Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

TIỂU THUYẾT "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP" (Phần 3)

PHẦN BA

CHỢ TAN - NHÀ TAN

- CÓ ĐƯỢC TRẬN MƯA QUÝ QUÁ, VONG CỦA CỤ THẾ LÀ MÁT MẺ!
Khi chiếc quan tài của cụ tổng cất lên vai những trai đinh thì hạt mưa đầu tiên sau hơn một tháng hè khô hạn bay xuống đậu vào bát hương, làm toé những hạt gạo ra ngoài khiến mọi người dừng lại, ngỡ ngàng nhìn lên giời. Những đám mây đen từ đằng Đông đang xô đẩy nhau chiếm chỗ trên bầu trời. Trong lòng mọi người hỉ hả, ánh mắt âm thầm giấu niềm vui.
- Thế là dưới ấy cụ cũng mừng, cụ phù trợ cho làng được cơn mưa. Chả có khi nào sông Vàng lại cạn như năm nay, cụ rùa đội chân cầu Đá cũng thấy khát. Hình như có ai nói nhìn thấy cụ rùa cất cổ lên. Nói thế là nói xằng, tôi thì tôi thấy vân đá trên lưng cụ có chỗ bị rạn, do nóng quá đấy mà.
- Này chú Sơn, chúng tôi có ý kiến thế này, cho chúng tôi được treo cờ đỏ sao vàng lên đầu ngõ. Chú để chúng tôi giải thích. Trước nhất, đây là tấm lòng của huyện uỷ kính dâng lên công đức của cụ. Thứ nữa, nhà chú có ba anh em giai, anh cả bí thư chi bộ, anh hai phụ trách giao thông huyện. Còn chú, mới mười chín đã bí thư Việt Minh liên xã. Vậy sao ta không khuyếch trương lên với làng nước. Thứ nữa, nói nhỏ với chú, cái mặt nhà lý Ngà có cắm xuống bùn cũng không hết giơ, thời buổi này đố dám ra đường, ta phô trương đây là phô trương sức mạnh. Chú thấy ý kiến của tôi có xác đáng không?
- Vâng, lý là như vậy, còn tình với cụ nhà em thì các bác thông cảm. Cụ em không nói ra nhưng làng xã ai cũng biết sinh thời cụ em sống thế nào, vậy khi thác cũng thế thôi, giờ làm vậy đâu có hợp. Và cụ em dặn, không báo tin cho ai cả, không kèn trống, điếu phúng gì, ở đời cụ không muốn làm phiền ai thì khi nhắm mắt xuôi tay cũng đừng để ai vất vả vì cụ. Thế mà ....!
Những hạt mưa lắc rắc rơi xuống, những đốm nước nở bung trên mặt đường, ông giời đang rải hoa xuống đám đưa cụ tổng ra đồng. Chiếc quan tài đỏ rực như ngọn lửa trong buổi sớm xám xanh của cơn mưa sắp đến. Chiếc quan tài ra đến đầu cánh Thỏ mà dòng người đưa đám còn ở giữa làng. Tiếng kèn ò e lan dài như sợi lại mềm thắt buộc đau thương trong lòng người, tiếng trống bung bung thay cho tiếng nấc nghẹn ngào, đoàn người âm thầm nối chân nhau. Không một giọt nước mắt, không kêu gào thảm thiết, cụ tổng mong thế và nay đã toại nguyện.
- Đến giờ hạ huyệt rồi! Thằng cu Sông đâu, đứng lên đầu đây để vái cụ lần cuối đi nào!
Đến lúc này tiếng khóc của bà Sông mới bật lên thảm thiết:
- Ới thầy ơi ....! Con dâu bất hiếu, con dâu vô đạo, u con con đã làm nhơ nhuốc cả nhà, mặt mũi nào dám đứng trước vong linh của thầy! Thằng cu Sông đâu, mày có vùi mặt xuống bùn đi không! Còn dám đứng gần đây tao đâm đầu xuống huyệt mà chết đi mới hết cái nhớp nhơ này!
- Bà không được thế, nó có gây nên tội nên tình gì thì nó vẫn là cháu trưởng của ông cụ!
- Tôi lạy các ông, tôi van các bà, đừng bắt cháu nó đứng lên trên mà phải tội với vong linh cụ! Chỉ có giời mới hiểu lòng tôi thôi!
Bà Sông vùi mặt xuống bùn, vò đầu bứt tóc, hai bàn tay ngửa lên giời mong giời đừng bắt tội, hai bàn tay đập xuống đất xin con người rộng lòng tha thứ, bà ôm bụng lăn lộn cầu xin vong linh cụ tổng là người thấu hiểu kiếp người mà gia ân cho bà. Lẽ ra bà đã phải chết từ lâu, thế nhưng vì cái nghiệt chướng kia bắt bà phải sống để mà cưu mang nó. Dù sao nó cũng là một con người. Ấy vậy nó có sống cho ra một con người đâu. Bà chết được bây giờ thì quả cuộc đời bà còn có phúc, thế nhưng nó lại bắt bà sống thêm để mà đầy ải, để được hành hạ, bắt bà phải sống trong ô nhục.
Khi mai đất đầu tiên rơi xuống nắp quan tài cụ tổng là lúc con dân làng Trằm đón những sợi mưa giăng mành phủ kín trần gian. Cánh tay anh cu Veo tuy khòng khoèo nhưng lưỡi mai xỉa xuống đất thình thịch có kém gì tiếng sấm ùng ục vần vũ trên kia. Anh cu có khóc đâu mà sao những dòng nước tràn từ trên mặt xuống, trôi vào miệng thấy mằn mặn, chát xít. Nào cứ phải cho được đồng tiền bát gạo mới là thương, ở làng này đã có ai dám ngồi uống chén nước ở nhà anh cu, thế mà cái đận bị nóng sốt nẩy đom đóm mắt ấy cụ tổng đã cất công tìm lá lảu xắc cho uống lại còn mấy đêm liền cụ thức để trông chừng nhỡ có bị co giật gì còn kịp thời chữa trị. Ấy vậy khi đến viếng định kêu gào cho tỏ tấm lòng mà mọi người không cho, giờ thì mưa gió thế này sao không kêu khóc vài nhời cho hả.
Được những giọt nước mưa trong mát còn hơn nước ao đình ve vuốt thân thể, con dân làng Trằm không muốn về, đứng vây tròn quanh mộ cụ tổng để tận hưởng.
Mọi người phải mang đòn võng ra võng bà Sông về. Sống áo chỉ còn vài manh te tua bị bùn đất dính bết vào người, bà nằm oặt trên võng, hơi thở thoi thóp. Nghe thấy mọi người giục nhau đi nhanh chân, khéo không lại nguy thì bà ngồi bật dậy ngay đơ trên võng.
- Mong chết mà không được, sao số tôi khổ thế!
 Bà không khóc được nữa. Mọi người chỉ thấy đôi mắt trắng lộn trên bộ mặt đen nhẻm bùn đất, láo liên nhìn quanh lại cho rằng bà bị ma nhập, giục ông Diệc đi mời thầy Hay về cúng. Bà còn đủ tỉnh táo, biết mình đâu có bị ma nhập. Bà đang nghĩ về thằng cu Sông, tìm xem nó ở đâu mà trông chừng, kẻo rồi trong đám nó lại vênh vang rằng mình là trưởng họ để làm những điều không ra gì nữa thì ....
