên ư ử vì ra sức lôi chồng vào nhà đã la toáng lên.
Lý Ngà giằng tay khỏi con chó, chạy vào bịt miệng vợ.
- Đồ đĩ! Im mồm ngay, mày lu loa thế là muốn gọi chúng nó đến giết tao phải không!
Đĩ Sung ẩy chồng ra, hai tay đập váy miệng gào lên to hơn:
- Sợ chúng nó giết còn mò về làm gì!
- Tao không biết, cứ chạy chả biết thế nào lại về đến nhà. Thế nào, chúng nó có mò vào nhà không?
- Có!
Lý Ngà hoảng hốt nhìn ra cổng rồi thu người ngồi nấp sau cánh cửa, run rẩy hỏi:
- Mẹ cha mày, thế mà mồm mày lu loa lên thế à! Chúng nó có hỏi gì tao không?
- Có chó nó để ý đến ông. Chúng nó bảo tôi ra đình họp, không có ông nhà thêm rộng, mấy tay huyện uỷ gì đấy trẻ măng, còn trẻ hơn thằng Sơn ...
- Đồ đĩ dài đĩ rạc! Cái chuyện mày với thằng quan hai ông chưa rờ đến, giờ lại còn đĩ mồm, cạnh khoé ông à. Ông là ông báo cho chúng nó gô cổ thằng ấy vào.
- Có giỏi thì đi báo, người ngợm như con cua bấy, chả bõ làm ngứa háng bà!
- Á chà! Từ dạo tao kết thân với thằng quan hai là thấy mày sinh ra chờn mặt với tao, hôm nay mới biết vì sao, tưởng tao chết đêm nay mày định rủ thằng nào vào nhà nữa mà dám chửi thẳng vào mặt tao.
- Chứ không à! Nói thật với ông, chẳng phải tôi dấm dúi với thằng nọ thằng kia là tôi thèm cái đấy, mà dạo này thấy ông hèn mọn, chẳng đáng mặt đàn ông ...
- Mẹ cha mày, coi khinh ông à!
Lý Ngà đang ngồi thu lu sau cánh cửa vừa rít lên vừa nhoai dậy túm chân đĩ Sung kéo giật hất lên. Đĩ Sung ngã ngửa dập mông xuống nền nhà. Chưa kịp phản ứng gì, thậm chí đĩ Sung cũng chưa kịp kêu đau thì đã bị lý Ngà chuyển tay túm gấu váy kéo tuột ra khỏi người, tơ hơ. Nhanh như mèo vồ chuột, lý Ngà chồm lên đè vật đĩ Sung nằm xuống. Phản xạ đầu tiên của người bị ăn hiếp, đĩ Sung vội luồn hai tay xuống ấp lên bẹn, miệng u ơ ngạc nhiên:
- Ông ... ông làm gì ... thế?
- Mẹ cha mày, ông cho mày biết thế nào là đàn ông, mày tưởng ông hèn mọn à!
Hiểu chuyện gì đang xảy ra, đĩ Sung buông tay ở bẹn mình ra, xoay lại thọc vào trong quần chồng.
- Gớm nhỉ, tưởng sợ thụt dái vào thế ra vẫn còn hăng nhỉ, bố con nhà ông chẳng sợ mất giống!
Đĩ Sung buông xuôi, nằm thõng thượt vô cảm như mọi lần. Mỗi khi làm hắn tức, thể nào đêm ấy đĩ Sung cũng bị hành hạ bằng những cái cấu véo đến thâm tím vùng bẹn. Mỗi lần như thế, con cu của hắn lại thụt tịt vào chẳng bằng đứa trẻ lên mười. Đĩ Sung càng chọc tức thêm bằng cách cầm “con đỉa” nhũn nhẽo của hắn dí vào của mình. Khinh cho bõ tức chứ mỗi lần làm thế đĩ Sung càng bị đau hơn bởi thế nào cũng bị dằn ra để trả thù, ngón tay hắn thọc sâu vào cửa mình đau rát. Nhưng lần này không thế, của hắn cương lên, ấn lút sâu vào cơ thể đĩ Sung.
Mỗi lần ấn sâu vào là một lần hắn vả vào mặt đĩ Sung, và tiếp đó một câu chửi văng ra:
- Mẹ cha mày, tưởng ông không là đàn ông à mà mày còn đi đánh đĩ!
- ....!
- Mẹ cha mày, chúng nó không động chạm đến ông, để ông sống là cho ông hành hạ mày tới nhục, đồ đĩ rạc!
- ....!
- Ông sẽ lấy vợ hai, cấm cửa mày để cho mày chết già!
Cũng may thằng cu Vương với cái đĩ Ngái đi ra đình xem Việt Minh rồi không biết ngủ chạ nhà nào.
*
*     *
NGỌN GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC ÀO QUA, ĐÁM LÁ KHÔ RÙNG MÌNH CỌ VÀO NHAU RÀO rạo. Những quả ba giăng đen nhánh, treo lúc lỉu trên cành cây, run rẩy va vào nhau phát ra tiếng lách cách như tiếng mõ trâu từ đâu đó vẳng trên không trung. Hình như ở nơi đô hội san sát nhà, chật ninh ních người ta mới có xúc cảm về những đợt gió mùa Đông Bắc tràn về thì phải, ai cũng run rẩy trong lần áo bông to xù, ai cũng ngán ngẩm ngước nhìn lên bầu trời xám xịt, quan sát cảnh vật xung quanh để buông tiếng xuýt xoa và có vài lời bình phẩm về đợt rét lần này thế nào, sẽ ra sao. Ba mươi tuổi, như vậy là cuộc đời đã trải qua ba mươi mùa đông có những đợt gió mùa Đông Bắc, nhưng hai chín mùa trước chưa một lần Sơn để tâm tới những cảm nhận, có những quan sát về sự thay đổi của không gian, thời gian chuyển mùa thế nào. Và những con người ở thôn quê ai cũng thế, có rét cắt da cắt thịt, lội ruộng lạnh thấu xương cũng thế thôi, năm nào cũng vậy có chuyện gì đáng phải bận tâm đâu. Hay chăng, lúc này Sơn đang cô độc, không một người thân quen giữa thành phố lớn, hoặc là Sơn đang chỉ có một mình trên chiếc ghế đá lạnh băng trong công viên mà nẩy ra cái ý nghĩ đó chăng? Sơn đưa tay lên sờ lại chiếc khuy cổ của chiếc áo đại cán vừa mới được thưởng hôm qua. Mùi vải còn thơm, mép chỉ còn cứng cọ vào cổ ngưa ngứa. Sơn nén tiếng thở dài, tự trách mình sao hôm nọ lại vô cớ nặng lời với anh Thịnh. Thứ mùa đông ở đây sao giá băng, dễ khiến con người buồn nản, con người mình đâu có thế ... - Sơn cố tự vấn mình bằng những ý nghĩ trong sáng về người đồng chí, người mình phải mang ơn.
“Đi với tao đi!” Chỉ một câu nói bâng quơ nhưng cởi mở, thân tình của người anh, người đồng chí cùng buồng giam ngoài Côn Đảo đã lôi kéo Sơn tới thành phố miền biển này. “Em đã biết gì về công việc đâu, nhỡ không làm nổi” “Cứ có tinh thần cao, trách nhiệm tốt thì công việc có khó mấy rồi sẽ mầy mò làm được hết!” Có thân tình thì mới có lời nói chân thành đến thế, Sơn quý anh Thịnh ở chỗ sống chất phác, nhiệt tình với anh em. Sở thương nghiệp - cái tên đã đủ lạ lẫm với Sơn chứ chưa nói gì tới công việc phải đi giao dịch, thu gom hàng hoá ở các nơi về, rồi lại phải phân phối xuống các cửa hàng bán lẻ sao cho công bằng, hợp lý thực sự là bài toán hóc búa. Nhiệt tình thì Sơn có thừa, xe đạp cơ quan nặng hơn xay cối đá nhưng hơn ba chục cây số tới các hợp tác xã ngoại thành dưới cái nắng đổ lửa có chăng chỉ là việc rèn luyện sức khoẻ, nhiều hôm không có xe nhưng cuộc hẹn với khách hàng thì không thể lỡ vậy là nửa đêm đã mài chân trên đường. Anh Thịnh nói đúng, mình cứ nhiệt tình với công việc cũng khiến người ta phải cảm động mà thụân công thuận việc, chứ dùng lời ăn tiếng nói để thuyết phục có khi lại bị ghét, người ta nghĩ rằng mình lươn lẹo mánh qué. Mình có trách nhiệm cao, lúc nào cũng toàn tâm toàn ý với công việc thì rồi khó mấy cũng tìm ra hướng giải quyết. Chỉ chưa đầy một năm, hệ thống thu mua và phân phối sản phẩm nông nghiệp trong toàn thành phố đã được Sơn đưa vào guồng máy hoạt động theo một chu trình khép kín và có hiệu quả. Sở thương nghiệp hình thành một phòng mới - đó là phòng nông nghiệp.
Một tuần chờ công bố quyết định thành lập phòng chức năng mới cùng bộ máy điều hành của nó là một tuần Sơn rạo rực, phấn khởi. Thế là bao ngày chỉ mình Sơn nhọc công, nhọc sức, trút bao tinh thần và vật lực cho đứa con mới ra đời, vun đắp “ngôi nhà” sở thương nghiệp thêm hoàn thiện. Rồi mai ngày Sơn sẽ đưa tiếng tăm của phòng vang xa, khiến mọi người kính nể, để không phụ lòng dìu dắt của anh Thịnh. Buổi sáng nào đến cơ quan, Sơn cũng phải đi ngang qua phòng giám đốc, liếc mắt vào cánh cửa màu xanh lá cây mong chờ hôm nay nó sẽ mở ra. Một tuần ngóng trông như vậy. Ngay tuần sau thì ... Anh Thịnh đi công tác đã về! Sơn thầm reo lên trong lòng khi thấy cánh cửa màu xanh lá cây hé mở, bên trong cánh quạt trần quạt gió phần phật. Mong chờ là thế nhưng từ xa bước chân Sơn đã chựng lại, trù trừ không biết có nên vào chào anh ấy? Nếu là những ngày trước kia thì chắc chắn Sơn sẽ ào vào phòng giám đốc, vui mừng reo lên như được đón người thân đi xa lâu ngày trở về. “Nhưng lần này mà thế, người ta sẽ đánh giá mình ra sao? Một tay xu nịnh, bợ đỡ để mong được cất nhắc! Một kẻ thấy người sang bắt quàng làm họ, trình độ học vấn được là bao, công lao đã là gì mà đòi được làm lãnh đạo! Nếu thế thì ô danh lắm” Ánh mắt của mọi người tuần nay đã khác, khiến Sơn phải suy nghĩ. “Khi còn ở cái làng bé hin hin, hô hào, ra lệnh cho mấy chục người đã thấy mình là oai, đến khi ra đây thấy mình chỉ là gã quê mùa choáng ngợp trước sự đồ sộ của một thành phố lớn, ngẩn ngơ trước sự vận hành của một hệ thống kinh tế”. “Liệu mình có đảm đương được chức vụ sắp được giao hay không?!” “Phải được! Có gian nan nào mình đã từ!” - Sơn tự vấn mình.
Bước chân do dự đưa Sơn bước qua phòng giám đốc lúc nào không hay. Đến khi có bàn tay bám vào vai giữ lại, rồi tiếng giám đốc ngay sau khiến Sơn giật mình, tim thót lại hồi hộp.
- Trông cậu làm sao thế này, lại sốt rét à, mặt mũi tái mét, run lẩy bẩy thế này, đi qua phòng tôi cũng không vào chào nhau lấy một lời là thế nào?
Sơn nuốt hơi thật sâu để bớt hồi hộp nhưng giọng vẫn còn run, dối lòng:
- Dạ, anh về khi nào em không biết, tưởng anh Tùng phó giám đốc vẫn vào giờ này như mọi hôm.
- Có bị ốm không đấy? Lên y tá xem thế nào. - Anh Thịnh băn khoăn hỏi lại.
- Em không sao mà. Ngày trong tù sốt rét đến bốn mươi độ còn không vật nổi em nữa là mới nhức đầu. - Sơn nói vui để trấn an lòng mình.
- Nếu không sao thì vào phòng tôi có việc đây!
“Các chị ơi, mong ước của các chị em đã thực hiện được. Em đã trả ơn được cho các chị rồi. Làm trưởng phòng của một công sở lớn nhất nơi đô hội, thử hỏi cái danh này cả xã, cả tổng đã ai có được!” Nếu không cố giữ cho mình thật bình tĩnh thì có lẽ những bước chân vấp váp đã kéo nhào Sơn ngã xuống. Chỉ có quãng đường hơn chục mét mà khiến Sơn thở gấp gáp như vừa vượt qua chặng đường đi bộ mấy chục cây số xuống vùng ngoại thành dạo tháng trước.
- Vào đi! - Anh Thịnh mở rộng cửa để Sơn vào.
Lúng túng trước hành động khách sáo của anh Thịnh khiến Sơn vấp phải cánh cửa. Đầu ngón chân út đau buốt, Sơn nén chịu tập tễnh bước vào phòng. Nhưng cái vấp tiếp theo lại khiến Sơn rùng mình, gai gai sống lưng. Ánh mắt của Chất đang nhìn thẳng vào Sơn. Tia mắt giấu sau đôi mắt nhỏ như mắt lươn, xoáy vào người đối diện như một mũi khoan bằng băng lạnh buốt. Ngày ở Côn Đảo, Sơn luôn tìm cách để tránh xa anh ta, không những sợ ánh mắt mà sợ cả hơi thở phào phào bệnh hoạn và làn da nhẫy lạnh như da lươn. Sau khi kết thúc đợt học chỉnh huấn, Sơn không quan tâm tới việc anh ta đi đâu, về đâu. Vậy mà hôm nay, sau gần ba năm, cơn cớ gì khiến anh ta đến đây để Sơn phải đối mặt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Không còn đường lui, buộc Sơn phải đưa tay ra nắm bàn tay gầy xanh và lạnh của anh ta, chào xã giao:
- Anh giờ công tác ở đâu? Sao gầy, xanh thế?
- Tạng người tôi thế chứ vẫn khoẻ như vâm. Tôi gặp anh Thịnh luôn, nghe nói anh năng động trong công việc lắm, thật mừng chúng ta lại được cùng về làm việc với nhau.
Anh ta vẫn ngồi nguyên trên ghế, thậm chí không hề xoay người lại mà chỉ đưa tay ngang ra cho Sơn bắt. Cái miệng thì theo lẻo nhưng hai hàm răng không tách được nhau ra sau làn môi mỏng như đường kẻ ngang mặt. Thái độ trịch thượng của anh ta Sơn không lạ. Nhưng tại sao lại là chúng ta cùng làm việc? Và cả cái nhìn mang vẻ bề trên của anh ta nữa. Sơn thần người ngạc nhiên, hết nhìn anh ta lại quay sang anh Thịnh, ánh mắt thắc mắc. Anh Thịnh đã qua nhiều năm hoạt động tình báo, cho nên đọc được ý nghĩ của Sơn chẳng khó khăn gì. Anh Thịnh giải đáp luôn thắc mắc của Sơn:
- Chất được thành phố trực tiếp cử về làm trưởng phòng nông nghiệp, còn cậu sẽ làm phó. - Anh Thịnh quay sang nói với Chất: - Những ngày đầu công việc chắc chưa quen, có điều gì chưa biết cậu nên hỏi cậu Sơn.
Rõ ràng anh ta phải có người thân quen vai vế lắm cho nên mới từ đâu đưa về làm trưởng phòng ngay, đến anh Thịnh cũng phải kiềng nể, thận trọng từng lời ăn tiếng nói khi giao tiếp với anh ta. Đấy là bây giờ Sơn mới cố phân trần với mình như vậy, chứ suốt mấy tháng nay thì mọi điều xấu xa đều đổ xuống đầu anh Thịnh cả. Rằng, anh Thịnh biện ra lý do chứ thành phố nào lại chen vào công việc nội bộ của cơ sở. Rằng, khi ở trong tù cũng như những ngày chỉnh huấn anh Thịnh thân tình với anh ta hơn với Sơn, thậm chí đã về nhà anh ta ở Thanh Hoá chơi cả tuần. Vậy sao không há miệng mắc quai. Nhưng hôm qua, anh Thịnh đã điều Sơn về phòng hành chính, lại chuyển Sơn sang phòng tập thể khác xa với phòng Chất chính là anh ấy đã hiểu được những bức xúc trong lòng Sơn, khiến Sơn phải nghĩ lại. Con người lão luyện trong công tác tình báo mà, sao không đọc được những ý nghĩ của một người cạn nghĩ như Sơn.
Bóng chiều run rẩy, hoảng sợ trước những mảng tối đang rình rập trong những tán lá, ẩn nấp sau những mái nhà. Ngọn gió lạnh ào tới, những mảng tối được thể chực nhẩy xổ ra chiếm lĩnh không gian. Những bóng người mỏng mảnh lướt qua trước mắt Sơn như những âm hồn. Vườn hoa đưa người - Tại sao trước đây người ta lại gọi khu công viên này bằng cái tên nghe rờn rợn? Phải chăng những ai ra đây ngồi đều mang tâm trạng buồn. Buồn nẫu lòng, buồn đến mức mắt mờ dại, nhìn ra xung quanh như nhìn vào phim âm bản. Sơn cho như vậy có lý hơn là lý do: những con người bần cùng dưới chế độ trước, nơi đây chính là nơi họ  đến để buông mặc cuộc đời cho số phận đưa đẩy. Những thuỳ lá của cây buồn ngủ khép lại bên nhau, tán buông rũ rĩ trên thân cây ngả xoãi xuống đất, trông chẳng khác gì ông cụ già mệt mỏi thở dốc.
Không nghĩ tới những chuyện ảm đạm nữa. Bỗng dưng dạo này mình hay vương vấn những chuyện chẳng đâu vào đâu. Về thôi. Xuống nhà bếp xin nồi nước nóng, pha thật già để rũ trôi hết những chuyện buồn nản đi. Xong rồi ...!
Mới về đến đầu ngõ đã gặp Thuý đứng ngóng đợi ai, Sơn ngập ngừng chào xã giao:
- Mới tối cô Thuý đã ngóng ai sớm thế?
- Còn ngóng ai nữa! Anh Thịnh nói anh bị ốm, thế mà em đi tìm suốt chiều không thấy đâu.
Xong rồi, tiếp ý nghĩ lúc nãy của Sơn là, sẽ sang phòng Thuý ướm thử lời mời tối mai chủ nhật, lại có bộ phim hay mới chiếu, nếu Thuý rỗi thì Sơn có lời mời. Thế mà lại đường đột gặp Thuý đứng chờ mình, tình huống diễn ra ngoài dự định khiến Sơn lúng túng, những lời muốn nói cũng quên biến như cậu học trò không thuộc bài trước câu hỏi của cô giáo. Sơn lúng búng nói:
- Không sao, bị cảm cúm xoàng thôi mà, tại thời tiết chuyển mùa đột ngột quá.
- Lát nữa sang phòng em lấy mấy viên thuốc cảm mà uống, các anh hay coi thường sức khoẻ lắm đấy.
Phòng tắm mù mịt hơi nước. Sơn ào ào dội nước lên người, kỳ miết thật mạnh khiến cho làn da đỏ lựng. Toàn thân tê rát vì nước để nóng già. Tâm trạng nặng nề dường như đã bị nước nóng làm cho bốc hơi, cơ thể trở nên nhẹ nhõm, sảng khoái, đầu óc tỉnh táo không còn u minh như khi chiều. Tỉnh táo quá khiến Sơn tự nhận ra mình rồi tự mình dằn vặt, khi nãy mình lại trả lời nhấm nhẳn với Thuý là sao, thế mà còn dự định sang mời cô ấy đi xem phim, rõ là vụng về. Đã bao lần Sơn cố tạo cho mình một lối cư sử khéo léo để thu hút sự chú ý của Thuý mà không làm nổi. Có lúc Sơn đã so sánh, tại sao mình lại không làm được như Chất. Lúc nào hắn ta cũng tỏ ra bề thế bằng cách đóng khung cơ thể lẻo khẻo trong bộ sơ mi trắng, nếp hồ ở cổ và tay áo phẳng như những tấm bìa cứng, còn đường li của chiếc quần màu tím than phải nổi gồ sống trâu, thẳng căng như dây dọi. Và những câu vần vè, những ca dao tục ngữ sao hắn nhớ nhiều thế, lại với ngôn từ khéo léo vận dụng vào đưa đẩy khiến không chị em nào lại không dừng lại khi đi ngang qua trót thấy hắn đang hào hứng nói chuyện. Và rồi mặt cô nào cũng đỏ lựng, giấu sau lưng nhau cười khinh khích.
Khi nãy cô ấy có ý chờ mình, tại sao mình lại vội vàng thế để không nhận ra, để không có được một câu hoa mỹ mào đầu, để mà lấy cớ lát nữa sang đưa đẩy câu chuyện, thì lời mời cho buổi tối mai cô ấy từ chối sao đành. Và rồi Sơn sẽ đạt được mục đích quan trọng hơn. Nhưng thôi, đừng có ý nghĩ ấy nữa, mình đâu phải loại hèn mọn vậy. Cô ấy sống thẳng thắn, mình quý  trọng Thuý ở điểm ấy. Mỗi lần gần cô ấy mình thấy tự tin hơn. Và mình muốn với cô ấy có một buổi tối chỉ hai người bên nhau để tiếp thêm nghị lực vượt qua nỗi khổ tâm này. Chứ đâu phải cái ý nghĩ tồi tệ hôm qua chợt loé lên, rằng mời được cô ấy đi chơi cũng là cách hạ nhục hắn. Hắn đang theo đuổi Thuý. Liệu Thuý có bằng lòng với một kẻ lươn lẹo không nhỉ?
Nhếu nháo vài miếng cơm đã thấy ngang dạ không muốn ăn. Nhìn lên đồng hồ đã quá tám giờ. Mạnh dạn lên, ngày mai hai người không đi xem được với nhau thì sẽ không còn cơ hội nào nữa, đầu óc Sơn nóng râm ran với ý nghĩ tự thúc giục mình như vậy. Sơn mở chiếc hòm gỗ kiếm tìm bộ quần nào thật chỉn chu để khi gặp cô ấy sẽ hiểu Sơn muốn gì. Đã khi nào Sơn để tâm tới những nhu cầu thiết yếu của một thanh niên thành phố đâu mà có được bộ quần áo tươm tất, hợp kiểu. Thôi đành khoác lại chiếc áo đại cán là mới nhất và thế cũng chững chạc, chắc hợp với tính cách của cô ấy.
Sơn hồi hộp như thanh niên chưa vợ lần đầu đến với người con gái mình yêu. Đúng là Sơn đã có vợ con nhưng nào đã biết thế nào là rung động của buổi ban đầu. Cái đêm đầu tiên với Xoan, hai người nằm ngay đơ như hai khúc gỗ, mỗi khi trở người toàn thân lại căng thẳng vì phải đấu trí và đấu lực để tránh sao không va chạm vào nhau. Cả ngày cỗ bàn, tiếp khách mệt mỏi chẳng mấy chốc cả hai ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ông trời đã mất công xe duyên thì cũng phải làm cho hết phận sự của mình. Không biết khi ấy sang canh mấy, chắc cũng phải muộn rồi, đêm đã sâu thăm thẳm, Sơn thấy nghẹn thở cố nhoài người lên để hít thật sâu nhưng không thể. Toàn thân đang bị đè cứng. Cố thoát ra khỏi tình trạng đó đã khiến Sơn phải tỉnh dậy. Không biết Sơn đang ôm đè lên người Xoan hay là Xoan đang quặp chặt lấy Sơn đây? Xoan bị đánh thức dậy và nhận ra ngay sự không bình thường của tư thế nằm ngủ, giật mình vội xê người nằm lui ra ngoài. Lúc đầu cả hai cùng cười thầm cho hành động hoảng sợ vô lý của mình, sau rồi không kìm được bật lên thành tiếng. Nhưng chỉ hai người nằm gần nhau mới nghe được. Thế rồi định mệnh có cớ đẩy ập hai cơ thể vào nhau. Cuộc tình ấy diễn ra chóng vánh như sợ người khác bắt gặp thì phải tội khiến đến giờ Sơn không còn nhớ sự rung động của cơ thể người đàn ông diễn ra thế nào. Rồi vội vàng mặc quần thôi chứ áo nào đã kịp cởi đâu thì phải. Rồi vội vàng mỗi người lăn về một phía thành giường như hai kẻ ăn vụng bị bắt quả tang. Chỉ lát sau, giấc ngủ như con rắn trườn đến kéo tuột những cảm giác mới gặp lần đầu của cơ thể hai người ném vào đêm tối. Để sáng tỉnh lại không còn nhớ mình đã có những gì khác thường so với đời sống trước đây khi chưa có vợ, có chồng. Còn hôm nay, cũng vẫn là khoảng cách ba chục mét giữa hai dãy nhà, cũng vẫn như mọi khi sang nhà nhau dăm ba câu chuyện hỏi thăm sao mà bước chân thấy run, hơi thở dồn ứ lại đau tức cả vùng ngực. Đã biết ý tứ cô ấy thế nào đâu ...? Vớ vẩn thật, chỉ là ý định sang để tự tìm cho mình một nghị lực sống trong lúc gặp khó khăn về tinh thần thôi mà sao lại nẩy ra cái ý nghĩ vớ vẩn thế. Mình là trai có vợ, cô ấy đẹp lại chưa chồng và kém mình tới hơn chục tuổi, thế thì làm sao phù hợp, đâu phải là đối tượng cô ấy cần. Hành động khi chiều của cô ấy cũng như mọi lần thôi và cũng như với người khác thôi, mình đang tự huyễn hoặc mình. Cô ấy quan tâm tới sức khoẻ của mình chẳng qua đó là công việc của một y tá trong cơ quan và lại được giám đốc dặn riêng. Hình như anh ấy muốn tỏ thái độ xin lỗi với mình. Rồi còn pháp luật nữa, còn tư cách của một đảng viên nữa, nào cho phép mình làm chuyện động trời, dù chỉ là trong ý nghĩ thôi cũng không được.
Sơn hít sâu, nén khí xuống vùng bụng rồi từ từ thở ra để lấy lại bình tĩnh. Cách này Sơn được thầy Quyết dạy cho từ ngày còn là đứa trẻ, giờ làm lại bỗng thấy nhớ nhà, nhớ các chị. Lần trước về, con Núi mải đi chơi với bạn bè tận bên Đồng Trung không gặp được. Dạo này nó phải lớn lắm rồi, sắp là thiếu nữ còn gì. Ba năm không gặp con, nghe bác Thị xuýt xoa, nó càng lớn càng giống cha, từ nét mặt tới dáng người cao lòng khòng chẳng thể lầm lẫn được với ai Sơn thấy vui trong lòng. Mọi người nói, con gái giống cha giầu ba đụn, số nó rồi sướng. Chả biết có phải. Lớn rồi, không biết nó có còn xa lánh Sơn. Tình cảm cha con không được mặn mà lắm. Cũng tại số phận run rủi, biết sao được, rồi sau này có gia đình nó sẽ hiểu. Mải nghĩ chuyện gia đình khiến Sơn bước qua cửa phòng Thuý mà không hay, đến khi nghe tiếng Chất gọi mới gật mình nhận ra. Chất đang ở trong phòng Thuý, thong dong ngồi vắt chân chữ ngũ trên chiếc ghế gỗ khoát tay vẫy Sơn:
- Vào nhà chơi đã ông Sơn! Trông ông như người lẩn thẩn, ăn mặc xốc xếch thế kia à. Đi đâu đấy, vào nhà uống chén trà đã.
Hắn biết ý định của mình là sang đây hay sao mà cố tỏ hành động cứ như phòng này cũng đã là của hắn, lại được cả bộ mặt vênh vênh như giễu cợt, như thách thức Sơn, rằng Thuý đã hoàn toàn thuộc về hắn. Không vào thì hắn sẽ nên nước, mà vào thì biết ý tứ của Thuý thế nào, nếu cư sử có điều không đúng thì ngay ngày mai sẽ có những chuyện đàm tiếu do chính hắn thêu dệt ra. Mỗi lần phải đối đầu với những chuyện vặt vãnh, cá nhân kiểu này đều khiến Sơn lúng túng. Chưa biết nên xử trí thế nào thì Thuý từ trong phòng chạy ra, cầm tay Sơn lôi vào, nói dằn dỗi:
- Lúc chiều sờ đầu anh nóng hầm hập thế mà bảo uống thuốc cũng lười. Đi chơi cả buổi chiều rồi giờ còn định đi đâu nữa!
Sơn lúng túng như đứa trẻ bị người lạ lôi đi. Chất đứng bật dậy, mặt tái thâm, môi mím chặt ngạc nhiên nhìn sự việc đang diễn ra quá bất ngờ. Thuý kéo tay Sơn bắt ngồi xuống đầu giường, cạnh chiếc bàn nước. Chất chuyển ánh mắt ngạc nhiên sang những viên thuốc và cốc nước đã để sẵn từ trước, đó chính là minh chứng cho sự vồn vã, thân mật của Thuý và Sơn là thật, có chủ định trước chứ không phải những gì như Chất nghĩ về quan hệ của hai người cách đây chỉ vài phút.
- Đây là thuốc cảm, còn thuốc bổ ngày mai anh phải sang phòng y tế để em cấp, nhớ đấy, chuyện sức khoẻ đàn ông các anh chẳng biết giữ gìn. Có phải không anh Chất? Cả anh nữa, anh mà không giữ sức khoẻ, đi chơi đêm hôm, vườn hoa nhà kèn nhiều sương giá rồi ốm lăn đùng ra lấy ai là người lãnh đạo.
Cô ta nói thế khác nào xổ vào mặt mình là kẻ trác truỵ. Chẳng là, có một buổi họp, Chất đã gọi vườn hoa bên đường là nơi trác truỵ, có ảnh hưởng không tốt tới đời sống tinh thần của cán bộ nhân viên cơ quan, khi mà ngày nào cũng phải chứng kiến những người dỗi việc lang thang ngang qua, những cảnh trai gái cặp kè, rồi cả những chuyện đồi bại của chế độ cũ còn sót lại thì sao mà có thể trở thành con người mới trong xã hội mới đang vận động đi lên được. Thế nhưng chính Chất lại bị bắt quả tang, nửa đêm còn nấp sau bụi cây để rình xem một đôi trai gái đang hôn nhau trên ghế đá trong công viên. Chính Thuý chứ không là ai khác, cầm chiếc gậy tre chọc vào mông Chất đang cong lên sau bụi cây. Tiếng cười của đám con gái khiến Chất muốn độn thổ chui xuống đất. Nhưng nếu hôm ấy mà chui được xuống đất thì hoá ra mình đã công nhận cái hành vi đồi bại của mình à. Sự nhanh nhạy của Chất đã xoay chuyển ngược tình tình. Trong giây lát, đang bị ở thế dồn ép đã chuyển sang thế công để giành chiến thắng. Chất đỏ mặt tỏ ý giận giữ, vung tay chém không khí, nạt giọng:
- Các cô là đàn bà con gái đêm hôm ra đây làm gì, muốn học những chuyện đồi bại ở đây phỏng!
- Thế đồng chí lãnh đạo ra đây làm gì? - Các cô gái đồng thanh hỏi lại.
- Vớ vẩn, ai cho các cô hỏi tôi chuyện này. Nhà vệ sinh bẩn ngập ngụa, đèn đuốc chẳng có, đêm hôm ai mà vào được, mai tôi sẽ cho kiểm điểm phòng y tế việc này. Mà này, tôi ra đây là để thải chất cặn bã vào những kẻ trác truỵ như thế kia kìa.
- Lãnh đạo định lừa chị em chúng em đấy à?
- Bậy nào, tôi mà lừa các cô à. Có cô nào dám vào đây tôi bới ra cho ngửi xem có phải không.