Thì bà không phải lo chuyện ấy xảy ra, thằng cu Sông bây giờ biết tự mình xoay xở kiếm tiền rồi. Tối qua nghe được mấy chú huyện uỷ nói chuyện, lính Tây đã chiếm lại Cẩm Giang, sáng nay sẽ hành quân qua Thuận Thanh để sang Bắc Ninh, thế mà nhà có đám lại chẳng được sang xem, thế mới ức. Đưa đám sao mà lề dề thế, lại tiếng kèn ò e đưa đẩy khiến người ta dùng dằng theo, cứ như dòng nước đang chảy xuôi thì bị nghẽn dào lại. Thằng Sông thấy lòng nóng như lửa đốt, có lúc nó đi nhanh vượt lên trước để mọi người thấy vậy mà rảo chân lên. Sao việc không nhanh chóng cho xong để còn đi sang Vàng, giờ này chắc trương Bân cũng đang ngóng chờ lắm. Từ ngày về hẳn làng, cu Sông mới nhận thấy trương Bân là người trọng tình trọng nghĩa, chứ đâu có phải hạng ba bửa, người ta chỉ đặt điều. Khi thấy mọi người gọi đứng lên đầu, rồi tiếng u gào khóc thảm thiết, thằng Sông mới cảm nhận được sự chờn chợn trong một đám đưa ma mà nó là người có trọng trách cao nhất. Thằng Sông nhìn trước nhìn sau, hình như có con mắt đỏ đòng đọc nhưng lạnh buốt đang đứng đâu đây nhìn mình đe doạ. Thằng Sông lùi dần về phía sau. Thấy không ai để ý tới, thằng Sông rẽ vào nấp sau bụi tre, chờ người cuối cùng đi khuất hẳn rồi chạy hộc tốc sang bên Vàng.
- Nhà đang đám thế mà mày cũng sang cơ à?
Trương Bân từ trong quán của bà Chạp bước ra túm áo thằng Sông kéo lại. Đang ngẩn ngơ nhìn quanh, bất ngờ bị túm áo kéo lại rồi tiếng trương Bân ồ ồ phía sau khiến thằng Sông giật mình, mặt xanh như đít nhái.
- Tổ cha mày, mới thế mà đã rúm người lại, loại mày chỉ bám váy con u già. Ngày xưa tao thèm u mày rỏ rãi nhưng nể lý Ngang nên chả dám. Nhưng mới đấy mà bây giờ thấy u mày, có nhẽ già như tao đây cũng xin vái cả nón, sao mà già mà xấu thế, chả trách thầy mày chán chẳng ỏ ê tới. Vào đây uống chén rượu cho ấm người đã, bỗng dưng mưa gió ầm ầm thế này đã chắc gì bọn nó hành quân.
- Thế bọn nó chưa qua cơ à? Làm ông đâm quáng đâm quàng, không kịp mang áo tơi, ướt hết. Rót cho bát rượu bà Chạp, nướng cái bánh đa ăn cho đỡ đói!
Bà Chạp không lạ gì kiểu uống rượu của thằng Sông, cứ phải một hơi đến cháy cổ mới đã. Ngày nào nó chả ra ngồi quán của bà cho tới tối mịt. Từ ngày rừng Vàng bị phát quang, lại có con đường từ Cẩm Giang sang Bắc Ninh chạy ngang qua, mấy người làng Thuận Thanh cất quán bán bát nước cho người bộ hành, thế rồi lâu ngày thành chợ. Chỉ mấy cái quán lụp sụp, dăm ba bà bầy cái mẹt rau, thịt có gì mà thằng Sông cả ngày ngồi nhìn như đần như dại, rượu chảy vãi ướt cả ngực áo, chẳng biết suy tính điều gì.
Thằng Sông vào quán cởi áo vắt kiệt nước rồi phơi lên sào trên bếp cho khô, bưng bát con gà đầy rượu uống một hơi cạn. Đích thị là rượu làng Vân, chẩy ngòn ngọt nơi cuống họng thế mới đã khát, hơi men phả lên mũi nồng ấm, ngây ngây. Đâu phải thứ rượu làng Trằm, nhất lại là rượu nhà trương Bân, uống sộc lên mũi cay như ớt Chỉ Thiên. Có nhẽ ngày mới về làng, uống nhiều rượu của nhà trương Bân cho nên giờ uống thứ rượu khác không thấy say, thằng Sông dằn chiếc bát xuống chõng để bà Chạp biết đường mà rót thêm bát nữa. Vừa nhai miếng bánh đa nướng lộc khộc trong mồm, thằng Sông hỏi trương Bân:
- Thế ông ra xem lính Tây làm gì mà cũng có vẻ sốt ruột thế?
Trương Bân đang đứng ngóng ra ngoài trời, quay lại tập tễnh lê chân ngồi xuống ghế, mệt mỏi trả lời:
- Ở làng Trằm đố có ai biết nhiều như tao, nhưng ngày tao đi lính chỉ cắc bọp mấy khẩu súng han rỉ, nghe nói lần này lính Tây quay lại mang theo nhiều súng lạ lắm, tao ra xem thế nào, có thể thó một khẩu về dùng thử cho đã đời.
- Ông chỉ rặt làm đồ võ biền, làm thằng lính gác cổng quan huyện có cái thước cắp nách cũng thích làm oai! - Thằng Sông nhìn trương Bân tỏ ra khinh miệt.
Trương Bân nhìn thái độ của thằng Sông thấy mình bị xúc phạm, nổi xung, tay nhăm nhe chiếc điếu cày:
- Mẹ bố mày, ở làng này chỉ có lý Ngang ngày xưa mới dám vỗ mặt tao thôi nhá! Mà mày dám.... Này, hay là mày là con lý Ngang, nghi lắm, càng lớn tao trông mày càng thấy giống.
- Giống ai!?
- Giống lý Ngang ngày xưa chứ ai, từ dáng đi còng còng cái lưng, đến cái nhếch miệng cười. Ngày xưa u mày thế nào qua được mắt tao chắc.
- Thế ông biết gì, nếu ông để cho nhà lý nhận tôi thì ông sẽ uống đến chết không hết rượu. Mà rượu làng Vân chứ không phải chua như dấm của nhà ông đâu.
- Thật nhá! Kìa lính Tây tới rồi kìa!
Mưa đã tạnh từ khi nào. Mặt trời xoà nắng chói chang.
Đúng là lính Tây bây giờ có nhiều súng đẹp thật, chắc là Tôm xông hay xì ten đây, khẩu nào nước thép cũng bóng nhoáng, lấp lánh ánh nắng như gương phản chiếu. Trương Bân mừng quýnh, vội vàng chạy ra, cái miệng xuýt xoa, cái chân tập tễnh húc đổ cả chõng hàng của bà Chạp. Trương Bân hau háu nhìn vào khẩu súng của tên lính dừng lại nhìn về cuối hàng quân. Tên này có nhẽ là chỉ huy, hắn ra hiệu cho đoàn quân dừng lại nghỉ chân. Thật không còn cơ hội nào hơn, khẩu súng bóng đẹp nhất trong đoàn quân ở ngay trước mắt, trương Bân rạp đầu gí sát mắt vào bụng tên chỉ huy để nhìn được tường tận. Đôi mắt hau háu của trương Bân khiến tên chỉ huy cảm kích tháo súng dựng vào gốc cây. Thế là thoả sức ngắm nghía và nếu có cơ hội thì. Thằng oắt Sông đâu không thấy ra.
Cái làng này tối tăm, u muội mãi cũng chỉ tại những kẻ võ dõng đần độn như nhà trương cứ tồn tại mãi. Mấy cái thằng lính trơn ấy có gì mà đã bấn lên, cứ như được gặp ông giời. Khoe đi đây đi đó, biết nhiều thế mà mới nói đến cô đầu đất Hà thành thì tịt mít. Nghe nói cái dạo quan công sứ về, cả làng kéo nhau ra xem, mừng đến nỗi để cho bọn nó kéo xác thầy Quyết đi lúc nào không biết. Đây đã từng đứng cạnh quan toàn quyền ở Đấu Xảo, có ảnh chụp trên báo, thế mà mang về lại bị cái ông cụ sáng nay đưa ra ngoài đồng xé mất, còn mắng là đồ mất gốc. Không biết mình có phải con nhà lý? Nếu phải thì...! Nhìn lão trương kìa, quỳ như chó cạnh khẩu súng, gí mũi vào như đánh hơi. Đây đã đoán được thế nào bọn chúng hành quân qua đây cũng phải nghỉ chân. Tài chưa! Đây ra là để thị sát tình hình, nếu chúng nó dựng đồn gần đây thì gì chứ hốt tiền dễ như chơi. Thằng Sông ngửa cổ uống cạn bát rượu rồi đủng đỉnh đi lại gần tên quan một. Thằng Sông cố nhớ lại những câu tiếng Pháp học mót ngày ở Hà Nội, giơ tay chào:
- Bông - giua!
- Xin chào! - Tên chỉ huy chào lại bằng tiếng Việt.
- Ồ! Ngài nói tiếng An Nam giỏi lắm. Tôi có lời chúc mừng ngài quan một!
Thế ra ngài đây là quan một, quả là thằng Sông biết nhiều, trương Bân đây đã từng đi lính nhưng quả là chưa được gặp sĩ quan Pháp lần nào. Trương Bân nghiêng đầu nhìn lên. Thằng Sông đứng chắn tầm nhìn của tên quan một với khẩu súng, phía sau gốc cây là con mương được che kín bằng những bụi giành giành. Chúng nó nói chuyện gì mà vui vẻ lắm, cười hô hố với nhau. Tên quan một còn quay lưng lại, không chú ý tới khẩu súng. Thật không còn cơ hội nào hơn, trương Bân nhấc khẩu súng lên rồi tụt xuống lòng mương. Cái chân có tập tễnh nhưng không phản bội lại nhà trương, tiếng khoả nước không át được tiếng cười nói của đám lính. Hết đoạn mương, trương Bân nhoài lên bờ, trườn người bò như con rắn sau bờ ruộng. Chỉ một thửa ruộng nữa thôi là tới bụi tre đầu làng Thuận, là thoát.
Cái số nhà trương chẳng ra gì, vừa lúc đó thì tên quan một phát lệnh hành quân tiếp. Nhìn đến súng không thấy đâu, tên quan một hoảng hốt phát lệnh chuẩn bị tác chiến. Bọn lính nằm rạp xuống hai bên vệ đường lách cách lên đạn. Dân chợ Vàng đang vào lúc đông người vừa kéo nhau ra xem lính Tây vừa mua sắm vội chạy dạt vào các quán tránh hoạ bất ương.
Riêng chỉ có thằng Sông bình tĩnh, tay chống nạnh như chẳng có chuyện gì nghiêm trọng. Thằng Sông vỗ vai tên quan một, ra hiệu đứng dậy.
- Ngài nhìn thấy gì kia không?
Tên quan một nhìn theo hướng tay thằng Sông. Một bóng người đang cố trườn sau bờ ruộng, ánh thép của khẩu súng lấp lánh trên lưng. Cả bọn lính đều nhìn thấy, nhất loạt đứng dậy, giương súng lên vai. Và không đợi lệnh của chỉ huy, tất cả đồng loạt nổ súng. Tiếng súng va vào bụi tre đầu làng vọng lại rền rền như tiếng sấm chuyển. Trương Bân vật ngửa người, oằn oại như con rắn bị đập nát phần đầu.
- Đáng khen lắm! - Tên quan một vỗ vai thằng Sông khen ngợi. - Nếu không có ông chắc tôi sẽ bị kỷ luật, đáng được thưởng lắm!
Tên quan một rút ra một tập tiền đưa cho thằng Sông.
- Các ngài thấy không, chỗ này bọn Việt Minh hoạt động nhiều lắm, tại sao các ngài không đóng đồn ở đây!
*
*     *
BÀ THƯ  VƠ ĐỐNG LÁ TRE KHÔ VÀO CHIẾC XẢO, QUÀI  TAY RA SAU ĐẤM LƯNG thùm thụp cho đỡ mỏi. “Rồi không khéo chưa già lưng u đã còng như bà cụ Chanh” Lần nào về thấy bà làm nhiều kêu mỏi lưng là thằng cu Thư lại cằn nhằn. Cái thằng, láu táu nhanh mồm nhanh miệng giống bà nội nó, nhưng đôi mắt đặc biệt giống cha nó, cứ khi có một mình lại nheo nheo đăm chiêu. Rồi chả biết có khổ như cha nó không! Không biết có việc gì mà nửa tháng nay chưa về. Thời buổi loạn lạc này một ngày không biết được tin con là bà lại phấp phỏng lo. Chiều nào bà cũng quét lá khô là để trông ngóng con đường về của cu Thư. Cánh Đỗ rộng ngút tầm mắt. Những người cắt gốc rạ về đun lụi cụi như những con cò mò mẫm trên đồng. Bà ngóng cái dáng đi vội vàng, tất bật của cậu cháu cu Thư. Bà nhìn vầng mặt trời đỏ như cục than đang âm ỉ cháy sau rặng tre bên Thuận, thở dài. Giời đã chẳng chiều lòng người vậy mà đất lại khó đăm đăm. Tháng Năm ông giời đổ mưa xuống lụt lênh lụt láng, ấy vậy đến tháng Mười nước lặn mãi đâu đất chẳng giữ lại lấy giọt nào. Chưa năm nào lại khô hạn như năm nay, đến gốc rạ cũng phải nỏ tơi ra, đám chuột đồng không chịu được nóng chạy nhao vào bờ tre đào tổ. Mọi năm có hạn lắm thì chuôm nhà Duân ở chỗ cao nhất cũng chỉ cạn nửa, thế mà năm nay mấy cái chuôm bên cánh Thỏ chẳng khác vũng trâu đằm.
- Được gánh nặng thế này đến rét chẳng phải lo cái đun bà nhỉ. - Bà Thư chào bà Soi.
Bà Soi đặt gánh rạ xuống, trật nón quạt phần phật.
- Cái đĩ Xoan nhà bà gánh gánh rạ to hơn người đi băng băng, nhà bà có cô em dâu chịu khó thế, thằng cu Sơn cứ yên tâm đi công tác.
-  Vâng, cậu cháu nó đi nửa tháng nay chẳng có tin tức gì là thế nào!
- Ôi dào, có lo cũng chẳng được. Tôi bắt được mớ chuột, bà cầm lấy mấy con về luộc lá chanh, thằng cu Thư có về cho nó ăn. Chuột đói gầy giơ xương, rồi người chẳng biết thế nào đây, đến gốc rạ năm nay cũng bòn hết, liệu có cái gì để mà đun không nữa cơ.
Vết nắng cuối ngày chấp chới như cánh bướm chạy trốn sau bờ tre. Bóng tối nấp trong những tán lá đang đùn đẩy nhau tràn ra chiếm lấy cánh đồng. Cậu cháu thằng cu Thư lại không về. Tiếng con kèng kẹc có nhẽ cũng nóng ruột hay sao mà kêu sớm thế. Bà Thư cúi xuống bưng xảo lá tre đi về. Chết thật sao hôm nay lưng lại đau thế! Xương cốt thế nào, có phân gio gì nặng nhọc đâu mà chưa già đã nhức mỏi. Nhà chỉ có hai mẹ con ... Rõ khổ, sao hôm nay lại chửi sớm thế!
- Quạ đùm! Tổ cha cái con quạ tha gà nhà bà. Bà đổ mồ hôi trên thôi mồ hôi dưới, bà chăm ẵm từ lúc nó còn là quả trứng cho đến giờ mới được bằng chúm cau. Mày tha về cho thằng ông con bà mày xơi, cho thằng thầy con u mày đánh chén hỏi rằng có ngon. Quà, quạ!