Nay lại có kẻ dám bới đống thối Chất đã mất công đậy lại thì sẽ được ngửi. Đó là thông điệp mà Chất ném lại bằng thái độ vùng vằng bỏ về và tiếng sập cửa nặng tay quá mức từ phòng Chất kề bên. Hắn bị cư sử như thế mới đáng. Nhưng vui thì ít mà lo thì nhiều, Sơn đứng dậy lo lắng:
- Em nói thế không sợ ông ấy trả thù!
- Tại sao các anh cứ phải nhụt với anh ta. Em nhiều lần nói vỗ vào mặt rồi nhưng cứ nhơn nhơn vác mặt sang, nhiều hôm ngồi lì tới tận khuya, phát sốt hết cả ruột, hôm nay mất mặt với anh nên mới thế. Mà anh biết không, anh Thịnh chuyển anh sang dãy khác là làm theo ý của anh ta. Sao mọi người cứ phải kiềng anh ta, cả trong những chuyện vặt vãnh ấy thế nữa. - Thuý nói một thôi đầy phẫn uất.
- Người ta thế, mình nên tránh vẫn hơn.
- Em chẳng sợ, mình không tham ô, hủ hoá, không làm điều gì sai trái thì chả sợ ai!
Ngày hai buổi đi từ nhà sang cơ quan, làm tròn công việc được giao, tối về tranh thủ đọc sách, không thì đến thăm bạn bè chốc lát rồi đi ngủ thì đúng là không sợ ai cả. Nhưng chẳng lẽ cuộc đời chỉ có vậy, Sơn vẫn canh cánh lo rồi có chuyện chẳng lành sẽ đến. Mặc dù ngay hôm sau gặp mặt, Chất vẫn lại vui vẻ chào hỏi, thậm chí còn chủ động hỏi chuyện trước nhưng cái xởi lởi của con người ấy mới ẩn chứa những điều khôn lường. Rồi còn chuyện, bỗng dưng dạo này Chất hay đi ngang qua phòng Sơn. Khi thì sang nhà anh X xin mồi thuốc, khi thì sang nhà chị Y mượn cái nồi, lại cả lý do đi dạo cho đỡ buồn, tất cả đều là những lý do biện minh chứ ai mà không hiểu Chất đang giở thủ đoạn. Với ai thì mọi người không biết nhưng Sơn biết. Còn điều Chất muốn là gì thì Sơn không thể đoán ra.
Rồi cho tới tận một tháng sau, khi mọi người đã quá quen với sự qua lại của Chất và Sơn cũng thấy mệt mọi cho việc rào đón mọi hành động của Chất với mình. Khi mà cái nắng hanh ram ráp như đồng tình với hành động bí ẩn của Chất, bò vào lưng áo mà gãi buồn buồn khiến con người ta uể oải, lúc nào cũng thiu thiu ngủ. Thì giữa trưa ngày chủ nhật, bỗng dưng có tiếng hô thất thanh bật lên:
- Cháy! Cháy nhà rồi! Mọi người đâu ra cứu, cháy nhà rồi!
Cả hai dãy nhà đang nằm ườn, chìm trong giấc ngủ trưa đều bật dậy đổ xô đến chỗ có tiếng hô thất thanh. Chất vung tay như vị chỉ huy mọi người xông vào trận đánh.
- Vào cứu nhanh lên không thì cháy hết cả bây giờ!
Nhưng có ai chực xông vào dập thì Chất lại kéo ra, gắt gỏng:
- Muốn chết hay sao mà vào tay không thể hả! Về nhà chuyển hết đồ đạc ra ngoài, cháy thế này lan sang bây giờ đấy!
Những người ở gian kế bên vội chạy về khuân đồ đạc nhà mình chuyển ra ngoài. Sơn ngái ngủ từ trong phòng chạy ra, nhận ra sự việc vội chạy ra bếp múc xô nước định hắt vào dập thì bị Chất giằng lại:
- Cắt điện chưa mà dội nước vào, ông định tự sát phải không. Mau, đồng chí nào đi gọi cứu hoả!
Mà có nước đâu mà dội. Mọi người ào tới những vòi nước công cộng nhưng tất cả như đều ngậm miệng khô rang không rỉ ra được lấy một giọt. Những họng nước cũng đồng loã cùng ngọn lửa.
Lúc mọi người đổ xô đến mới chỉ thấy những đụn khói đùn ra từ chân tường, thế mà chần chờ có giây lát, lo chuyển đồ nhà mình xong thì những lưỡi lửa đã bùng ra lém liếm từ chân tấm liếp trước cửa phòng Sơn và đang chuẩn bị leo dần lên mái giấy dầu.
- Trời hanh heo thế này không dập nhanh thì nguy!
Vẫn là tiếng Chất gào thất thanh, thúc giục mọi người. Và chính Chất là người đầu tiên cầm cây gậy tre xông vào dập lửa. Những tàn lửa toé ra như hoa cà hoa cải sau những cú vung gậy của Chất. Như thế có khác nào mồi thêm cho những đám cháy khác bùng lên. Ngọn lửa bùng lên ngày mọt to hơn, hắt hơi nóng rát rạt vào mọi người. Chất chạy lùi ra ngoài, tay cầm theo chiếc sọt đựng rác trước cửa nhà Sơn.
Khi mọi người còn chưa hết bàng hoàng vì đám cháy đã thiêu rụi nửa dãy nhà tập thể, còn bận đổ tại cho nhau sao khi ấy ai cũng cứ như người ngủ mơ không chịu lao vào dập lửa ngay từ đầu, thì ngành công an đã bắt tay vào điều tra nguyên nhân. Người đầu tiên bị gọi đến cơ quan công an thẩm tra là Sơn.
Bước vào phòng làm việc của các điều tra viên, vật đầu tiên khiến Sơn phải chú ý đó là chiếc sọt đựng rác bị cháy nham nhở đặt giữa bàn. Không phải không còn hình thù nguyên trạng mà Sơn không nhận ra sọt đựng rác nhà mình. Cả khu tập thể chỉ có Sơn dùng sọt đựng rác bằng tre đan và được gia cố bằng những sợi dây đồng dưới đáy để tăng độ cứng. Nhìn chiếc sọt rác khiến Sơn lúng túng. Nó ngồi chễm chệ trên bàn khác nào đã có một nhân chứng buộc tội cho Sơn. Những ánh mắt của những điều tra viên nhìn xoáy vào Sơn như muốn mổ xẻ tâm trạng thực hư của Sơn thế nào.
- Đồng chí biết vật này chứ?
Chưa kịp hỏi đây có phải là nơi Sơn được mời đến làm việc thì một câu hỏi cất lên của người điều tra viên ngồi khuất sau chiếc sọt.
- Dạ, hình như là của tôi. - Sơn lúng túng trả lời rồi nhìn quanh xem mình nên đứng với tư thế thế nào tại nơi lạ lẫm này.
- Đồng chí ngồi xuống ghế đây! - Vẫn người điều tra viên nọ chỉ ghế cho Sơn ngồi mà tư thế người của anh ta không thay đổi: - Đồng chí xem lại cho kỹ rồi khảng định  cho chắc, có phải của đồng chí hay không!
 Sơn xoay chiếc sọt rác kiểm tra kỹ càng. Đúng là những nút dây đồng buộc không được chặt của mình. Xoay tiếp, thì không thể nào không công nhận được bởi chữ “Sơn” viết bằng sơn xanh để đánh dấu vẫn còn nguyên. Sơn khảng định chắc chắn:
- Vâng, đây là sọt rác của tôi. Tôi khảng định chắc chắn!
- Vậy là rõ rồi. Đồng chí có biết, đám cháy được phát ra từ đây?
- Điều này thì ... thì... thực sự tôi không được biết bởi khi có cháy tôi đang ngủ trưa. Mà tôi cũng không biết tại sao nó không bị cháy hết và lại ở đây!
Câu trả lời của Sơn khiến người điều tra viên nổi nóng. Anh ta định đập mạnh tay xuống bàn nhưng kìm lại được. Anh ta nói gằn:
- Đồng chí định ám chỉ điều gì! Tôi hỏi đồng chí, trước khi đi ngủ đồng chí có vứt vật gì còn cháy vào sọt rác không?
- Không. Hôm ấy tôi không nấu ăn nên không vứt vật gì còn cháy vào đấy cả.
- Đồng chí hút thuốc gì?
- Tôi chỉ hút Trường Sơn.
- Đồng chí có giữ báo cáo tổng kết quý ba của sở không?
- Tôi không được giữ. Nhưng bản báo cáo này tôi được biết bởi anh Thịnh có đưa cho tôi đọc.
- Tại sao đồng chí Thịnh lại đưa bản báo cáo cho đồng chí, trong khi đây không phải là trách nhiệm của đồng chí?
- Vâng cũng có nguyên do. Quý vừa rồi, anh Thịnh đi nước ngoài học, anh Chất ở nhà thay cho nên anh Chất viết báo cáo này. Anh Thịnh về, đọc trong báo cáo thấy có thấy những điều không tốt về tôi cho nên đưa cho tôi đọc để hỏi xem có phải đó là sự thực. Đúng là nguyên tắc thì anh Thịnh không được làm thế nhưng là chỗ anh em muốn hỏi cho rõ để giúp đỡ nhau tiến bộ cho nên....
- Cho nên mới vì tình riêng mà làm sai nguyên tắc, có phải không!
*
*     *
PHIÊN TOÀ ĐƯỢC MỞ. CÔNG TỐ VIÊN ĐỨNG DẬY ĐỌC CÁO TRẠNG:
- .... Nay truy tố bị cáo với hai tội danh - Thứ nhất: Cố tình làm sai nguyên tắc quản lý nhà nước, thông đồng làm lộ bí mật của cơ quan. - Thứ hai: Có âm mưu che giấu tội lỗi dẫn đến vô tình huỷ hoại tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa...
Cuối khán phòng bỗng bật lên tiếng phản đối cắt ngang lời công tố viên:
- Tôi phản đối! Đồng chí Sơn không có tội gì!
Chủ toạ đứng bật dậy, to tiếng hỏi:
- Đồng chí là ai? Ai cho phép đồng chí có ý kiến khi chưa được toà cho phép!
- Bởi lời buộc tội vô lý, chúng tôi không muốn nghe tiếp!
Mọi người trong khán phòng nhao lên đồng tình với người phản đối.
- Đồng chí là ai? - Chủ toạ tức giận đập tay xuống bàn.
- Tôi là Thuý, nhân viên y tế của cơ quan, còn đây là tất cả các đồng nghiệp, đồng chí của anh Sơn.
Trước sự phản đối của mọi người, chủ toạ đấu dịu:
- Đồng chí phản đối ở mục nào. Tất cả các tội danh đã được cơ quan công an điều tra, đã được bị cáo xác nhận là đúng.
- Có những tình tiết khi điều tra không được rõ ràng, hôm nay chúng tôi mới được biết. Thứ nhất: Tôi khảng định trong sọt rác của anh Sơn chỉ có một tóp thuốc lá, bởi vì tôi đang bắt anh ấy bỏ hút, hôm trước được phân phối thuốc lá, tôi đã giữ xuất của anh Sơn lại, buổi trưa hôm ấy tôi chỉ cho một điếu để hút cho đỡ thèm, thế mà khi điều tra trong sọt rác lại có hai tóp thuốc. Thứ hai: Sọt rác của anh ấy luôn buộc vào gốc cây dâu da, có đậy nắp tôn để tránh gà bới, nếu có đốt cũng chẳng thể bắt lửa vào nhà được, vậy sao hôm ấy lại để sát chân vách. Và còn một chứng cứ nữa, chúng tôi lấy đâu ra xăng mà hôm ấy có mùi và có vết loang. Nếu cố tình đốt tài liệu thì làm sao anh ấy phải cho vào sọt rác mới đốt. Còn nữa, anh Thịnh cho anh Sơn mượn báo cáo đọc xong rồi trả ngay, cả một tuần ấy anh Sơn đi công tác, về đến nhà vào ngày chủ nhật là bị cháy thử hỏi anh ấy lấy đâu ra bản báo cáo để đốt.
- Như vậy đồng chí cho rằng có người cố ý hãm hại bị cáo?
- Vâng.
- Là ai?
- Chúng tôi làm sao mà biết được.
- Đồng chí có bằng chứng gì để chứng minh cho những lời của đồng chí là đúng.
- Tôi chỉ nói những gì tôi biết.
- Những gì chúng tôi biết, đó là bị cáo đã ký vào những lời khai đúng với cáo trạng viện kiểm sát đã đưa ra.
*
*     *
CHẤT ĐỌC XONG TỜ ĐƠN, MÔI MÍM CHẶT ĐỂ KÌM XÚC ĐỘNG, TRONG MĂT VẰN những tia đỏ.
- Cô xin thôi việc thật sao?!
- Vâng!
- Tại sao?
- Em sẽ đi khiếu nại bằng được.
- Nó bị ba năm tù là toà đã xét tới công lao của nó cống hiến cho cách mạng, chứ không chung thân còn nhẹ. Cô mà khuấy lên thì có mà chôn nó.
- Thà bị chôn đi còn hơn là bị oan khuất.
- Người nhà, máu mủ ruột thịt không phải, người thân cũng không, tại sao cô lại phải hy sinh vì nó. Tôi cũng thấy lạ.
- Chẳng có gì là lạ. Tôi với anh Sơn là người yêu của nhau.
- ...!!
- Mà không phải là gì đi chăng nữa thì thấy vô lý tôi phải làm cho ra nhẽ. Tính tôi anh còn lạ gì.
- Cô đang buộc thêm tội hủ hoá cho nó nữa đấy. Tôi mà kiện thì cả hai đi tù!
- Có kiện một lần nữa cũng chẳng là gì!
- Thế ra cô đổ vấy cho tôi làm hại thằng Sơn?
- ....
- Tôi mà hại nó cũng chỉ vì tại cô!
- ...!!
- Thế Thuý không vì tôi mà ở lại được à!
- Anh không ký đơn tôi vẫn cứ thôi việc!
*
*     *
CHIẾC XE COM - MĂNG - CA KHỰNG LẠI TRƯỚC RÃNH XẺ TÁT NƯỚC NGANG đường. Nó thận trọng tiến lên như dò dẫm độ trơn trượt của mặt đường, rồi bất ngờ rú ga để vọt qua bờ đất. Không được rồi, rãnh nước sâu quá, bờ đất sụt xuống kéo ngập bánh xe xuống bùn. Bánh sau quay tít. Khói tuôn ra đen đặc. Chiếc xe rùng lên run bần bật nhưng không tiến thêm được chút nào. Tiếng động cơ của chiếc xe gầm rú như lời gọi những trẻ chăn trâu, những người nhổ cỏ lúa quanh đây kéo lại. Chiếc xe cố sức nhích dần lên từng tí một. Bọn trẻ làng Trằm lũ lượt kéo nhau ra xem. Lần đầu tiên có ô tô đi vào làng. Chúng rụt rè sờ vào thân xe rồi lập tức rụt tay lại cứ như sờ phải thú dữ sợ nó cắn. Không phải lũ trẻ hoảng sợ mà dường như là chiếc xe hoảng sợ lũ trẻ cầm cành, que chúng nhặt ở dệ đường quật túi bụi vào thân xe như quật vào mông con trâu không chịu đi. Chiếc xe rú ga vọt lên thoát được khỏi rãnh nước. Lũ trẻ nhẩy dựng lên reo hò thích thú. Chiếc xe chạy trước chồm chồm vượt qua những rãnh xẻ, những ụ những mô đất, lũ trẻ chạy theo sau vung tay vung chân nhảy múa, chẳng khác gì một con ếch bị lũ trẻ trêu chọc hoảng sợ bỏ chạy.
- Ông cốp về làng mình!
Bọn trẻ phán đoán, nếu không là ông cốp thì còn có ai có thể ngồi trên xe com - măng - ca mà về làng được, nếu không thế thì hoạ chỉ có là con vua cháu chúa. Chúng nhẩy lên nhòm vào trong xe nhưng chỉ có thể nhìn ra người lái xe lạ lẫm, chứ những người ngồi  ở ghế sau đều trong tối mờ mờ không biết là ai. Không phải ai báo, người  người kéo nhau ra đón đứng chật kín cổng làng, những ánh mắt nghển lên trông chừng, dò hỏi là ai về làng thế.