Rõ khổ, chả biết nên tội nên tình gì mà bác dâu cả lại giở tính giở nết ra, cứ xẩm tối là chửi một thôi một hồi rồi ngồi thượt ra thở. Cái tội con dại cái mang. Thằng Sông nó có dại thì cũng phải thương lấy đĩ Nụ, đi lấy chồng rồi cứ phải lo việc nhà đẻ, không khéo gia đình nhà người ta lại trách. Nhiều lúc nhìn bác ấy thương lắm, ai dám nghĩ ngày xưa đó lại là người con gái mỏng mày hay hạt, có giọng hát quan họ như rót mật vào lòng người. Từ ngày thầy mất đến giờ, anh em mỗi người mỗi việc, chưa có lúc nào ngồi lại với nhau bàn việc gia đình. Khoé mắt ầng ậng, bà Thư nhìn mê man vào giời chiều.
- Gớm, bác nhìn gì mà mải mê thế, ngày xưa em nghe nói người ta sợ ánh mắt của bác, bây giờ em mới thấy.
Đĩ Xoan đặt gánh rạ xuống, kéo vạt khăn lau mồ hôi, mau miệng hỏi chuyện.
- Bác lại ngóng hai cậu cháu phải không? Em cũng sốt ruột lắm, cả bác cả cũng đi đâu biền biệt chẳng hỏi thăm được.
- Mợ có chửa rồi phải không? - Bà Thư đột ngột hỏi cô em dâu.
- Có nhẽ thế, gần ba tháng rồi không thấy ra.
- Thật rồi chứ có nhẽ gì. Gánh rạ to hơn người thế kia nhỡ sẩy rồi lại khổ. Nhà có hai vợ chồng bòn mót làm gì!? Thế mợ không thấy nghén ngẩm gì à?
- Em chả thấy gì cả. Phải tội bác Sông với bác Du bệnh tật, yếu đau em làm cố cho cả bên ấy, có vất vả gì đâu.
- Đang là con cụ bá sung sướng về làm dâu nhà tôi chắc mợ thấy khổ?
- Bác cứ cả nghĩ.
Giời đã sinh ra cái đĩ Thị cả nghĩ thì giờ là bà Thư thì cũng vậy thôi. Cái đĩ Thị ngày nào chỉ thích thui thủi một mình thì giờ là bà Thư vẫn là lẻ loi. Nắm lá khô cháy xèo xèo như mỡ sôi. Ngọn lửa ngả nghiêng, hắt cái bóng của bà choán lên hết mảnh sân nhỏ. Nồi nước réo sôi ình ịch. Bà Thư dụi bếp rồi bưng nồi nước ra cạnh bể. Pha thêm ít nước nguội, nếu nhúng luôn vào thì con chuột lột hết da. Bà biết thằng cu Thư chưa ăn thịt chuột bao giờ nhưng nó cũng là dân làng Trằm, biết đâu bây giờ lại thích ăn thì sao, bà Soi đã cho thì mang về làm thử. Bà vớt hai con chuột, đặt xuống nền sân, dùng  ngón tay cái miết thật mạnh xuống lớp lông. Lần da chuột trắng ởn chạy theo lần tay miết của bà. Con này chắc kiếm được cái ăn nên béo lẳn, mặt da căng mịn. Mắt bà còn tinh, từng cái lông nhỏ bám vào cạnh hàm con chuột vẫn nhìn rõ, phải làm sạch đến khi thui thịt không bị khét. Bà Thư rút nắm rơm, thổi lửa thui chuột. Bà xoay trở cho lớp da chuột vàng đều. Mổ thịt, moi sạch ruột gan, nhồi ít lá chanh vào trong rồi bắc lên nồi luộc. Mùi thịt chuột bốc lên ngai ngái như thịt trâu luộc, ăn ngọt như thịt gà, ngon thế mà thằng Thư lần nào thấy bà ăn cũng nhăn mặt kêu kinh. Nó còn cấm bà ăn. Nó không phải dân làng Trằm chắc.
- U ơi!
Giời phật ơi, thằng cu này thiêng thế, hôm nay cứ nhắc tới khiến nó nóng ruột phải về đây. Giống thằng cậu nó, chưa về tới cổng đã gọi toáng lên. Bà dụi lửa, lật bật ra mở cổng.
- U đun nấu gì mà muộn thế? Giời ơi lại thịt chuột, con đã bảo bao nhiêu lần rồi, đừng ăn thịt chuột, kinh lắm!
- Cha bố anh, anh không ăn thì để người khác ăn. Tưởng anh không về, tôi không thổi nấu gì đâu, chỉ có thịt chuột không ăn thì cho anh nhịn. Thế cậu Sơn có về cùng không?
Nói dằn dỗi vậy chứ làm sao để cho nó đói được, bà Thư với cái rá trên gác bếp đi đong gạo.
- Không phải thổi cơm đâu, u. Con ăn rồi, còn nắm xôi đỗ đen, có cả thịt gà u ăn luôn đi. Vứt thịt chuột đi, u không được ăn đâu đấy. Con đi đây, cậu Sơn tạt qua nhà trước giờ chắc đang đợi con!
Cu Thư định đi luôn nhưng vừa bước ra tới cổng thì thằng cu Sông đứng chắn lù lù giữa cửa. Hơi thở phả ra sặc mùi rượu, cu Sông lè nhè:
- Nhà có mấy ông đàn ông chỉ biết làm cái việc vác tù và hàng tổng, làng này mấy đời chưa có mõ đến nay riêng nhà này có ba mõ.
Cu Thư trừng mắt tức giận.
- Anh học được ở đâu câu nói ấy, cẩn thận không thì ...!
Bà Thư chạy lại can:
- Hai anh em chúng mày chẳng gần nhau được lúc nào. Thằng Sông vào đây, có ăn thịt chuột thì ngồi xuống đây.
Cu Thư vùng vằng đi ra. Còn thằng Sông không phải đợi để mời đến câu thứ hai, ngồi thụp xuống bếp gắp hai con chuột còn nóng hổi ra rổ. Không để chờ nguội, cu Sông cầm hai chân xé con chuột thành hai mảnh. Tiếng xương ròn rau ráu trong miệng, cu Sông vừa xuýt xoa thổi nguội vừa ấp ứ nói:
- Cô làm thịt thế nào mà ngon thế! Giá kể được rỗi rãi, tìm be rượu nữa thì cháu ngồi tới sáng.
- Anh thì lúc nào chả bận. Mà đừng uống rượu nữa, thầy thì ù đầu vào việc làng việc xã, còn con cứ cầm cái chai ngật ngưỡng lê la hết nhà nọ tới nhà kia, có hôm ngã dụi vào bụi tre ngủ đến nỗi để cho kiến bò lên người cắn mà vẫn không biết gì, hôm ấy không có tôi thì kiến khiêng anh xuống lỗ rồi. Còn ra thể thống gì nữa không hả, anh cũng phải có suy nghĩ chứ!
- Cô lắm nhời giống u cháu, ăn mất ngon, cháu đi đây!
Thằng Sông cầm nốt nửa con chuột trong rổ rồi làm bộ giận dỗi, quày quả bỏ đi.
- Này, ngồi xuống cô bảo đã!