- Hay là xe về dự đám cưới nhà Ngà?
- Phúc bảy mươi đời nhà lý Ngà chưa có cái vinh dự này.
- Nhà cô chỉ biết có chổng mông lên cho thằng bố Võng ở nhà chứ đi đến đâu mà biết đã dè bửu nhà người ta.
- Lấy vợ hai mà mổ những ba con lợn bảy mươi cân kia kìa, thằng cu Sông mổ hẳn hoi nhớ, làm bát tiết ngọt như đòng đòng, xem ai về đây, mời vào làm khúc nhồi, nói chuyện thế giới thì phải nói làng này không ai hơn được tôi.
Chiếc xe chồm chồm lao thẳng tới đám người đứng chắn giữa cổng làng. Mọi người kéo áo nhau dạt ra như tránh con trâu sứt mũi bị đứt thừng, hung hãn. Tiếng xe bim bim như nhảy dỡn cùng với những hàm răng ghếch lên cười của những cô gái dúi vào lưng nhau đố dám nhìn vào trong xe xem là ai. Chiếc xe từ từ lướt qua cổng làng chật hẹp. Người lái xe thò đầu ra quan sát. Anh cu Võng tranh thủ hỏi:
- Ai về làng Trằm thế bác tài ơi?
Người lái xe mải quan sát không thể trả lời câu hỏi ấy bởi còn giật giọng quát sau cú phanh chựng xe lại:
- Muốn chết hả! Mất đầu chứ chả bỡn.
Thằng bé nhảy lên bậc xe định thò đầu vào trong xem cho rõ là ai, bị chiếc xe phanh dừng đột ngột khiến nó tượt chân rơi xuống nhưng tay áo lại bị mắc vào thành xe không rời ra được. Nó bị treo lủng lẳng như miếng giẻ bên thành xe. Xe dừng lại. Sơn mở cửa bước xuống gỡ thằng bé ra, rồi quay lại chào bà con. Có lẽ mọi người ngỡ ngàng quá khiến không ai nhận ra ngay thằng cu Sơn làng mình. Đến khi ông Veo tập tễnh bước lên, vỗ bàn tay khùng khoè vào vai Sơn, hồ hởi chào thì mọi người mới ồ lên vui mừng:
- Oách thế hả chú mày! Cu Sơn con cụ tổng đây mà, thế mà mọi người cứ bảo ông cốp nào. Mẹ cha con thằng Đủ không nhận ra ông mày hay sao mà sấn lên xuýt nữa mất mạng.
Nhưng sau thoáng vui mừng, mọi người bỗng chựng lại, lùi ra xa. Bởi, chẳng chuyện gì có thể qua khỏi dư luận của dân làng, thằng cu Sơn bị xử ba năm tù cơ mà, đến giờ được bao lâu rồi mà có xe con đưa về tận làng thế này không khéo gặp phải chuyện tày đình, mất mạng chứ chẳng bỡn!? Nhìn ánh mắt của mọi người Sơn hiểu cả làng Trằm đang nghĩ gì về mình. Và anh Thịnh cũng hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra ngoài xe. Anh Thịnh điềm đạm bước xuống. Còn mọi người đồng loạt quay lại sau để nhường đường cho bà Thư sấn tới chỗ em mình:
- Thằng cu Sơn về phải không! Em ơi, thế này là thế nào, mới đầu hè chị đã phải dứt lòng với em ở toà án cơ mà, sao bây giờ lại xảy ra thế này đây hả em ơi!
Sơn đã lường trước được tình huống này nhưng đến khi gặp phải thì lại lúng túng không biết xử trí ra sao. Anh Thịnh cũng lường trước được mọi việc, mở cặp lấy ra tờ báo giơ lên trước dân làng:
- Xin giới thiệu với bà con, tôi là lãnh đạo của thành phố, cũng là người có liên đới đến vụ án của đồng chí Sơn. Có tờ báo chụp hình tôi phát biểu ở hội nghị trung ương, bà con xem có đúng là tôi không.
Chờ cho mọi người chuyền tay nhau xem tờ báo, rồi những ánh mắt tin tưởng nhìn mình, anh Thịnh mới tiếp lời:
-Báo ngày hôm qua còn rõ nét lắm phải không. Tôi làm vậy để bà con tin. Và tôi cũng đứng ra trước dân làng để thanh minh cho đồng chí Sơn thì bà con mới thực sự tin đồng chí Sơn, có phải vậy không nào. Trước hết tôi có lời xin lỗi với gia đình đồng chí Sơn sau là xin lỗi với toàn thể dân làng Trằm, do tôi đã quản lý nhân viên dưới quyền không được sát sao cho nên mới dẫn đến sự oan uổng cho đồng chí Sơn. Nhưng ... - Anh Thịnh dừng lời quay lại mở cửa xe, mời Thuý đi ra: - Nhưng trước hết dân làng phải cám ơn sự dũng cảm đấu tranh cho sự thật của đồng chí Thuý. Nếu không có đồng chí Thuý thì sự thật đã bị che lấp và đồng chí Sơn không tránh khỏi oan sai.
Mọi người đã hiểu hết sự thật. Đúng là ông cốp thật, cán bộ cấp thành phố mới được xe com - măng - ca đưa về tận làng. Bỗng ai đó hét dựng lên:
- Cưới đi, cưới vợ hai đi cu Sơn, làng mình có hai đám cưới lấy bà hai!
Đám cưới nhà Ngà vắng tanh vắng ngắt. Những mâm cỗ ế để ruồi bậu đen. Trẻ con còn bận tâm khám phá sự kỳ diệu của chiếc xe lần đầu tiên đỗ ở sân kho làng mình. Người lớn ngồi chật sân nhà bà Sông nghe anh cán bộ thành phố có tài kể chuyện thời nay mà hay không kém gì những tích chuyện cổ.


ĐOẠN KẾT
Khi tôi cất tiếng khóc chào đời thì những hạt mưa bắt đầu rơi xuống. “Số thằng này rồi đỡ vất vả hơn bố mẹ nó rồi đây!” Mọi người hít sâu luồng khí mát lạnh của trận mưa đem tới sau những ngày nắng nóng ngồn ngột, nhìn ra ngoài trời mà đoán tướng số cho tôi vậy. Nhưng không ai ngờ, nhìn trời xanh ngằn ngặt tưởng chỉ mưa chốc lát thế mà ở đâu đùn ra những khối mây xám xịt, khổng lồ xây thành đắp luỹ để chuẩn bị đè sập xuống, nhấn chìm trần gian trong biển nước. Trời đổ xầm xì như bóng đêm đã chụp xuống. Những tiếng sấm kinh thiên động địa khiến tôi giật mình khóc thét lên lanh lảnh như định thi giọng cùng ông trời. Ông trời ra roi đe doạ tôi bằng những sợi mưa vừa dai vừa dài chẳng khác nào ngọn roi mây quất vi vút trong không trung. Những hạt nước quật mình đèn đẹt xuống mặt đường giận giữ. Mưa tầm tã mấy ngày liền. Nước dềnh lên ấp ứ đường phố. Mấy vùng nông thôn bị lụt lút nóc nhà.
Đấy là sau này lớn lên tôi mới được nghe mọi người kể lại, chứ lúc ấy chỉ là một mầm sống mới chồi lên thì sao đã biết chuyện gì xảy ra quanh mình. Ông giời có khiến tôi giật mình bằng tiếng sấm thì cũng để chứng minh uy quyền của ông ấy với trần gian chứ nào một sinh linh nhỏ bé như tôi khi ấy có biết gì đâu mà sợ.
Bố tôi khi ấy nghĩ khác. Ông ôm chiếc cặp lồng cơm trước ngực để tránh mưa hắt, chờ bệnh viện mở cửa mang vào cho mẹ tôi. Người rét run vì nước mưa, ông liên tưởng, không biết ngày ông sinh ra cũng là một trận mưa kinh hoàng, liệu có giống như trận mưa này không nhỉ? Ông cũng chỉ được nghe kể lại chứ nào khi ấy đã biết gì đâu nhưng hai sự kiện một trong trí tưởng tượng, một đang xảy ra trước mắt có điều gì đó giống nhau khiến ông nghi ngờ về thân phận của tôi rồi cũng vất vả như cuộc đời ông. “Thuý bây giờ được các y bác sĩ chăm sóc, nâng đỡ chứ không phải vượt cạn đến kiệt sức như u (tức bà nội tôi) ngày xưa. - Bố tôi mừng mừng, lo lo thầm nghĩ như vậy: - Và chắc số thằng bé rồi cũng không phải long đong lận đận như mình”. Ông tự an ủi.
Tôi là một thằng bé ăn khoẻ, mới ba tuổi mà ăn xuất của người lớn của bếp ăn cơ quan không đủ. Bữa trưa, ông dẫn tôi sang bên vườn hoa để dỗ dành cho tôi ăn được nhiều. Hết leo lên ghế đá lại trèo lên lưng con cóc phun nước, không thì chui vào bụi cây nào đó khiến bố tôi đuổi theo mướt mát mồ hôi mới xúc cho tôi được thìa cơm. Trưa nào cũng vậy, phục vụ bữa ăn cho tôi xong, ông đưa tôi lại nhà giữ trẻ của cơ quan rồi chuẩn bị vào làm với cái bụng đói meo. Bà nhà bếp biết chuyện đôi khi để phần lại cho ông miếng cháy, không thì khi chia cơm gia gia cho xuất của tôi thêm một bát. Khi ấy mẹ tôi phải theo cơ quan mới đi làm xa, cả tuần về nhà một lần vào chủ nhật.
Ấy là sau này tôi mới được nghe kể lại, chứ bằng ấy tuổi chỉ cốt sao cho lo bụng mình, như con lợn con gà hết đói thì không kêu chứ đã biết thế nào tới người khác. Tôi lớn lên trong sự vô tư con trẻ như vậy.
Tôi không biết ngày đầu tiên mình bước chân về mảnh đất làng Trằm thế nào. Cũng không ai kể cho tôi nghe một chuyện nào liên quan tới việc ấy. Bởi hai tiếng về quê đã định sẵn trong tiềm thức, như là một chu kỳ vận động sinh lý trong cơ thể mỗi con người Việt Nam, cho nên nào đâu có ai đặt cho mình một dấu ấn để nhớ. Tôi chạy nhẩy những đâu, làm những việc gì, tất cả chỉ là những hình ảnh mờ ảo như  nhìn hình của mình dưới đáy giếng đục. Ngay cả chuyện, một hôm trời mưa, tôi cùng một đứa trẻ nữa chạy theo hai chị của mình ra cánh đồng. Nước trắng băng phủ kín bờ ruộng, đứa trẻ kia không dám đi tiếp, còn tôi vẫn bì bõm chạy theo. Tôi chạy chệch ra khỏi bờ, tụt  người xuống chuôm, ngụp lút đầu. Tôi vùng vẫy, quẫy đạp thế nào, uống căng bụng nước ra sao đôi lúc muốn nhớ lại cũng không thể nào định hình được, cảm giác của người chết đuối ra sao cũng không nhớ nổi. Nhưng cái bạt tai của chị Núi, chỉ là đánh đùa thôi nhưng cảm giác rát bỏng gáy vẫn lưu lại cho đến giờ. Tôi còn nhớ khi ấy mình đang khổ sở để ựa nước trong bụng ra thì hai chị cười rí rách, mắng rằng cái vũng nước nhỏ thế mà cũng bị chết đuối. “Đấy mà là cái vũng à, có con gì to lắm, dài phải cỡ hai đòn gánh, đầu to bằng cái đấu, quấn chặt lấy chân em rút tụt xuống, cái vũng thì làm sao mà nó sống được!” Buổi chiều hôm ấy, tôi một đứa bé tám hay chín tuổi gì đó vì tức hai chị biết em bị uống nước no lại còn cười đã biết bịa chuyện doạ lại. “Hình như là rắn ma ở sông Vàng bò vào!” Hai chị lại được một phen cười cái thằng bé khéo ba hoa. Ngay tối đó, đoàn thanh niên tổ chức chia tay thanh niên lên đường nhập ngũ ở sân đình. Tôi cũng ra xem. Hát hò đang rôm rả, bỗng có tiếng la hốt hoảng: “Anh Thạo vừa đứng đây đâu rồi!?” “Chẳng nhẽ anh ấy trốn mọi người về nhà!” “Không khéo muốn đảo ngũ!” “Ác mồm thế!” Có tiếng nước lũm bũm dưới ao đình. Mọi người dồn lại xem sự thể. “Thạo hả, có phải Thạo đới không?” Lều bều như mớ bèo tấp dưới chân cầu ao, nhưng lại động đậy như là người khiến mọi người sờ sợ hỏi với xuống. Chị Núi là người bạo dạn, bước xuống bậc sát mặt nước, đập tay vào mớ đen đen bên dưới. Chị giật mình rụt tay lại, thất thanh: “Ối giời, người!” Mớ đen đen nổi trên mặt ao dường như cũng bị giật mình theo vùng dậy, vội vàng bám vào cầu ao lần lên. Thì ra là anh Thạo. Anh ta ngây ngây như dại nhìn mọi người. “Mày làm sao thế?” “Bị ma rút. Có con gì to lắm quấn chặt lấy chân tao kéo xuống!” “Thế thì giống cậu mày khi chiều cũng bị thế!” Chị Núi kéo tôi sát vào người chị, giữ chặt. Anh Thạo đi bộ đội được một năm thì có giấy báo tử gửi về.
Rồi một lần, tôi bị cái nhọt to bằng quả ổi, u già cõng tôi sang nhà anh y sĩ, nghe nói phải dùng dao lam cắt miệng để nặn mới ra ngòi, nhưng cảm giác đau đớn thế nào không còn lưu lại trong trí nhớ. Thế nhưng hình ảnh khi u già cõng tôi về, đường làng tối đen như mực, cảm giác bồng bềnh như trôi thì còn đọng lại.
Nhưng có một hình ảnh đọng lại rõ nét nhất và cũng đem lại cho tôi những xúc cảm nhất đó là khuôn viên nhà lý Ngà. Tường gạch xây cao quá tầm đầu người lớn, mạch vữa  thẳng căng chứng tỏ sự cầu kỳ của chủ nhân. Nhưng cánh cửa lúc nào cũng đóng im ỉm, nặng trình trịch thì lại chỉ được ghép cẩu thả bằng những mảnh gỗ xoan cong vênh, sần sùi những đường bào vụng. Cho dù có những khe hở rộng hoác nhưng đố có ghé mắt nhìn sâu được vào bên trong. Một cây nhãn tán xoả sát đất che kín tầm nhìn, trước mắt chỉ thấy màu đen đục. Và con chó hung tợn bên trong không để ai có thể thoả chí tò mò bằng tiếng hộc như thổi ám khí vào mắt người ta, tiếng gặm cánh cửa sồn sột đầy chết chóc. Tôi cùng lũ trẻ trèo lên đống rơm nhà cu Rạ nhìn vào. Cây cối um tùm không thấy được lối đi. Ngôi nhà thấp thoáng sau những lùm cây. Những hốc cửa tối đen lúc ẩn lúc hiện như ma trận. Một khuôn viên bí ẩn, chứa đầy chất điệp vụ, chất trinh thám hoặc là những phế tích hoang tàn, ma thuật, mỗi lần là một câu chuyện tôi tưởng tượng lại từ những cuốn truyện đã đọc để kéo lũ trẻ xuống. “Ông cụ nhà ấy chết bờ chết bụi nên thành con ma hay đi lang thang để lát người, tao đố đứa nào trèo vào trong đấy, ma bóp cổ lè lưỡi!” Đó là lời bọn trẻ tái xanh tái xám mặt sau khi nghe chuyện của tôi dằn nhau. Nhưng quả thực mãi sau này, khi lớn lên đi làm, phải khai trong lý lịch bố tôi bị bắt đày ra Côn đảo tôi mới được biết về những mâu thuẫn giữa gia đình tôi với gia đình nhà lý.