Bà Thư gọi thế nhưng cu Sông cũng không thèm quay đầu lại thưa. Khi nãy ngánh tai sang nhà chú Sơn nghe thấy mấy người nói tối nay có buổi họp ở đình, cu Sông bỏ dở bữa cơm, tất tả đi ngay. Hệ trọng hay không cứ có tin mới cho nhà lý biết thể nào cũng có bữa rượu no say. Nhưng việc gì thì việc, mùi thịt chuột luộc từ nhà cô Thư thì không thể bỏ qua. Nhà gì mà bé như cái miếu, qua cổng không khéo cục đầu vào mái. Thằng Sông chưa lần nào dám vào hẳn trong nhà, tối om om, nhìn lên điện thờ le lói ánh thếp vàng hắt xuống hãi đến nghẹn thở, cứ như bị bóp cổ. Rởm đời, đi đây đi đó theo Việt Minh được ít ngày đã khinh khỉnh, nhăn mặt chê thịt chuột y như mấy đứa học trò trường Bưởi. Đây đã mấy năm học ở đấy, danh giá thử hỏi cả cái tổng này đã có đứa nào được bước chân tới cổng trường ấy.
“Mẹ cha cái xương răm, giắt tận sâu thế bố ai mà moi ra được”, thằng Sông ngửa mặt, cho ngón tay vào trong miệng cậy răng, vừa lụng bụng chửi vừa đi. Đến khi mặt va sầm vào cánh cửa, nổ đom đóm mắt thằng Sông mới nhìn lại, không biết bàn chân đã đưa đẩy mình đi theo lối nào.
- Tiên nhân cha đứa nào đập cổng rầm rầm thế hả!
Sư cha mụ đĩ Sung! Mụ ta lần nào thấy mình đến cổng là chửi bóng chửi gió. Mắc mớ cớ đời gì đến mụ, có quyền gì mà ngăn cấm không cho người ta đến. Mỗi lần ông đến đều mang cái lợi đến cho còn không biết điều. Thầy ông đang là chủ tịch uỷ ban kháng chiến xã, to gấp vạn lần cái chức lý trưởng của chồng mụ ngày xưa. Hết thời rồi nhá! Mà sao cứ như ma dẫn, rõ ràng mình rẽ vào ngõ nhà Tráng đi cho gần cơ mà, bây giờ lại đứng trước cổng nhà lý. Lý Ngà ngồi ở chõng giữa sân vừa xỉa răng vừa uống nước xoàn xoạt. Rõ ràng ông ta vừa ngó ra cổng thế mà thấy mình là quay đi dửng dưng như không biết gì. Cái đồ bất nhân, mỗi khi cần là rượu đổ hàng bát cho uống để moi tin ở chính quyền có việc gì, thế mà khi không thì lại coi người ta chẳng ra con chó gì. Cũng may là nhà trương chết rồi chứ không cái chuyện có khi có thật ấy để cho lý Ngà biết thì còn nhiều việc rắc rối, có khi mình chẳng được là con chủ tịch. Kệ cha nhà chúng nó, lần này ra đình biết được chuyện gì thì có mang cả chum rượu ra đổi đây cũng chẳng thèm.
Từ trưa chưa được chén rượu nào, nuốt miếng nước bọt thấy nhớt đắng cuống họng, bước chân đi không thấy loạc choạc nhưng đầu gối chỉ chực khuỵ xuống, đầu óc váng vất chứ không được tỉnh táo như khi được vài hớp. Hôm nay là mồng mấy mà sao giời tối đen như thui thế này, không khéo lại bị ma dẫn về trước cửa nhà lý. Chả biết con ma lý Ngang có lần nào trêu người, chứ như các bà đi đêm chẳng bao giờ dám qua cánh đồng Đỗ. Lý Ngang sang cát từ tám hoánh rồi nhưng các bà ở tuổi u thằng Sông bảo rằng cỏ ở gần mộ cứ trơn nhẫy như da lươn. Có khi các bà đều bị lý Ngang trườn lên người rồi nên mới nói thế. Thằng Sông cũng biết bởi nhà trương hay đem chuyện này ra tếu táo làm vui.
“Từ trưa tới giờ chưa được hớp nào mà sao mắt cứ mờ như kéo màng thế này” Cu Sông cằn nhằn, tay quờ quạng tìm đường như người mù. “Gớm, mẹ cha búi tre nhà nào thòi lòi ra giữa đường thế này, tí nữa cào vào mắt thì chỉ có mù!” - Cu Sông bực tức đứng lại nhìn cho rõ xem là của nhà nào để chửi cho bõ tức. Chưa kịp nhìn ra vật gì để xác định đống này là đâu thì tiếng chó gầm gừ đe doạ ngay cạnh khiến cu Sông giật thót người, ngồi thụp xuống vơ tay tìm cục đất để ném. Con chó chạy lùi lại sủa ông ổng, hai con mắt đỏ lòm như hai cục than.
- Mẹ cha nhà thằng cu Chiêm, để chó cắn ông thì cả họ nhà mày chết dấp chết dúi bụi tre nhá!  - Cu Sông nhận ra con chó nhà ai, chõ mồm vào trong nhà người ta chửi.
- Cả họ là có cả thằng Sông “say” cháu cụ tổng nữa đấy!
“Cái thằng đáo để thật, mình lỡ mồm, đứng trước cổng nhà trưởng tộc họ Nguyễn chửi thì có khác gì mình chửi mình!” - Cu Sông hềnh hệch cười, thấy vui vui vì thói quen mồm chửi vừa rồi. Đến đây là sắp tới đình rồi, có nhắm mắt mà đi cũng tới, con ma nhà lý chẳng thể dẫn sai đường được nữa. Trong lòng đang khấp khởi niềm vui thì cu Sông giật mình vì tiếng quát ngay trước mặt.
- Đứng lại! Ai?
“Thì ra là thằng Soi, cái thằng hỗn, dám quát anh”. Cu Sông ra giọng chảnh choẹ:
- Thằng Soi hả, mày quát ai thế!
- Anh Sông, đi đâu đấy?
- Đình có việc, tao ra xin hớp rượu, có việc gì mà làm oách với tao thế?
- Tôi đứng đây gác không cho ai vào đình, anh về đi!
- Bí mật nhỉ, thử hỏi có được cái đình ai là người có công nhất, vả lại thầy tao là chủ tịch còn vẽ chuyện với tao nữa à, tao cứ vào đấy!
Cu Soi đứng ra giữa đường cương quyết:
- Không được, anh quay lại đi!
Cu Sông không sợ thằng Soi, nhưng khẩu súng lăm lăm chĩa vào ngực thì phải kiềng. “Tao là dân làng Trằm này thì mày có cấm cũng không nổi” cu Sông khinh khỉnh nhìn cu Soi trong bóng đêm, quay người lại. “Phải là chuyện quan trọng cho nên mới cử người gác, mình không thể không biết. Ra đình chẳng riêng gì lối này”.
Cũng may nhà bà cụ Hướng không nuôi chó nhưng bờ tre gai nhà bà ấy cào khắp người còn đau hơn bị chó cắn. Mồ hôi rịn ra, chảy vào các vết sước sót tê người, thằng Sông cắn răng chịu đựng, nằm im như con mèo rình chuột nhòm qua khe cửa. Thầy thằng Sông mọi ngày nói nhỏ nhẹ thế mà hôm nay giọng sang sảng:
- Các đồng chí nghĩ rằng chúng nó sẽ dân chủ, công bằng ư, nếu có vậy thì nhà lý đã chẳng mấy đời làm lý trưởng ở làng này. Tôi đã một lần đứng ra làm trò đùa để cho nhà lý cười hể hả trước mặt rồi, lần này thì xin nhường người khác, ai đủ khả năng hơn xin mọi người soi xét.
Một người đàn ông đứng tuổi nhất trong những người dự cuộc họp, lần đầu tiên cu Sông mới nhìn thấy, đứng lên chậm rãi nói:
- Đồng chí Diệc không nên vì tự ái cá nhân mà làm hỏng chủ trương của huyện uỷ. Chúng tôi đã rút được nhiều kinh nghiệm trong việc lập tề ở các làng khác, có nơi chúng chỉ định lý trưởng, có nơi bỏ phiếu là cách để lấy lòng dân nhưng kết quả thế nào thì dân có được kiểm phiếu đâu mà biết, trong khi đó hội đồng hương hào kỳ mục lại hưởng bổng lộc của chúng. Với làng mình có khác, về mặt địa lý thì một ngôi làng nhỏ nằm chon hon đơn lẻ như một ốc đảo, không thuận về giao thông, không án ngữ những hành lang quân sự quan trọng thì chủ trương lập tề chỉ là để thống nhất vào sự quản lý của nhà nước, có vậy đến giờ chúng mới đụng tới. Và với chỉ dăm chục nóc nhà cùng những con người nghèo đói dễ sai khiến này thì đè bẹp lúc nào chả được cho nên chúng không bận tâm đến làm gì. Nhưng chủ trương của chúng ta thì các đồng chí biết rồi, dân nào cũng là dân nước Nam mình cả, một tấc đất chúng ta giữ được cũng đủ làm cơ sở cách mạng lâu dài, đồng chí Diệc ra tranh chức lý trưởng nếu thắng lợi thì sẽ tạo đà phấn khởi trong lòng dân để công cuộc đấu tranh của chúng ta có hướng phát triển mới. Với uy tín của gia đình, với công lao của đồng chí đã đóng góp cho làng trong mấy năm qua thì ngoài đồng chí ra còn ai đảm nhiệm được việc này. Và xin tiết lộ để các đồng chí yên tâm là huyện uỷ đã ra nghị quyết thì cũng đề ra những biện pháp cụ thể để chúng ta giành thắng lợi.
Thầy im lặng tức là đã đồng ý, lần trước thế nào thì không biết nhưng lần này nhất định thầy sẽ thắng được nhà lý, nhà mình sẽ có người làm lý trưởng, thằng cu Sông sướng ran người vừa bò lùi lại vừa nghĩ tới phải có bữa rượu thì mới tưng bừng. Về nhà đợi thầy, hai cha con sẽ cùng nhau uống chén rượu mừng. Lần đầu tiên thằng cu Sông nghĩ tới việc được ngồi cạnh người cha của mình. Chỉ còn nửa chai rượu, thế cũng đủ rồi, cu Sông rót ra một chén con, nhấp môi cho đỡ thèm, cố nhịn chờ thầy về.
Càng đợi càng không thấy thầy về, cu Sông sốt ruột hết ra ngóng lên giời rồi lại trở vào khêu to bấc đèn. Chai rượu dở cũng đã cạn nhẵn mà tuyệt nhiên không một tiếng bước chân nào rậm rịch đầu cổng.
- Canh ba rồi còn ngồi đấy làm gì, giờ này có còn ai đến uống rượu với mày nữa mà mong? - Bà Sông nằm trong buồng hỏi vọng ra.
- Gớm, được một lần u nhắc con! Sốt hết cả ruột đây này, giờ này còn họp hành gì nữa mà sao thầy không thấy về, cả nhà chú Sơn nữa cũng chửa thấy là sao!?
- Anh hôm nay lại nhớ tới thầy anh cơ đấy. - Bà Sông đi ra, trong lòng băn khoăn không biết có việc gì mà thằng cu Sông lại mong thầy nó.
Thấy u đi ra, rồi sẽ lại lải nhải đến điếc tai đây, cu Sông đứng dậy đi ra ngoài ngõ. Giời không có lấy một chút gió, bờ tre đứng rũ rĩ như con gà rù đương ngắc ngoải. Những giọt mồ hôi lăn dài trên má, nhỏ giọt xuống ngực, thấm vào những vết gai tre cào sót như sát muối, cu Sông cởi áo dấm xuống ao để lau người. Phải đi ra đình xem sự thể thế nào. Tiện thể qua nhà lý Ngà, dù gì ông ta cũng là người ra tranh chức lý trưởng  thì cũng phải có động tĩnh gì chứ.
Cu Sông nhón chân nhìn qua cổng. Lý Ngà nằm ở chõng giữa sân, ngáy ngủ khìn khịt, thỉnh thoảng khua quạt phành phạch để đuổi muỗi. Với ông ta chẳng có chuyện gì quan trọng cả, thế mà sao thầy cùng với mấy ông huyện uỷ lại phải lo lắng căng thẳng thế? Chẳng nhẽ lý Ngà tin chắc sẽ thắng như lần trước nhờ vào thế của quan tri Nghiệp.  Quan tri Nghiệp chết rồi, thế thì bây giờ dựa vào ai? Cu Sông chán nản định quay về thì con chó nhà lý từ sau nhà hồng hộc chạy ra xồ hai chân lên cánh cổng, nhe răng gầm gừ.
- Thằng cu Sông đấy hả! - Tư thế nằm không thay đổi, lý Ngà hỏi như đã biết trước: - Đến thì vào đi, con chó nó quá quen hơi mày rồi làm sao phải nem nép thế. Chó, ra đằng sau!
 Có quen thì cái tiếng chó hiền đến mấy đã ăn cơm nhà lý thì cũng trở nên dữ tợn, chẳng kiêng nể gì ai, đề phòng cẩn thận vẫn hơn, cu Sông rút cây rào tre lăm lăm trong tay. Con chó lũn cũn chạy qua ngửi vào mặt lý Ngà rồi thẳng ra sau vườn. Cu Sông nem nép đi lại, vơ cái chổi lúa kê ngồi xuống đầu chõng. Lúc này lý Ngà mới ngồi dậy, cúi người kéo chiếc giành tích cùng chiếc bát dưới gầm chõng, rót nước mời cu Sông.
- Khuya rồi không uống rượu, uống bát nước chè tươi cho tỉnh. Uống đi! Sao, có chuyện gì mà lần mò đêm hôm thế mày?
- Không ngủ được thì đi loăng quăng. - Cu Sông nói giấu.
- Đi thế người ta không tưởng mày là ma thì cũng là quân đạo chích. Tao biết vì sao rồi, qua thế nào được mắt tao. Vì chuyện ra tranh chức lý trưởng của thầy mày chứ gì. Nói thật với mày, mấy ông Việt Minh không đủ sức giữ được chính quyền nên giở trò đưa người ra tranh cử, chuyện ấy chẳng loè được ai. Tao không nói tới chuyện thời thế hay lòng dân thế nào, chỉ cần so sánh, ở làng này họ Nguyễn nhà mày được bao người, có hơn được họ Vũ nhà tao không, đấy còn chưa kể những đứa họ Nguyễn thích uống rượu của tao như mày. Này, tao đố mày không bỏ phiếu cho tao đấy!
Mặt lý Ngang đanh lại, đôi mắt đỏ sọng như mắt con chó nhà cu Chuyên khi tối, giọng nói đầy hăm doạ khiến cu Sông hoảng sợ ngồi co người lại. Cu Sông ân hận, giời xui đất khiến thế nào lại dẫn xác đến cho lý Ngà xỉ vả. Ông ta nói vậy là đã có chủ kiến để áp chế mình, khiến mình hoảng sợ mà bỏ phiếu cho.
- Nắn gân mày tí thôi mà sao đã hoảng thế. - Lý Ngà dịu giọng, vỗ vai cu Sông tỏ thái độ thân mật: - Làm sao mà mày dám bỏ phiếu cho tao, nhưng tao cũng đếch cần, không làm lý trưởng thì nhà tao cũng chẳng chết đói.
Cu Sông ngồi thần thừ. Chẳng biết lòng dạ nhà lý thế nào. Tiếng gà gáy râm ran. Một vệt sáng rạch ngang đường chân trời. Tiếng bước chân thậm thịch qua ngõ, đòn gánh va vào nhau lách cách. Hôm nay phiên chợ Vàng. Có đi chợ thôi mà cũng vội vàng, tiếng líu ríu nói chuyện trong hơi thở gấp bay qua trước cổng nhà lý như bị giớ thổi cuốn đi. Đúng là cái số dân làng Trằm phải vất vả.