Em tôi tên là Ngà - Đó là thâm ý: “Mày chỉ đáng mặt làm con tao thôi!”. Tôi chỉ được biết điều này vào một buổi tối, chưa khi nào thấy bố tôi lại nổi cơn thịnh nộ với người khác như vậy. Đó là hai vị: Bí thư chi bộ thôn Trằm và đảng uỷ viên xã. Họ xuống xin xác nhận để kết nạp cho anh cu Vương, con trưởng của lý Ngà vào Đảng. Họ xin xác nhận bố tôi bị bắt không liên quan gì tới lý Ngà. Bố tôi lặng im. Họ chuyển sang vấn đề tình làng nghĩa xóm, vấn đề nghĩa cử cao thượng của dòng họ nhà tôi để giúp đỡ một con người đang hết mình cống hiến cho làng xã, cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Bố tôi lặng im. Đường xá xa xôi, lại phải chìm trong thứ ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn điện thiếu công suất, phải đối đầu với không gian tĩnh lặng của gian phòng, hai vị cán bộ xã mệt mỏi vừa ngáp lệch quai hàm vừa nói, sau rồi mắt họ lim dim, cái miệng trèo trẹo nói ra những câu chẳng ăn nhập gì, tôi ngồi gần cũng chẳng nghe ra. Ông bí thư chi bộ thôn khật khưỡng như người mộng du, ra ngoài mãi đâu mang về một con gà trống thiến và đùm gạo nếp trong chiếc bao tải vá víu bằng mấy mụn vải. Vừa nhìn thấy vậy, bố tôi đập bàn đứng phắt dậy. Mắt ông long lên dữ tợn, quát:
- Con Ngà đâu!
Cái Ngà thấy bố quát, hoảng sợ vội ôm choàng lấy mẹ, miệng mếu máo nhưng không dám khóc. Mẹ tôi có lẽ đã chuẩn bị sẵn tình huống này, vội bế em tôi đặt xuống trước mặt bố. Bố tôi nghiến răng, giằn giọng:
- Con tao cũng là Ngà, thằng Ngà mặc váy, chúng mày lạy được thằng Ngà ở quê thì  bây giờ chúng mày có dám lạy con Ngà này không! Chúng mày đủ gan thì tao sẽ xác nhận cho. Nếu không làm được thì bước!
Năm ấy tôi mười tuổi, chưa đủ nhận biết được hai vị thuyết khách ấy ra về với vẻ mặt thế nào để sau này nghĩ lại còn tỏ thái độ. Còn bố tôi ngồi thần thừ một lúc rồi buông tiếng thở dài:
- Tội nghiệp cho hai thằng, trời lạnh thế này ngủ vạ vật ở ga!
Tôi cũng thấy thương thương họ. Hai vị ấy rúm ró chắp tay trước bụng chào vội bố tôi không thành tiếng rồi khép nép cúi đầu lùi ra khỏi cửa đã tạo cho tôi ấn tượng, người quê mình sao cứ phải hạ thấp mình thế.
Đấy là chuyện bây giờ khiến tôi nhớ lại, chứ hai mươi nhăm năm tiếp sau ấy, chưa một lần gia đình tôi nhắc tới chuyện nhà lý. Hình ảnh ấy tôi cũng đã quên có lẽ ngay từ sáng hôm sau ngủ dậy. Những năm sau này tôi có về quê, đi qua nhà lý, tường gạch đã bị vỡ vài đoạn, cánh cổng đóng im ỉm ngày xưa không còn nhưng tôi chưa hề đưa mắt nhìn vào trong ấy lấy một lần. Quả thực là do tính tôi không thích tò mò những việc nhà khác chứ chẳng phải hằn thù, cố chấp chuyện xưa đâu. Mà chuyện xưa thì đến bây giờ bác Nhụ mới kể lại, tôi mới biết.
“Bà Sông sắp chết rồi, cậu mợ tranh thủ về, hai bà ngày nào cũng nhắc gọi cậu về!” Mấy lời nhắn vội của con chị Núi. Bố tôi mất đã được mấy năm, một quãng đời sắp qua của dòng họ Nguyễn làng Trằm chỉ còn hai bà. Hôm nay tôi về, bà Sông tròn một trăm tuổi, bà Thư tròn tám mươi.
Con tầu rung lên bần bật như kẻ lên cơn sốt rét ác tính. Thời buổi hiện đại hoá tại sao người ta vẫn dùng tới con tầu cũ kỹ thế này. Không khéo đang chạy trật đường ray thì hai bà già lão ở quê chưa ra đi thì tôi tóc còn xanh đã phải chào trước. Từ làng tôi ra tới đường quốc lộ bắt xe ô tô khách cũng phải tới hơn hai chục cây, xe máy thì gia đình còn nghèo chưa mua được, vì vậy tầu hoả có chạy lê chạy lết trên đường thì vẫn cứ phải bám vào mà đi. Chính thế, ngày bố tôi mất, mấy anh em lo việc không ai có thể về quê báo, đánh điện qua bưu điện thì phải hai hôm sau mới nhận được. Khi họ hàng ra nhìn mặt cụ lần cuối thì cụ đã nằm sâu dưới ba thước đất. Chị Núi giận dỗi hờ trước nấm đất, rằng bấy lâu bố đã không quan tâm tới, gì (tức mẹ đẻ tôi) lại coi chị không phải là con, còn chúng tôi thì lạnh nhạt với quê hương bản quán. Đoàn tầu ậm ịch, ngả nghiêng như chao trên sóng khi phải qua những đoạn đường đang sửa. Hành khách sốt ruột thò đầu ra ngoài cửa sổ trông ngóng. Khi tụt lại, bộ mặt nào cũng nhăn nhó, cáu kỉnh với nhau như người khó tính bị mắc oan. Còn tôi chẳng vội gì. Hai bà bác tôi tuy già lão nhưng còn khoẻ lắm, khác nào khúc rễ xà cừ dai ngoách bám sâu xuống đất, chẳng thể dễ dàng đào trốc lên ngay được. Đằng nào thì hết ngày cũng về được đến nhà, thong thả cho tư tưởng được thoải mái mỗi khi về quê. Còn nửa tháng nghỉ phép, hai bà muốn nhắn nhủ điều gì cũng chẳng sợ hết thời gian. Bác Sông vừa chẵn trăm tuổi, thế là đã năm năm tôi không về quê. Tệ thế! Lần trước về mừng thọ chín năm tuổi tôi còn đùa, rằng sao bác cứ chùm chiếc khăn vuông màu đen tùm hụp, khuôn mặt chỉ thấy những hốc tối, duy chỉ nhìn thấy đôi mắt trắng như miếng cùi dừa treo vào (chả là bác ấy bị lông quặm mấy chục năm, không có điều kiện chữa chạy nên hai mắt bị hỏng), nếu có thêm cái lưỡi hái thì khác nào thần chết hiện hình. Bác chửi “Tổ bố nhà chú thằng Sông, bà còn phải sống đến trăm tuổi!” Giọng của bác còn lanh canh như tiếng thau đồng thì trăm tuổi còn phải lùi lại xa. “Trăm tuổi rồi, lẫn lắm, chẳng còn sống được thêm bao năm nữa đâu!” Mấy đứa cháu ra chơi còn hậm hực thêm mấy lời ho bõ: “Dạo này bà hay chửi lắm. Mà cứ nhằm vào lúc nửa đêm bà chửi. Thế thì là cái điềm rồi phải không cậu, lo hậu sự cho bà là vừa.”
Mọi lần về đến ga chỉ quãng năm giờ chiều, thế nhưng chuyến tàu hôm nay bảy giờ mới tới nơi. Chiếc đầu máy phả hơi nóng hầm hập, phình phịch xả hơi như người đang phải vật lộn với cơn sốt ác tính. Mới đi hết đất Đồng Trung tốp người xuống ga chỉ còn lại mình tôi. Mà từ ga về làng mới được có nửa đường đất. Thẻo đất làng Trằm cô quạnh quá, tôi đâm bẳn gắt một mình khi phải trầy trật với bóng đêm và con đường lục cục những đất đá mới đổ như đang bị lạc xuống một vực đá sâu thẳm. Kẹc kẹc. Lũm bũm. Roóc roóc. ... Bất thần những hỗn tạp âm thanh ấy rộ lên râm ran. Những âm thanh trong đêm vắng như những con giun nước không những chỉ ngoe nguẩy trước mắt mà nó còn cọ vờn vào làn da khiến tôi rùng mình, sởn gai ốc. Những âm thanh này như lời nhắc, thế là về tới cuối làng Chuông đầu làng Trằm của tôi rồi. Con đường chỉ hiện lên dưới bàn chân, chứ trước mắt là bức tường đen vững chắc tôi phải gắng sức lao vào mà không chắc có biết mình đang đi đúng.Một bên là đầm ấu, một bên là nghĩa trang, đi trật về bên nào cũng đều gặp những chuyện không hay. Không có gì phải sợ, ngày trong bộ đội, tôi đã từng bị lạc trong rừng suốt đêm còn không sợ nữa là ngay trước kia đã là nhà mình. Có phải ánh đèn nhà ai hắt bóng le lói sau bờ tre. Tiếng dép dưới chân miết xuống mặt đường rồn rột. Tiếng cưu cứu của con cò đêm giăng ngang bầu trời. Tôi bỗng nghe mồn một, đâu như có luồng khí thổi phần phật trước mặt. Liệu đó có phải hơi thở của mình? Tôi không còn nhận ra những hoạt động của ngay chính mình. Thế là gì? Tôi nghi ngờ bởi có giọt sương thì phải rơi xuống cánh mũi tôi lạnh buốt. Chẳng lẽ mình lại thấy sợ. Đến đoạn nào rồi nhỉ? Tôi định nhìn quanh để xác định vị trí. Khớp cổ dường như đã bị bó cứng khiến tôi không quay được.
Bỗng nhiên, ngay cạnh tôi một khối sáng cỡ chiếc bóng đèn, đỏ rờ rợ như từ trong lòng đất phóng vọt lên. Ánh sáng của khối lân tinh khiến tôi nhìn ra ngôi mộ trắng bàng bạc ngay cạnh đường. Cơ thể tôi bị nỗi sợ hãi nẹp cứng, đau nhức nhối ở cổ, ở hai vai. Sương sống của tôi bị co rút lại. Da đầu, da mặt bị kéo căng tê dại. Tôi đi hay tôi chạy, hay là tôi bay, đâu còn lý trí nữa mà nhận biết được.
Bỗng nhiên tôi đâm sầm vào một đống hỗn độn gì đó, nhằng nhịt những dây dợ, gai góc. Chỉ có màn đen bưng trước mắt. Hay bóng đêm là thế, mình đã đâm vào tận cùng của nó. Khắp cơ thể tôi bị cào, bị chọc đau nhói. Tôi vùng vẫy để tự giải thoát những hỗn tạp gì đó bám chặt lấy quần áo mình. Ma trêu chăng. Ngày xưa, bọn trẻ hay kể chuyện bị ma trêu khi đi một mình trong đêm vắng. Tôi giũ. Tôi hất. Được giải thoát khỏi vướng víu, tôi lao chạy về phía trước. Đó sẽ là con đường về làng. Tôi cảm nhận về con đường theo lý tính. Nhưng tôi đã nhầm thì phải. Những hỗn tạp gì đó lại cản bước tôi lại. Hình như nó tức tôi vì có bị mù đâu mà cứ đâm đầu vào nó, ra sức cào xé tôi đau buốt. Hai bóng lân tinh nữa bay vút lên. Con đường lờ mờ hiện ra trước mắt tôi. Tôi đã đi vào lối nào thế này, lao đầu vào những bụi tre rong um tùm. Con đường ở bên tay trái cơ mà. Nhà ai lại trồng re ở đây, chắc quây vào để làm vườn. Lúc này những vết cào bị mồ hôi ngấm vào sót tê tái. Nhưng như vậy khiến tôi tỉnh táo lại, nhận ra mình đã bình tĩnh trở lại và cắm đầu chạy theo con đường vừa nhìn ra.
Mình chạy nhầm đường chăng. Linh tính mách tôi, đây không phải con đường mọi năm về tôi vẫn đi. Nhưng có đường thì cứ phải chạy đã. Ngực tôi thắt lại, quặn đau. Tôi dừng lại ôm ngực, gắng sức nuốt những bụm khí chẹn ngang họng để thở. Xung quanh vọng lại những tiếng lách cách va chạm của sự sống. Thế là mình đã xa khu nghĩa địa. Tôi đã dễ thở hơn, lấy lại bình tĩnh nhìn lên để xác định vị trí. Tôi nhận ra, mình đang đứng trước một mái nhà. Cũng dễ nhận bởi màu đen của nó sậm hơn, in hằn lên màu đen của không gian. Đây là đâu mà có mái nhà to thế nhỉ? Cả một khối đen khổng lồ, sừng sững như trái núi trước mặt. Hình như nhà không có người ở. Tĩnh lặng như thể nhà để hoang. Mình đã lạc vào làng nào? Tôi ngơ ngác quay nhìn xung quanh. Lạ lẫm giữa bóng đêm khiến nỗi hoảng sợ bắt đầu dâng lên. Chân tay tôi run bắn. Có lẽ còn sợ hơn lúc nãy, cứ như mình đã lạc xuống địa ngục. Nếu như không có những ánh đèn xuất hiện đang tiến đến gần mình. Tiếng cười ròn rã. Có lẽ tốp người kia là đám thanh niên đi chơi về. Chờ tốp người đến gần tôi gọi với lại hỏi:
- Các anh chị ơi, cho tôi hỏi nhờ!
Tốp người định rẽ sang hướng khác, nghe tiếng gọi dừng lại, giơ đèn lên soi về phía tôi. Những bộ mặt sau ánh đèn đỏ như mặt quỷ sứ cất tiếng hỏi lại:
- Ai đấy? Sao giờ này đứng một mình ở đây?
- Không khéo là ma! - Tiếng một cô gái.
Có lẽ cô gái nói đùa. Tôi thấy tự tin hơn hỏi:
- Cho tôi hỏi, về làng Trằm lối nào?
Tốp người giơ cao đèn hơn, lò dò những bước chân nghi hoặc tiến lại gần tôi để nhìn cho rõ. Bỗng một người reo lên ngạc nhiên:
- Ông trẻ phải không! Ông về hồi nào. Sao lại đứng đây? Ông đang đứng ngay trên sân đình làng mình lại còn hỏi.
- Ông bị ma làm hả ông trẻ!
- Đây là sân đình!? Sao lại là sân đình?
- Ông trẻ năng về quê quá đấy mà. Xã hội phát triển thì làng xã cũng phải thay đổi để phát triển theo chứ.
- Mày còn là bí thư chi đoàn nữa không, nói năng đúng như sách. Thế là thế nào?
- Thế nào thì chờ mai sáng sẽ tường. Thế ông đã nhận ra đường đi chưa hay để chúng cháu dắt tay về. Hai cụ ngóng ông trẻ từng giờ.
Thằng Sách, cháu nhà anh Cự chi dưới, ngày xưa là bí thư chi đoàn, giờ làm kế toán cho thôn. Nó chỉ trả lời tôi thế, chứ hỏi đường đi lối lại bây giờ sao lạ thế thì nó bảo đến sáng mai sẽ thấy.
- Cháu yêu cháu quý về rồi đây này, hai cụ nhanh chân ra mà đón không là cháu mang đi mất lại khóc hết nước mắt bây giờ. - Vừa vào đến cổng, cu Sách đã ơi ới gọi.
- Quà quạ, cha tổ tiên sư chúng mày, ăn lắm vào mà béo mầm như con sâu ấy à!
- Cụ đang luyện thanh để thi vào khoa thanh nhạc đấy.
Không cần phải câu nói đùa của cu Sách tôi nhận ra ngay tiếng chửi ấy là của bác Nhụ. Tôi thấy tủi thân, cố nuốt khan nước bọt để nước mắt không trào ra.
- Ông trẻ về đấy phải không! Thằng cu Sách gọi làm cụ giật mình, sắp sửa rồi đấy.
Chị Nụ trong nhà chạy ra đón tôi. Trên tay chị bế đứa trẻ. Chị bước vội vã, bóng ngả nghiêng trong ánh sáng tờ mờ của ngọn đèn điện sáu oắt treo trước cửa nhà.