*
*     *
NHỮNG TIẾNG NỔ LỐP ĐỐP NHƯ TIẾNG CHÁY RỪNG DẠO NÀO TỪ PHÍA CHỢ VÀNG vọng về khiến cả làng Trằm giật mình tỉnh giấc, kéo nhau ra đứng nhìn ngơ ngác qua bờ tre. Mới sớm tinh mơ mà đã có chuỵên gì thế? Người ta ngái ngủ hỏi sang nhà nhau. Một loạt tiếng nổ cành cành giòn giã vang lên, tiếng vọng loang kín cánh đồng. Lần này thì rõ ràng là tiếng súng. Nhưng sao lại là tiếng súng? Loạn à?
- Tiếng súng xten của lính Tây đấy!
Cu Sông khảng định bởi nó đã tận nghe tiếng súng này rồi. Không phải chỉ một loạt như cái dạo trương Bân bị lính bắn chết, tiếp sau là tiếng cắc bọp thi nhau dội lên, râm ran như muốn phá bung bờ tre bên Thuận.
- Loạn thật rồi! Có phải người làng mình đang chạy về kia không!?
Mọi người đổ ra đầu làng nhìn theo hướng tay chỉ của bà Soi. Những bóng người chạy sấp ngửa qua cầu Đá. Loạn thật rồi!
- Có phải u mày đang chạy kia không? Chạy ra xem sao còn đứng mà nhìn à!
- Đúng cái đĩ nhà tôi rồi, khổ chưa! Có chuyện gì mà chạy để ngã dụi mặt thế hả giời!
Giục nhau là thế nhưng nào ai dám chạy lên xem sao. Tiếng gì rít riu ríu trên ngọn cây thế? Đạn đấy! Về thôi, nhỡ không phải đầu thì cũng phải tai. Giục nhau về nhưng không ai quay về. Còn cố chờ xem ai đang chạy về kia, hỏi cho rõ có chuyện gì.
Người chạy về đầu tiên là cái đĩ Thon nhà Veo. Đĩ Thon tóc tai xoã xượi, vừa chạy vừa gào thảm khốc:
- Chạy đi các ông, các bà ơi! Lính Tây về đấy! Ối giời ơi, chúng nó bắn chết bao nhiêu người ở chợ Vàng, đốt hết rồi! Không khéo tí nữa tràn sang cả đây nữa đấy!
Chỉ còn cu Sông còn nấn ná đứng lại nhìn sang bên Thuận. Những lằn khói đen từ phía chợ Vàng chồi lên, vằn vèo như những con đỉa bơi trên bầu trời. Cái thằng chỉ huy nào ngu thế, cu Sông thầm rủa, đã mách đóng đồn ở đống chợ Vàng ấy, có phải là áp chế được hoạt động của Việt Minh vùng này ngay từ đầu không, bây giờ mới mất công dẹp. Cả thầy nữa, từ đêm qua tới giờ chưa thấy tin tức gì, chắc lại chui nhủi ở đâu, nhà ấy có đất làm lý trưởng làng này rồi, tranh giành không khéo mang vạ vào thân. Mà sao cái số nhà ấy sướng thế, cứ ngồi nhà rồi người ta kiệu ra đình trải chiếu cho ngồi. Lại nói về đình, ở làng này ai là người có công gầy dựng nên mái đình, từ đời cụ nhà mình chứ ai, thế mà có ai được ngồi chiếu trên ở giữa đình chưa! Cái số mình vất vả thế này chắc không phải con nhà ấy, cái lão trương Bân làm sao biết được người ta ngủ với nhau thế nào mà nói xằng. Đã bao lần gạn hỏi u rồi, lần nào cũng bị mắng, bị chửi, thậm chí bà ấy còn nổi điên nổi khùng doạ giết chết nếu như cứ còn nhắc đến nữa. Thế thì mình sao phải là dòng giống nhà lý.
Một loạt tiếng riu ríu như có đàn ong khổng lồ bay ngang qua, rồi sau đó những cành xà cừ gẫy tơi tả rơi xuống đầu khiến cu Sông giật mình thoát khỏi những ý nghĩ chán chường về thân phận của mình. Lính tràn sang làng mình kia thật rồi! Những tên lính mặc quân phục màu cỏ úa ngông nghênh kéo nhau qua cầu Đá. Một loạt đạn chát chúa vang lên, những viên đạn bay sạt trên đầu, găm vào thân cây xà cừ nổ bùng bục nhưng cu Sông vẫn đứng nhìn trân trân về phía bọn lính. “Sư cha chúng mày, ông đây đéo sợ!” Câu chửi quen thuộc của trương Bân buột ra từ miệng cu Sông. Một loạt đạn nữa cày tung đất trước mặt đe doạ. Đừng có dại gì ngông cuồng với bọn lính kia, đó là ý thức của sự sinh tồn trong cu Sông nhắc nhở.
Chạy nhưng đừng tưởng đây sợ nhá, cu Sông ngồi phệt xuống hiên hậm hực nhìn ra đầu làng ngóng chừng bọn lính đến đâu. Bà Sông chạy về tru tréo:
- Mày đi đâu hả thằng giời đánh kia, để tao phải đi tìm! Không chạy đi còn ngồi đực ra đấy à!
- Chạy đi đâu, đằng nào cũng có lính, chạy lên giời cũng không thoát!
Một loạt tiếng súng từ bên Chuông dội về minh chứng cho lời nói của cu Sông, không đằng nào là không có lính. Lính từ Cẩm Giang qua Thuận Thanh sang, lính từ bốt cầu Bà Sinh qua Chuông về, còn chạy lối nào nữa. Tiếng người gào gọi nhau thất thanh. Tiếng trẻ con khóc hoảng loạn. Tiếng ai cầu giời, cầu thành hoàng làng phù trợ nghe thảm thiết. Bà Sông ngó qua nhà mợ Sơn thấy đóng cửa, gọi thím Dạ cũng không thấy giả nhời, liền kéo cu Sông vào nhà. Cu Sông hất tay u, vùng vằng:
- U mặc con, từ trước tới giờ u coi con như giặc, cứ để con ngồi ngoài này!
Tiếng bọn lính xì xồ ngay đầu cổng nhà mình, bà Sông lần nữa cố kéo con vào nhưng không được đành bất lực ngồi xuống cạnh.
- Tiên nhân cha nhà mày, mày không là con tao thì tao dỗi hơi nuôi mày đến lớn thế này chắc, mày muốn chết thì tao cũng chết theo!
- U con nhà này gan nhỉ, đúng là nhà Việt Minh nòi.
Đó là giọng giễu cợt của lý Ngà vào theo bước chân dệnh dạng, vẻ mặt vênh vang. Theo sau là tốp lính, súng cặp nách, ngón tay để sẵn trong vòng cò tư thế sẵn sàng nhả đạn. Lý Ngà quay người lại cúi đầu lễ phép thưa với tên quan hai đi sau:
- Dạ bẩm, đây là vợ con của ông Diệc, còn bên kia là nhà ông Sơn, bên này là ông Dạ. - Lý Ngà quay sang nói với bà Sông: - Ngài quan hai đây muốn gặp gia đình nhà bà, biết điều thì phải thưa gửi cho lễ phép, giả nhời cho thành thực.