- Ông trẻ về bên cô Núi từ chiều à. Sao không sang ăn cơm với cụ.
- Em từ ga về đây luôn. Bác sao rồi? Nghe tiếng chửi còn lanh lảnh thế chắc chưa đi được đâu.
- Mong đi cũng chẳng được. Thế nào cũng chửi đến sáng cho mà xem. Cháu chào ông trẻ này. Bố mẹ nó mải đi làm ăn, vứt con lại cho chị, vừa chăm cụ vừa chăm cháu, quay như chong chóng. Cậu ra bể rửa mặt đi, tôi thổi ù bát cơm cậu ăn. Tầu hôm nay sao lên muộn thế?
Vục nước giếng lạnh tê trên mặt.
- Quân bạc như vôi, mày chết đâm chết chém, chết đầu đường xó chợ.
Nước mắt tôi ầng ậng.
- Chị đĩ đâu. Cái máu cái mủ trong váy bà mà mày cũng vơ vào mồm mà ăn à!
Tôi nhìn chị Nhụ. Người chị mỏng như ngọn lửa, lay lắt trong ánh sáng bập bùng. Tôi buồn, thẫn thờ đi vào nhà.
- Thằng cu “Tũn” bế tao xuống!
Tôi đứng lặng người trước cửa. Bác Nhụ gọi cái tên hồi bé của tôi mọi người vẫn gọi! Giọng của bác hoàn toàn tỉnh táo chứ đâu có phải những câu lẫn cẫn của người sắp chết như vừa mới đây thôi. Nhưng bác ấy đâu? Tiếng gọi vừa rồi phát ra từ chiếc giường bên này hay là chiếc giường bên kia. Mù mờ tối. Hỗn mang trong gian nhà. Hỗn độn những chiếu chăn, quần áo trên hai cái giường ở hai gian nhà khiến tôi không nhìn thấy bác Nhụ đâu. Hay cũng chỉ là những câu lẫn cẫn mà bỗng dưng bác gọi tên tôi thôi.
- Còn đứng đấy à! Bế tao xuống đất!
Đúng là bác ấy nhìn thấy tôi và những lời lẽ ấy thì ai nghĩ đó là của người sắp chết như mấy đứa cháu thông báo. Tôi chùng chình trên tầu đó cũng là linh đúng. Và tiếng nói ấy đã giúp tôi xác định được nơi bác nằm. Tôi tiến lại chiếc giường, nơi vừa phát ra tiếng giục của bác Nhụ. Tôi luồn tay vào đống quần áo, chăn màn lần sờ, bóp bóp như mò cá dưới bùn. Tay tôi bóp phải một khẩu gì rắn, lạnh.
- Cha bố nhà anh, tôi khiến anh bóp chân cho tôi đấy à, bóp vụn xương tôi rồi.
Tôi giật nẩy người, rụt vội tay lại. Chân bác Nhụ! Nằm trong chăn mà chân bác lạnh và nhẫy như khẩu tre non ngâm nước. Thảo nào không đứa cháu nào dám gần. Cánh tay bác rút ra khỏi chăn với về phía tôi. Tôi đỡ tay bác. Bàn tay khô đen như xác ướp, nghều ngào bấu vào cánh tay tôi.
- Gớm ở thành phố ăn nhiều, thịt rắn thế.
Bác ấy tỉnh táo lắm. Có lẽ chỉ là ngọn đèn sắp cạn dầu, chợt bùng lên giây lát để rồi tắt hẳn. Tình cảm giữa những người ruột thịt như ngọn lửa được thổi bùng lên, tôi nắm chặt lấy bàn tay bác. Cái lạnh từ cơ thể của bác, dấu hiệu của một con người đang dần mất hết linh khí của sự sống lan toả sang đã khiến tôi xúc động. Ông lái đò trên dòng sông chở kiếp kia ơi đưa bác tôi sang sông phải cố lựa dòng sao cho êm ái một chút. Tôi mới đụng nhẹ vào chân mà bác ấy đã kêu đau rồi đấy. Không biết tay tôi hay tay bác đang run vì xúc động.
- Cô Thư cháu đâu hả bác?
- Chả biết bà ấy đi đâu, từ tối đã thấy sang đâu. Anh khoẻ tay bế bác xuống đất nằm. Nhờ mà cấm có đứa nào hộ.
- Cụ thấy cháu quý về lại nói điêu, đêm nào con chẳng bế cụ xuống. Cậu bế không quen, cẩn thận lọt tay rơi xuống thì lại chết sớm. Thôi, để đấy chị bế cho, cơm chín rồi, chỉ có miếng cà muối cậu ăn tạm cho đỡ đói.
- Tôi không khiến chị. Cha tổ tiên sư cái con quạ mổ. Anh ăn xong rồi bế bác xuống.
- Sao lại nằm đất? Nằm thế ...! - Tôi ngạc nhiên, thắc mắc.
- Thì người sắp chết mới thế chứ sao. - Chị Nụ vừa xới cơm cho tôi, vừa nhấm nhẳn trả lời.
Đứa bé cầm cái xúc xắc nhựa chơi một mình. Tiếng roong roóc làm nó thích thú càng đập mạnh. Nó ngoan, không làm bấn chân bà nó như khi nãy chị Nụ tôi ca cẩm.
Tôi bưng bát cơm lại gần giường. Bác Nhụ xua tay ra hiệu bảo tôi mang ra ngoài sân ăn. Tôi ngồi xuống đầu hè, xách tích nước vối ở góc tường rót vào bát cơm. Ngày tôi còn bé, bữa cơm quê tôi vào những ngày nông bận thường chỉ là tích nước vối thậm chí có đứa trẻ chan nước mưa trong bể và quả cà muối mặn là xong bữa. Bóng đêm đè nặng xuống trần gian. Tiếng lắc xắc của chiếc xúc sắc trong tay đứa cháu giòn nẩy, lan toả cô độc trong không gian tĩnh lặng. Miếng cơm trong miệng lạnh lẽo, nhạt thếch của nước vối, mặn đắng của miếng cà. Tôi cố lùa cho xong bát cơm. Chỉ là sợ bác và chị chạnh lòng khi đứa cháu mấy năm mới về thăm lại chả có được bữa cơm tươm tất, chứ thực tình miếng cơm đụng đến môi thấy tanh tanh mùi tử khí, cảm giác vừa khi nãy đi qua khu nghĩa địa và những bóng ma trơi khi đối mặt với bóng đêm lại hiện lên ám ảnh.
Biết tôi đã cơm nước xong, bác Nhụ chòi bàn tay ra khỏi chăn, vẫy tôi. Bàn tay phất phơ như tầu lá khô chực rũ xuống. Tôi luồn tay xuống đống chăn lùng nhùng. Nhìn một lượt, xác định tay mình đã đặt đúng vị trí cổ và hai kheo chân bác, tôi nín hơi lấy sức, thận trọng nâng người bác lên. Không biết có phải tôi chỉ bê độc có đống chăn không hay sao mà nhẹ bẫng! Tôi nghi ngờ, nhấc cao hẳn lên rồi nhìn lại một lượt để xác định cho chính xác. Chỉ thấy lùng nhùng những là chăn. Và tôi chỉ nhận ra, đã bế bác tôi trọn trên tay, bởi ánh mắt tôi bắt gặp hai miếng trăng trắng như sữa, đó là hai tròng mắt bác Nhụ đã được nâng lên, đung đưa cùng chiều chuyển động của cánh tay mình. Và cái ánh sáng trắng sữa ấy hướng về phía tôi tin tưởng.
Tôi đã trải một lần chăn xuống đất để bác nằm nhưng điều đó khiến bác khó chịu kêu gần gừ trong cổ, rồi cố nhoài ra ngoài đất. Tôi phải cuộn lại chiếc chăn vất lên giường và cùng nằm xuống đất với bác. Hơi lạnh của đất và của một người không còn đủ hơi ấm của sự sống bên cạnh làm tôi rùng mình. Nhưng rồi hơi đất cũng ấm lên dưới lưng và nỗi sót xa về thân phận một người thân đã chịu bao nhọc nhằn với đời khiến tôi xoay người nằm sát lại, ôm choàng lên người bác. Và chỉ chờ có cử chỉ ấy của tôi,  tất cả một quãng đời của chi họ nhà tôi hiện dần về theo lời kể rành rọt tới từng chi tiết trong giọng nói lanh canh như tiếng gõ thau đồng của bác Nhụ.
Không biết đã là mấy giờ, nghe tiếng gà gáy râm ran nhưng tôi chưa biết đoán thời gian bằng cách này. Tiếng các loại côn trùng kêu trong đêm ngày càng náo loạn nhưng đang yếu ớt, nhỏ dần. Mặc dù chuyến tầu trong ngày đã làm tôi mệt mỏi nhưng tôi không hề ngủ được. Bác Nhụ nằm im và hình như đã thiu thiu ngủ. Còn tôi bắt đầu bực dọc, trong người dần bốc nóng râm ran nhớ lại những tình tiết vừa được biết qua lời kể của bác. Càng nhớ lại càng khiến tôi thêm phẫn nộ. Thế ra bấy lâu nay chi họ nhà tôi vẫn cúi mình tôn người khác máu lên đầu. Tôi vùng ngồi dậy, trút nỗi căm hận sang con người đang chỉ còn lay lắt ngày một ngày hai ở trên đời.
- Thế anh Sông bây giờ ở đâu, bác?! - Tôi nhỏm dậy nhìn vào đôi mắt vô hồn của bác, ấm ách hỏi như tra xét.
Bác Nhụ chưa ngủ, rành rẽ trả lời tôi:
- Nó vay nợ của người ta gần một tỷ để buôn bán. Cái dòng máu của nhà nó là liều lĩnh, muốn vơ tiền của thiên hạ, thế nhưng nó đâu biết nó đã sống trên mảnh đất của nhà chú thì làm thế sao phải với giời, cho nên vỡ nợ, bỏ trốn. Giờ ở đâu, bác bặt tin mấy năm nay.
Tôi cũng đã được biết chuyện anh ta trốn nợ. Chỉ vì không chịu được cành bần hàn chốn quê, anh ta cùng gia đình lên Hà Nội thuê cửa hàng kinh doanh. Thời gian đầu cũng làm ăn được, khấm khá, xây được nhà, còn mua cả ô tô riêng. Thấy mừng. Sau bị bạn làm ăn lừa lọc, rồi con cái hư đốn nên phá tán hết gia sản, nợ nần chồng chất. Đến cái tuổi muốn được an nhàn trên mảnh đất quê thì phải trốn chui trốn lủi tận đâu. Thấy thương cho anh ta.
- Thế cũng may, dòng họ nhà cháu hết nghiệt chướng! - Tôi nói buông xuôi như thể cuộc đời của anh ta với kết cục như vậy là xứng đáng, chi họ nhà tôi đã được giải thoát.
Bác Nhụ im lặng.
Tôi tung chăn ngồi hẳn dậy, buông tiếng thở dài, nhìn qua cửa, xuyên vào đêm sâu hun hút. Cũng tội cho cuộc đời bác. Liệu vừa rồi mình có câu nào nặng nhẹ khiến bác day dứt trước khi lìa đời. Nếu có thì tội cho một kiếp người lắm. Chị Nụ và đứa cháu đang ngủ say. Đứa bé ngủ nhưng tay vẫn cầm chiếc xúc xắc. Mỗi khi nó trở người, tiếng roong roóc cô lẻ lại vang lên ròn rã như tiếng xua đuổi âm  binh.
- Thế sao bác chỉ nói chuyện này với cháu?
- Liệu thằng cu Sông có dám về không cháu?! Cháu quen biết nhiều lại có điều kiện, bác nhờ cháu tìm anh ấy về cho bác gặp lấy một lần.
- Về thế nào được, người ta không róc xương ra mà trừ nợ chứ à, bao nhiêu gia đình phải ly tán dưới trò gian manh của anh ấy. Mà không khéo anh ấy đang sống sung sướng ở đâu, không thèm nhớ tới quê hương bản quán, bác khổ tâm về anh ấy làm gì nữa. Gia đình nhà cháu có điều gì không phải với bác?
- Bác một trăm tuổi rồi, ai ngờ ông giời hành bác, lại cho bác minh mẫn vào những ngày cuối đời cơ chứ.
Chị Nụ trở người, khẽ khàng ngồi dậy, nhấm nhẳng:
- Như thế là lẩm cẩm chứ minh mẫn gì.
Tôi hỏi để kiểm chứng xem chị đã nghe thấy gì:
- Hai bác cháu nói chuyện, chị không ngủ được à?
- Lâu lắm mới được một đêm ngủ ngon, không bị dựng dậy nghe chửi, cậu nói chuyện gì với bác thế, hai bác cháu thức suốt đêm cơ à.
Thế là chị ấy không biết hết về cuộc đời của mẹ mình, không biết mẹ mình đang mong muốn điều gì. Và hẳn với chị, anh Sông vẫn là trưởng chi họ nhà tôi. Liệu tôi có nên cho mọi người biết không, để chi họ nhà chúng tôi được tiếng trong sạch, tất cả những chuyện xấu xa của cuộc đời hai mẹ con bác Nhụ sẽ không thuộc về chúng tôi, hai mẹ con bác phải gánh lấy. Liệu làm thế có phải là rũ bỏ một người đã dốc cả cuộc đời phụng sự cho nhà chồng? Nhưng chẳng lẽ tôi lặng im, làm theo lời thỉnh cầu của bác. Như thế có phải cho tổ tông nhà tôi. Nhưng lúc lâm chung con người cần có một chỗ dựa tinh thần để cố bấu víu lại với đời. Anh Sông là chỗ dựa, là niềm tin thoát xác của bác. Tôi nhìn sang bác Nhụ. Hai mắt bác nhắm nghiền. Hình như bác đẫ thiêm thiếp trôi vào một giấc ngủ thanh thản nhất cuộc đời mình. Tôi nhẹ nhàng bế bác lên giường. Cẩn thận rém cạnh chăn sát vào người bác để giữ ấm. Ngoài sân, sương trắng bàng bạc đang dâng lên phủ kín sân. Hơi lửa rơm dưới bếp sộc lên cay nồng.
Tôi ra ngoài cổng, nhìn về cánh đồng Đỗ, muốn được thư thái để đưa ra quyết định cuối cùng. Những hạt sương li ti táp vào mặt tê tê lạnh. Thấp thoáng trong làn sương, một vệt đỏ hiện lên trước mắt tôi, kéo dài như sợi chỉ giăng ngang cánh đồng. Vệt đỏ lúc chìm khuất dưới làn sương, lúc hằn rõ như vết máu loang trên trên màu đất nâu. Lãng đãng. Huyền ảo. Tôi thấy lạ, căng mắt ra nhìn cho rõ, dồn tâm trí vào phán đoán xem vệt đỏ kia là gì. Không thể nhận ra là gì nếu không tới gần. Lại cả chuyện con đường tối qua nữa. Tôi phân vân nhớ lại. Hình như hai điều này có gì liên quan tới nhau? Nếu là con đường cũ thì sao lại dẫn thẳng vào sân đình? Nghi hoặc và tò mò đã kéo tôi đi về phía vệt đỏ. Hướng đấy là đình.
Một con đường đang đắp dở. Màu đỏ của đất đồi đổ xuống còn tươi mới. Hơi đất còn ngái. Con đường này là thế nào? Nó cách con đường cũ không xa và xẻ cánh đồng Đỗ làm đôi. Tôi quan sát địa thế và phỏng đoán ý đồ thiết kế của con đường. Tôi đang đứng ở vị trí giữa đình và cầu Đá, chiếu mắt nhìn về hai phía. Thì ra người ta muốn có con đường thật thẳng, nối từ đình qua cầu Đá, qua Thuận Thanh, tới đường quốc lộ mà không bị vòng vèo, che khuất tầm nhìn. Chẳng lẽ chỉ với lý do như thế người ta phải đổ công đổ của xuống? Lợi ích kinh tế thế nào, có liên quan gì tới quy hoặch tổng thể của cả vùng chăng? Tôi tự suy xét. Trầy trật lắm tôi mới đi ra được tới đình.
Đây là đình làng tôi!? Tôi bàng hoàng, trân trân đứng nhìn cảnh vật đổi sao rời trước mắt mình. Thảm hoạ gì đây đã giáng xuống làng mình! Mặt đất quanh đình bị đào tróc nham nhở. Bùn đen, đất đỏ tơi bời khắp nơi, như một vết thương bị hoại tử đang loang nhanh trên cơ thể. Nguyên do, con đường mới mở đã xẻ đôi cánh đồng Đỗ, về tới đây đâm thẳng vào tim ao, thấu sang tận bờ bên kia và kéo dài tới cuối bãi tha ma. Đó lưỡi dao tử thần. Nước ao ngầu đỏ như máu loang. Máu đỏ còn vấy cả lên tường, lên mái ngói, vung vãi khắp sân gạch. Ngôi đình oằn oại, kiệt sức. Những giọt sương hay những giọt nước mắt của thần linh thễu mễu lăn từ trên mái đình xuống sân rơi tí tách xuống sân đình nhoe nhoét đỏ.
Tối qua tôi đã đi về trên con đường này. Nham nhở, trồi trụt những mô những đống đất mới đổ chưa kịp san, thế mà tôi đi như cuốn mà không hề ngã. Có lẽ tôi đã bay. Những bóng lân tinh, không phải đó là ngọn đèn của những linh hồn đã nâng tôi bay và định hướng cho tôi về tới sân đình. Linh tính về lối đi cũ của tôi là đúng nhưng con đường ấy đã bị rào lại không thể đi được. Người ta bắt dân làng phải đi trên con đường mới, mặc dù chưa được làm xong. Con đường cũ hình vòng thúng, bao quanh lấy làng.Từ đầu làng tới cuối làng sẽ là một đường thẳng, gần hơn, thuận tiện giao thông hơn, đó là người ta tính tới chuyện thông thương để có thể phát triển kinh tế của cái làng Trằm nhỏ bé và nghèo khó của tôi. Người ta đang sống trong làng, bát cơm manh áo là việc đáng phải lo nhất. Chứ đâu có ai như tôi, mỗi khi về tới cuối bãi tha ma, phải đứng lại ngắm nhìn về phía đình. Mặt nước ao đình bừng lên ánh sáng trắng lung linh như vầng trăng mọc trên nền xanh mướt mát của cánh đồng thôn quê dẫn lối tôi về. Mái đình nâu ấm, tự tại như người đang ngả lưng xuống cánh võng làm hàng tre cong vút khiến tôi sốt ruột, mau chóng về nhà để được ngủ vùi trong đống rơm. Nửa đêm thỉnh thoảng giật mình tỉnh dậy lắng nghe tiếng rào rạo khô ròn của rơm khô quanh mình, hít hà mùi khói bếp cay cay, hơi của nồi bánh chưng nồng nồng chen lẫn mùi ngái thơm của nồi nước lá mùi u già tôi đặt cạnh bếp để khi sáng tôi sẽ được đắp hương vị ấy trên lần da mặt. Khi nãy bác Nhụ nằng nặc đòi được ra ao đình để lần cuối ngắm mặt nước xanh như mắt mèo, được uống một ngụm nước ngọt như nước mưa lần cuối. Tôi phải thuyết phục, rằng đêm hôm tối tăm có đưa được bác ra tơi nơi không bị cảm gió thì cũng vấp ngã mà chết, cố đợi đến sáng sẽ võng ra, bác còn khoẻ lắm phải còn nhiều buổi sáng tồn tại trên đời nữa chứ không phải không còn đợi được đến sáng ngày đâu. Tôi định nói, rằng mắt bác có nhìn thấy gì hơn chục năm nay rồi thì cái mặt nước có xanh như mắt mèo, hay thế nào đi nữa hẳn có tác dụng gì. Nhưng tôi kìm lại được. Tôi vốn là người hay tìm hiểu về tâm lý của con người. Người mù có cảm nhận riêng của người mù. Người sắp chết có linh cảm của người sắp chết. Ông trời luôn sắp đặt công bằng khi nhào nặn nên một con người.
Không biết bác Nhụ đã biết người ta đã băm vằm ao đình đến tơi tả như thế này chưa. Cầu sao chưa ai nói cho bác ấy biết. Bác ấy ra đi bằng những ký ức về chiếc ao đình ngày xưa như vậy sẽ thanh thản hơn. Bác muốn được gặp anh Sông, liệu có phải ký ức về cuộc tình đã dẫn tới nghiệt chướng cho cuộc đời bác và cho chi họ nhà tôi trong trận lụt năm ấy, bên dưới mái đình linh thiêng và nghiệt ngã này chính là điều cầu mong cho linh hồn của những người đã khuất trong dòng họ nhà tôi tha thứ cho bác và bác còn cầu mong cho con ma lý Ngà không còn lang thang, tròng ghẹo người dương gian như những câu chuyện bọn trẻ khi xưa chúng tôi hay bịa đặt ra để doạ nhau. Phải chăng là thế. Vậy tôi sẽ đi tìm!
Ao đình đâu còn những bí ẩn mang đày chất huyền thoại và linh thiêng nữa, người ta đã mổ xẻ nó ra một cách tàn nhẫn như mổ xẻ một thân người trong cộng đồng cái làng  Trằm bé nhỏ này mà không hề run tay, không hề sợ bị bắt tội. Tội giận quá má ví von ừa như vậy. Thế mà ngày còn bé, chưa một lần chúng tôi dám chỉ tay lên điện thờ Ngài. Thế là bất kính, sẽ bị cụt ngón tay ngay. Chưa một lần dám đái bậy xuống ao. Cả nhà đứa ấy sẽ bị tắc lỗ đít. Bọn trẻ chúng tôi rủa độc như vậy. Thế mà bây giờ, hạt cườm cườm đính trên mũ Ngài cũng bị cạy ra xem có phải ngọc thật, long ỷ cũng bị khoét nham nhở để tìm đồng đen làm cốt như các cụ kể lại có đúng thế không. Không phải kẻ trộm đạo bất lương gì làm chuyện ấy mà chính là các vị chức sắc trong làng muốn “kiểm tra, xác minh” để có kế hoạch bảo vệ. Không có thứ gì đáng giá cả, suốt một thời gian dài không ai trông nom, quét dọn. Còn ao đình bị lấp là muốn vươn xa để tìm tới giầu sang, phú quý cho làng. Toàn những lý do xác đáng cả đấy chứ, nào ai phản đối vào đâu được nữa.
- Tiên nhân thằng cu “Tũn”! Cả làng này chỉ còn mình tao thôi nhớ!
Tôi còn mải đau đáu những ý nghĩ về mái đình làng mình, đến nỗi để cô Thư huơ gậy lên trước mặt mới biết.
- Mày đi đây đi đó được, thế mà một năm về quê có một lần thôi mà cũng mất mặt là thế nào! Có phải thằng bố mày chết rồi thì mày cũng mất quê luôn có phải không! Cả làng này chỉ còn có mỗi mình tao thôi nhớ!
Cô mắng, cô chửi tôi đã lâu rồi mới về quê thì đành đã rõ rồi, thế còn cái câu “cả làng này chỉ còn mỗi mình tao” cô cố ý nhấn mạnh với tôi là thế nào? Có điều gì đã xảy ra với làng, có liên quan tới gia đình mà cô có vẻ ấm ức như thế? Hay, cả làng này chỉ có mình cô phản đối việc mở đường qua ao đình, để rồi bị các vị chức sắc trong thôn gây khó dễ gì.
- Cháu đi đây đi đó cũng vì công vì việc. Thế có việc gì thế cô? Chắc cô phản đối việc làm con đường này phải không? Cháu thấy lạ quá. Đành rằng bây giờ phải lo phát triển kinh tế, không ai rảnh rỗi mà đứng từ xa ngắm đình, thế nhưng chẳng lẽ người ta cũng không tin vào thuật phong thuỷ nữa sao. Có ai làm nhà để đường đi đâm thẳng vào cửa không, huống hồ đây là đình, nơi linh thiêng của cả làng.
Tôi chưa kịp nói hết ý của mình nhưng nhìn vẻ mặt khó đăm đăm khi nãy của cô Thư không còn, ánh mắt cô ấy rạng lên niềm tự hào. Cô nắn bắp tay tôi, tự hào nói:
- Gớm con bố Sơn béo khoẻ thế, thử hỏi cả tổng này có ai làm nhà văn như anh không, có ai giỏi bằng anh không. Thằng cu “Tũn” nói đúng, từ ngày lấp ao mở đường đến giờ sinh ra chuyện anh em, bố con tranh giành đất đai, đâm chém nhau phải lên Hà Nội mới cứu sống được. Anh là nhà văn, anh phải năng về quê để cho mọi người thấy.
- Kìa cô, cháu đã là nhà văn nhà viếc gì đâu!
- Tiên nhân bố nhà anh, anh sợ tôi nhờ vả à. Mà cũng phải nhờ tới anh đây, rồi về nhà tôi sẽ nói. Cả làng này chỉ còn có mình tao thôi nhá. Sao anh giống ông nội anh từ dáng đi, nét miệng, đến cả cái tính ấy nữa.
Tôi nói thật nhưng cô không tin, cả họ, cả làng này không tin, tôi có phải là nhà văn đâu. Chỉ là anh công nhân bình thường thôi. Chẳng qua mê văn chương, mới có được chục cái truyện ngắn in trên các báo địa phương. Năm tôi ngoài hai mươi, được một số nhà văn tên tuổi quý mến, lại in mấy truyện ngắn giờ đọc lại thấy ngô nghê của kẻ tập tọng chữ nghĩa, ấy vậy mà bố tôi tự hào lắm, khoe với bạn bè, với làng xã cứ như tôi đã là nhà văn lớn.
- Bớ làng, bớ xã, vợ trưởng thôn tụt quần tôi ra đây này!
Cái làng nhỏ bé này, con gà gáy đầu thôn cuối thôn nghe thấy huống hồ tiếng la thất thanh. Tiếng la the thé như mũi tên đâm toang cái tĩnh lặng của buổi sớm mai. Tôi hốt hoảng nhìn quanh xác định hướng của tiếng la vừa rồi. Còn cô Thư, ánh mắt cô bỗng hằn lên dữ tợn, cây gậy chuyển sang cặp vào nách, đi phăm phăm bỏ tôi đứng lại một mình, như thể cô đang xông vào kẻ thù để quyết chiến. Tôi vội chạy theo cô.
Tiếng la chuyển sang những âm thanh sằng sặc như người bị bóp cổ.
Dân làng đổ xô về hướng có tiếng la.
Tiếng la ở trước cổng nhà lý Ngà. Dân làng dồn tới xem sự thể là gì nhưng chỉ dám đứng từ xa nhìn lại. Cô Thư rẽ đám người đi lên. Tôi bám theo sau.
- Bà con cô bác xem này, vợ của trưởng thôn hãm hiếp tôi này. Tổ cha con đĩ, tưởng mày đoan chính thế nào, của chồng mày chưa đủ hay sao mà giữa đường giữa chợ bóp dái người ta.
Trước mắt tôi, một cảnh tượng trớ trêu đang diễn ra. Trường, con thứ của lý Ngà, hơn tôi vài tuổi, một tay túm cạp quần bị tụt xuống tận đầu gối, tay kia giữ chặt tay cô Trinh, hay cố đẩy ra khỏi háng chân của mình. Nếu đứng từ xa trông lại thì không thấy rõ sự thể thư hư thế nào. Mà lại gần thì, dây vào cái ngữ ấy rồi thiệt thân. Cô Trinh, vợ của trưởng thôn, được dân làng khen ngợi là người con gái xinh đẹp và thuỳ mỵ nhất làng, chẳng lẽ đến nước này mọi người còn nghi ngờ gì nữa mà cứ đực mặt đứng nhìn.
- Mẹ cha cái quân bất lương!
Cô Thư xông vào vung gậy quật túi bụi vào tay Trường. Trường bị đau, buông tay Trinh ra. Cái quần bị tụt hẳn xuống. Trường nhảy dựng lên. Cái cu cũng bật lên bật xuống theo nhịp nhẩy. Trường la lối:
- Cả làng làm chứng nhá, vợ của trưởng làng thọc tay vào đũng quần tôi làm chuyện bậy bạ, lại còn bị gia đình cách mạng vào hùa đánh tôi trọng thương đây này.
Sự thể là thế nào?! Làng quê của tôi đang biến thành nơi chiến địa cho mục đích gì đây? Ai sẽ trả lời hộ tôi câu hỏi này, khi mà người lớn cụp mắt, lặng lẽ quay về, còn đám trẻ phải bạo gan lắm mới dám đứng nán lại, chỉ trỏ cái cu bần bật của Trường, bụm miệng cười. Trinh đã thoát khỏi tay Trường bưng mặt khóc, sấp ngửa chạy bổ về nhà. Cánh lưng cô Thư còng gập xuống, dường như chiếc gậy trong tay là cây cột đỡ cho cô khỏi ngã dập xuống. Tôi bàng hoàng. Về nhà thì trưởng thôn Hoà, gọi tôi là chú họ xa, chồng của cô Trinh đã chờ tôi.
- Cũng may có ông trẻ về chứng thực. Lẽ ra cháu cứ làm ở nông trường, có vất vả một tí nhưng không phải khổ tâm thế này. Làng xã vận động, cháu có bằng đại học nông nghiệp thì về quê làm trưởng thôn để giúp làng đi lên. Nào ngờ chức trưởng thôn có gì đâu mà tranh giành. Đúng là ôm rơm rặm bụng.
- Có mày ngu thì mới rặm bụng! Tao được làm trưởng thôn như mày xây nhà mái bằng còn ít. - Anh Thôi, con bác Dạ đứng ngoài cửa xỉa tay vào tức tối với Hoà.
- Thì chú bảo cháu làm gì ra tiền, trong làng có đến nửa là họ hàng nhà mình không, ăn chặn ăn bớt của người nhà không thấy nhục à. - Hoà đỏ mặt to tiếng lại.
- Đúng là cái họ nhà này chỉ hão!
Anh Thôi vùng vằng bỏ đi.
- Ông trẻ xem, đến họ nhà mình thế nào với nhà ấy mà như ông trẻ Thôi, nó hứa cho chân coi đình nếu nó được làm trưởng thôn thôi mà là người đầu tiên giơ tay biểu quyết trong buổi họp chi bộ hôm qua. Như ông trẻ thấy đấy, dùng mọi thủ đoạn, hèn hạ đến thế là cùng. Sắp bầu trưởng thôn khoá tới rồi, nó muốn xin vào đảng để vận động phiếu bầu từ trên xuống cho chắc chắn. Nó khai lý lịch, bố nó là lý Ngà ngày xưa hoạt động bí mật cho cụ nhà mình. Các cụ hoạt động ngày ấy chết hết rồi, chỉ có con cháu các cụ chứng thực là có nghe kể lại, thế mà lý lịch cũng được chấp nhận, buổi họp chi bộ chiều qua chỉ mình cháu phản đối việc kết nạp đảng của nó. Nào ngờ nó tìm mọi cách để trả thù. Hèn hạ thế!
Tôi lặng người sau khi nghe cuộc đấu khẩu giữa những người trong nhà mình. Cái làng Trằm nhỏ bé và yên tĩnh bấy lâu chỉ có trong suy nghĩ của tôi. Mình đã quá thờ ơ và bàng quang với quê hương, chỉ biết mỗi khi trở về là được nắm nhìn cảnh vật êm đềm từ cây đa, bến nước, sân đình, từ hàng tre, mái rạ, chứ đâu có đào sâu tới nỗi đau của mỗi con người. Đau đớn đến tột cùng, thế nhưng tôi sẽ phải làm gì đây? Tôi chưa kịp tìm được một câu trả lời nào cho lòng mình thì tiếng lọc cọc cô lẻ của chiếc gậy của cô Thư đang tiến ra hướng cổng đã thúc tôi đứng dậy chạy theo với một linh cảm chẳng lành.
- Cô đi đâu thế?
- Cả làng chỉ có mình tao thôi mày nhớ!