Tên quan hai bỏ mũ kê pi xuống cầm trên tay, trịnh trọng nói với bà Sông:
- Chắc bà chưa biết tôi, chứ ngày xưa tôi với ông nhà cùng phường buôn chè từ trên Thái về, là chỗ anh em thân tình, thế mà bây giờ mỗi người một chí hướng. Lâu rồi chúng tôi chưa gặp nhau, nhân tiện về qua làng ghé lại hỏi thăm, vậy ông nhà có nhà không thưa bà?
Bà Sông vẫn ngồi nguyên trên bậc hè, buông nhời cấm cẳn:
- Ông ấy đi đâu tôi có bao giờ được biết, về nhà chẳng được câu thăm nom, ông hỏi thế tôi biết giả nhời thế nào cho phải.
- Vậy a, thế thì có lẽ ông ấy đã trúng đạn ở gần cầu Bà Sinh rồi, tôi hỏi vậy nhưng cũng xin phép bà cho lính kiểm tra lại cho chính xác bởi lại có người nói nhìn thấy mấy anh em nhà ông ấy chạy về làng.
Bà Sông đứng bật dậy, hốt hoảng hỏi lại:
- Thật ông ấy chết rồi không?! Từ đêm qua họp ở đình xong có thấy ông ấy về đâu!
- Bà cứ bình tĩnh lại đi, bọn lính không biết là chỗ bạn bè cũ của tôi nên bắn nhầm. Mà bọn chúng cũng không chắc là ông nhà nên tôi muốn xác minh lại.
Cái thằng mặt quắt tai dơi, mắt xếch ngược như lưỡi đao thế kia là cái loại ngửi máu người không thấy tanh còn thơn thớt cái mồm. Vẻ mặt lấc láo, tự đắc của hắn đủ cho bà biết tình hình thế nào. Thế là ông ấy chết thật rồi! Giời sao mà ác thế, lần cuối gặp ông ấy đã hơn ba tháng, thế mà đêm qua về làng không để cho ông ấy về nhà, bà sẽ pha cho ấm trà ngon rồi hãy đi. Không biết ông ấy có biết tội lỗi của bà đã sinh nghiệt chướng cho nhà mà từ ngày có nó lúc nào cũng thấy ông ấy buồn. Nếu ông biết thì sao không nói ra cho nhẹ lòng, để tôi biết đường mà đi cho khuất nẻo. Tôi biết những con người trong gia đình ông đầy lòng trắc ẩn, tại ông nghĩ tội nghiệp cho tôi chứ gì, là đàn bà con gái nhưng tôi cũng đủ biết ông nghĩ gì. Tôi nấn ná ở lại cũng là để trả nợ cho gia đình ông, nhưng càng ở lại thì lại càng mang thêm hoạ. Cái thằng nghiệt chướng đâu rồi, đang loạn lạc thế này mà nó lại đi đâu rồi, mày có về để thu xếp mà đi cho biệt tăm biệt tích hay không! Giời ơi, nó cũng là một con người, không nỡ nào đối xử tệ bạc với nó! Nó về đây bà sẽ quỳ xuống, khóc lóc van xin nó hãy cùng bà đi khỏi làng này. Nhưng trước hết bà muốn được khóc ông ấy vài tiếng cho vẹn nghĩa, trọn tình. Sao thế này, bà muốn được khóc mà nước mắt đã cạn khô từ bao giờ, đến một giọt rấn ra cũng không có. Cô Thị ơi, cô sinh ra là để chịu đau khổ nên giời đã không cho cô giọt nước mắt nào, tưởng chỉ là câu đùa của cụ, giờ bà mới tường. Giờ cô còn thằng cu Thư để trông mong, còn tôi biết cậy nhờ vào ai!
*
*      *
- BÁC DIỆC, BÁC DẠ, CU THƯ BỊ TÂY BẮN CHẾT RỒI!
Bà Thư muốn phủ phục người xuống để la giời la đất, muốn chạy khắp làng gào thét mà rằng, ơi hỡi chúng sinh có nỗi đau nào hơn thế này nữa không! Những giọt nước mắt chảy ngược quặn sót trong lòng, bà Thư nhìn trân trối vào cu Sơn, sợ rằng người em trai sẽ bị những âm binh đang lởn vởn ngoài sân đình bắt đi mất. Bà nghiến răng thít chiếc khăn vuông vào vết thương trên cánh tay cu Sơn thật chặt như để níu chặt cuộc đời em ở lại với mình. Nhìn vẻ mặt cu Sơn đau đớn, bà Thư hoảng loạn, có phải có tên âm binh nào đã lọt vào trong đình mà bà không thể nhìn thấy đang ra tay hành hạ em mình. Bóng những tên âm binh đen như cột nhà cháy, sực mùi tanh như mùi cá ươn lởn vởn chỉ chực xông vào trong đình. Cũng may, nhìn thấy bóng cu Sơn chạy qua cổng bà biết có chuyện chẳng lành nên chạy theo kịp lôi tuột vào trong đình, không thì những tên âm binh kia đã tóm được mà bắt đi mất rồi. Giờ thì tính sao đây, không những chỉ có âm binh mà còn có cả lính Tây khắp làng nữa? Chạy đi đâu bây giờ?
Một loạt súng nổ đâu đây gần lắm, có nhẽ ngay chỗ nhà bà Hướng thôi, bà Thư chạy nhào ra cửa trông chừng bọn lính. Bóng những âm binh bị tiếng nổ làm cho vỡ vụn, tan biến khỏi sân đình. Bà Thư định gào nên “này hỡi những âm binh, cứu giúp thằng cu Sơn nhà tôi với, hãy ngăn bọn lính lại hộ tôi!” Nhưng bà kìm lại được. Có gọi thì chỉ tổ cho bọn lính nghe thấy mà xộc vào đình, chứ những âm binh kia mới nghe thấy tiếng súng nổ gần đã hoảng hồn bỏ chạy thì giúp gì được. Bà luống cuống chạy vào lay cu Sơn đã  thiêm thiếp sắp ngất đi do mất nhiều máu.
- Lính Tây sắp tới rồi em ơi, giờ thì làm sao!?
- Có lối nào chạy được không? Bên nhà bà Hướng có lính không, chị?
- Chúng vây kín cả rồi, bên nhà bà Hướng đông lắm, ban ngày ban mặt thế này đi thế nào được!
- Thế thì chị về đi, em còn có khẩu pạc hoọc với mấy quả lựu đạn đây. Chị về nhanh đi!
- Không được, chị sẽ ở lại cùng cậu, chị sẽ đi cùng các bác, cùng thằng cu Thư nhà chị! Chẳng nhẽ giời lại hại nhà ta đến tận số vậy sao.
Bà Thư lết đầu gối đến gần điện thờ, chắp tay vái ba vái, phủ phục người xuống, than:
- Cầu đức thành hoàng là ngài Phả Cứu Đại Vương đoái thương tới gia đình nhà chúng con, bẩy đời dòng họ nhà chúng con sinh cơ lập nghiệp ở làng này, được hưởng tiếng thơm muôn đời của Ngài ban xuống, vì thế chúng con cũng đã góp được chút công sức nhỏ mọn cùng Ngài gầy dựng nên mảnh đất này, cầu xin Ngài hãy vì gia cảnh nhà chúng con mà ra tay cứu độ, nhà đã mất rồi xin đừng để cho tan! Con cầu xin thánh nhân rộng lòng đoái thương!
Bà Thư vái dài ba vái rồi ngước nhìn lên bức đại tự sơn son thếp vàng, hàng chữ “Thượng Đẳng Tứ Linh” lung linh như được ánh sáng của Ngài từ xa rọi vào.
- Thế là Ngài đã đồng ý rồi cậu Sơn ơi!
Bà thất thanh gọi em. Cu Sơn tựa lưng vào cột đình ngồi thẳng dậy. Đúng là bức đại tự toả ánh sáng lung linh. Có tiếng giầy đinh nện xuống nền sân gạch