- Cháu hiểu cô nói gì rồi. Nhưng còn thằng cu Hoà nữa kia, có phải mình cô phản đối việc thằng Trường vào Đảng đâu!
Cô Thư không phản ứng gì trước câu nói của tôi, lặng lẽ chống gậy đi về hướng sông Vàng.
- Thế cô đi đâu bây giờ?!
- Tao đi kiện!
- Cô muốn đi thì để mai ngày cháu chở đi, lên huyện có đi xe đạp cũng mất nửa ngày đường, cô đi một mình sao được.
- Tao không cần thằng nào sất! Làng này chỉ còn mỗi mình tao thôi mày nhớ!
Tôi biết, sẽ không ngăn được ngọn lửa căm giận đang bùng lên thiêu đốt trong cô. Vả lại còn bác Nhụ nữa, từ sáng đến giờ không biết ra sao rồi. Để cô Thư đi một mình hay quay trở vào với bác Nhụ? Tôi phân vân. Cuối cùng đành phải thoả hiệp với mình. Cô Thư tuy còn khoẻ nhưng ở tuổi tám mươi sao đủ sức có thể đi bộ lên tới huyện được, rồi tôi sẽ bảo ai đó khuyên can hoặc đi cùng cô, mà việc ấy chờ thêm vài ngày nữa cũng có sao. Còn bác Nhụ, ngọn đèn lay lắt, lụi tắt chỉ một sớm một chiều nữa thôi, biết được lúc nào mà lo trước.
Tới đêm, bác lại bắt tôi bế bác đặt xuống đất rồi nằm xuống cạnh. Đêm nay bác còn minh mẫn hơn đêm qua. Và hình như câu chuyện đã được bác chuẩn bị từ lâu, công phu tới từng chi tiết, tuần tự theo thời gian từ trước sau diễn ra những sự kiện, đến giờ chỉ giở trong trí nhớ ra kể lại với tôi. Câu chuyện về cuộc đời bác, về những ngày đã qua của chi họ nhà tôi được nối tiếp như một bộ phim dài tập. Giọng của bác hôm nay còn vang, khoẻ hơn nhưng vào lúc này, tâm trạng tôi nào có tập trung được. Cảm xúc của tôi lúc thì chồi lên với những câu chuyện của bác Nhụ kể, lúc lại phải lặn xuống lo lắng cho cô Thư, tới giờ sao chẳng có tin tức gì cả. Đã cho các cháu đi tìm, có đứa lên tới huyện hỏi thăm, có đứa sục sạo khắp bờ mương, bờ đầm nơi cô ấy có thể đi qua để dò tìm nhưng vẫn không thấy đâu.
Suốt đêm trong gian nhà nhỏ bé của cô Thư sáng đèn trông chờ.
Gà đã gáy sang canh năm. Bình minh đang cựa mình lách qua đêm tối, tìm đường xuống trần gian. Bác Nhụ đã ngủ. Tôi ngồi dậy, phấp phỏng lo. Có tếng ồn ào bên nhà cô Thư vọng sang. Có lẽ cô ấy đã về chăng? Mà hình như không phải, tiếng ồn ào có vẻ gì đó lo lắng. Tôi nghe rõ tiếng anh Thôi vung những câu chửi thề. Tôi nhẹ nhàng tránh không làm tỉnh giấc của bác Nhụ, đi sang bên nhà cô Thư.
- Ông trẻ dậy rồi à, ông đi cùng xe với cháu sang Đồng Trung đón cụ!
Một tay Hoà dắt xe đạp, tay kia túm áo tôi vội vàng lôi ra ngoài cổng, ý thúc tôi phải đi luôn.
- Sao? Cô làm sao? - Tôi níu lại hỏi.
Một người lạ lúc này ở trong nhà đi ra, giải thích cho tôi:
- Cụ nhà mình chẳng biết làm sao, lúc tối vào nhà tôi nghỉ nhờ, quần áo ướt sũng, đầu tóc vương đầy rễ ấu, có lẽ cụ bị ngã xuống đầm ấu.
- Thế cô tôi thế nào rồi?
- Bà cụ khoẻ thật, rét mướt thế mà chẳng hề hấn gì, cả đêm không ngủ, cứ lẩm bẩm câu gì đó. Sáng sớm đã xuống xuống bếp hộ nhà tôi nồi cám. Không biết có phải do lẩm thẩn nên đi trật đường.
- Thế mấy giờ cô tôi vào nhà anh?
- Lúc ấy độ khoảng tám giờ, tám rưỡi gì đấy.
Anh Thôi bực dọc quay chiếc xe đạp làm đổ rạp cả bụi dong diềng, miệng vùng vằng:
- Nhà bác nói khoác, sức như tôi có chạy bộ thì độ ấy cũng chẳng thể tới được, huống hồ bà cụ tám mươi lẩm cẩm chẳng nhớ đường đi. Tôi hỏi bác, bác đạp xe từ ấy sang đây từ mấy giờ. Hoạ chăng có bà cô tôi biết bay.
Quả là nằm ngoài mọi phép tính, với vận tốc của một bà cụ, với quãng đường như thế thì không thể có được một đáp số về thời gian như ân nhân của gia đình tôi đã cho. Gặp chúng tôi, ánh mắt cô Thư có rạng lên niềm vui, nhưng cái nhìn vẫn vời vợi những bí ẩn như những gì tôi mới được nghe qua lời kể của bác Nhụ. Cô tôi kể về hành trình của chuyến đi:
- Này nhớ, hình như ma dẫn ấy, lẽ ra đến cánh đồng Nô của Đồng Trung là đi thẳng, tự dưng có hai thằng thanh niên mặc quần áo trắng đứng chặn đường bảo tao rẽ, phía trước làm đường không đi được. Có phải làm đường không hả bác chủ nhà? Không phải chứ gì, thế có phải chúng nó là ma hiện ra trêu tao không. Bãi tha ma của Đồng Trung sao giống bãi tha ma làng mình thế, hai bên đường trồng toàn xà cừ, cũng một bên là mả, một bên là ao. Đến đấy thì trời tối quá, lại mệt thở không ra hơi, ma tao chẳng sợ, phải ngồi xuống nghỉ cái đã. Tao nghe thấy tiếng thậm thịch như tiếng chân người đi, nhưng chẳng nhìn ra ai sất. Ma đấy. Tao cũng hãi. Đứng dậy định đi tiếp thì bị nó đẩy vào lưng. Tao ngã úp sấp xuống đầm. Ui chao, rát cả mặt. Tao uống no nước. Vùng vẫy. Hình như nó chỉ trêu thế thôi. Tay tao quờ phải tay nó. Nó kéo chẳng kéo, tao phải cố sức mới bò lên được bờ. Tao bảo, mày có trêu thì đến lúc kéo tao lên cũng phải mạnh lên tí cho đỡ mệt. Tay nó to và trơn như tay ma. Chẳng đứa nào bắt nhời lại, lần mò quay lại thế nào lại gõ được cửa nhà bác này. Có người tốt thế.
- Ma nào, có người đẩy bà xuống thì có. May mà bà bám được vào rễ xà cừ chứ không thành ma rồi chứ bỡn à!
Suy đoán của anh Thôi có lý. Nhưng bằng chứng đâu. Chẳng lẽ lại có người hằn thù đến mức phải đẩy một bà già tám mươi xuống đầm sao? Liên kết những sự việc trong những ngày gần đây, những hành động quyết liệt của cô Thư thì chúng tôi không ai dám nói ra nhưng hẳn cùng một mối nghi ngờ cho ai rồi. Thằng cu Hoà nói, thấy thằng Trường đứng ở đầu làng nhìn theo cô khiến những nghi ngờ của chúng tôi thêm cơ sở. Nhìn sang cô Thư, thấy nét mặt hân hoan và những cử chỉ nhanh nhẹ, hoạt bát hơn mọi ngày thì ngay chúng tôi cũng tin về những con ma đã sờ vào người theo lời kể của cô là có thật. Liệu có ma không nhỉ? Một con người đã trải qua tám mươi năm cuộc đời, một con người có cái nhìn thần bí và người đã chứng kiến bao nhiêu cảnh huống cuộc đời thực thực, hư hư như cái đận kéo gỗ về làm đình, như cái đận thầy Quyết được cứu thoát khỏi bọn cướp, rồi những bóng ma bên ao đình thì câu chuyện bị ma đẩy xuống đầm có lẽ là sự thực chăng!
Mừng là cô Thư bình an vô sự. Mừng là thấy cô Thư vui hơn. Đó tất cả là những gì chúng tôi quan tâm nhất trên đường đón cô trở về
Nhưng niềm vui chỉ đồng hành với chúng tôi từ Đồng Trung về tới đầu làng Trằm.
Tiếng khóc của chị Nụ như xé gan, xé ruột chúng tôi, xé tươm tinh những dải nắng sớm, vò nhàu những vạt sương. Một buổi sáng lễnh loãng, đục nhờ nhờ qua những hàng nước mắt của anh em, con cháu chúng tôi.
Bác Nhụ đi vào giờ nào không ai biết. Có thể lúc tôi bế bác lên giường chăng? Lúc ấy bác thế nào ư? Tấm thân xác xơ không còn hơi ấm từ lâu rồi, có nhận biết được đâu. Chỉ nhận qua hơi thở. Nhưng nào tôi có để ý đâu mà biết hơi thở của bác có còn. Chị Nụ ư. Chồng chị đau bụng, vật vã suốt đêm, may mà có tôi về không thì rồi không biết nhờ cậy ai. Đến khi mang bát cháo sang, lay mẹ dậy thì người mẹ đã lạnh cứng từ khi nào.
Đành phải lấy giờ khi tôi ra khỏi nhà để nhờ thầy xem giờ cất lễ. Thế là tròn một trăm năm ở cõi dương gian, cũng gần từng ấy năm cuộc đời của bác phải sống cùng với những khổ đau giấu kín trong lòng. Giờ bác ra đi cũng phải âm thầm mang theo. Bác mong được gặp anh Sông lần cuối thế mà không được toại nguyện. Nhưng có phải bác muốn gặp anh Sông để nói hết sự thực về thân phận của anh ấy? Không phải đâu, nếu muốn nói thì bác đã nói lâu rồi, chứ chẳng phải chờ đến ngày này. Có nói ra thì người khổ tâm nhất lại là anh em, con cháu thực của chi họ chúng tôi chứ đâu phải là anh Sông. Bác biết điều đó lắm. Cả cuộc đời bác đã chịu đựng nỗi đau cuộc đời một mình thì giờ đây bác ra đi một mình thế mới là ý nguyện của bác. Bác mong gặp anh ấy chỉ là nỗi sót xa trần ai bỗng chốc bùng phát ra mà thôi. Gặp để mà thấy cuộc đời của mình thật chua sót, để ngậm thêm trái đắng làm vui. Chỉ có mình tôi biết, anh Sông là ai. Tại sao bác chỉ kể cho mình tôi? Phải chăng bác biết được, những người viết văn hay viết về thân phận của mỗi con người trong trần thế này mà muốn chia xẻ với tôi để tìm sự đồng cảm. Quả thực, lúc đầu nghe câu chuyện bác kể lại, tôi cũng sót xa cho chi họ nhà tôi. Từ ngày có anh Sông, gia đình chúng đã xảy ra biết bao biến cố, tai ương. Chúng tôi, những người sinh sau đẻ muộn cũng không phải không gặp những trắc trở và từ đó tôi suy diễn từ những chuyện, anh em, con cháu ly tán, người thì đành chấp nhận nghèo hèn nhưng lại không an phận nên sinh ra việc mấy đứa cháu đánh nhau đến trọng thương, mang tật suốt đời, có những đứa không chịu hơn thiệt trong làm ăn dẫn đến chuyện từ mặt nhau, còn những ai muốn vươn lên lại phải gặp nhiều bất trắc, chẳng thể làm nổi việc gì to tát để có được một vị trí  cao trong ngay cả ở trong cái làng Trằm nhỏ bé này thôi chứ nói gì tới toàn xã hội. Tôi cho rằng, nghiệt chướng chăng? Nếu bác Nhụ khi ấy kìm được lòng dục của mình thì liệu rồi gia đình tôi có phải chịu những chuyện sau này? Và những đứa em, đứa cháu trong chi họ nhà tôi, biết nhường nhịn nhau thì đâu có những cảnh đau lòng. Tất cả chỉ là dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi.
Cúng ba ngày bác Nhụ xong, tôi phải từ giã quê để trở về nơi chốn tôi đã sinh ra và trưởng thành đến ngày nay. Tôi muốn nếm thêm vị đắng của đời, xem lòng mình có thể chịu được đến đâu. Trên con đường mới, hôm về tôi đã đi từ đầu làng Chuông tới đình, giờ ra đi tôi sẽ đi tiếp từ đình qua bên Thuận Thanh để xem lòng mình còn xót xa. Tôi biết vì sao cô Thư lại nói “cả làng này chỉ còn có mình tao” là lý do gì rồi. Duy chỉ có thằng Hoà là người thứ hai phản đối việc tay Trường vào Đảng, thế nhưng nó lại là người ủng hộ mở thêm con đường này, xét chung lại thì có phải làng này chỉ còn có mình cô Thư là đúng sao. Bà cô tám mươi tuổi của tôi còn khoẻ lắm, con đường lổng chổng những mô những đống thế mà vẫn đi băng băng chẳng phải nhờ tới tôi giúp.
- Chỉ còn mình cô ở làng thế cô không sợ chúng nó dã tâm à? Lần sau nó không đẩy xuống ao nữa đâu mà sẽ tàn bạo hơn nữa đấy.
Tôi nói cho vơi nỗi xót xa mỗi khi nhìn ra xung quanh gặp toàn những cảnh đào xới bới lộn tơi bời nhưng cũng là nói ra nỗi lo thực sự cho cô tôi. Anh em cô giờ đây chỉ còn có mình cô trên đời. Cô có cảm thấy cô độc, có cảm thấy buồn tủi gì không!
- Mẹ cha nhà anh, anh lại phải lo cho tôi. Ma còn chẳng dìm được tôi nữa là. Tôi còn phải sống hơn một trăm tuổi chứ bà Sông chết còn sớm đấy anh ạ.
Tôi không còn nhận ra cảnh vật xung quanh, chỉ vào con mương lạ hỏi cô Thư:
- Con mương này mới đào à cô?
- Mương nào, cha bố nhà anh, tại anh năng về quê quá cho nên không còn nhận ra đâu vào đâu nữa, chả thế hôm về đứng giữa làng mình còn hỏi đường về làng mình lối nào. Sông Vàng đấy.
- Sao lại là sông Vàng!?
Tôi ngơ ngác nhìn quanh xác định lại vị trí đang đứng của tôi. Đúng là sông Vàng thật. Nhưng sao lại bị ngăn làm hai thế này.
- Thế này là thế nào hả cô?!
- Thì bên Thuận Thanh họ đòi chia. Sông của họ thì họ dùng, sông làng mình thì làng mình dùng. Mất khối công đắp bờ.
Tôi lặng lẽ đi về phía mộ cụ tôi. Ngày xưa mộ cụ được nằm bên bờ dòng sông đầy ăm ắp nước mát lạnh. Dòng sông cụ tôi đã phải đổi cả tính mạng mới khơi lên được. Thế mà đến giờ, dòng sông chỉ còn là con mương thì thử hỏi, cụ ơi cụ dưới ấy có hài lòng. Ngày xưa, mộ cụ được hàng xà cừ xoà bóng che mát thì giờ đây đến ngọn cỏ cũng bị bàn chân con người và cái nắng như thiêu như đốt dày vò đến xém đỏ, lơ phơ vài cọng trồi chụt nhô lên. Tôi đưa mắt tìm cầu đá. Cầu đá ở đâu. Thôi, chẳng phải nhọc công, dòng sông đã mất thì cầu còn có tác dụng gì.
Tôi nhìn vào ánh mắt hướng về xa xăm của cô Thư để tìm được người chia xẻ giọt đắng với tôi. Người già đâu có còn thể hiện được được tình cảm của mình bằng ánh mắt nữa đâu. Bên khoé mắt của cô đọng hai giọt nước mắt đặc quánh như giọt keo.

                                                                                     Tháng 10 năm 2007


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét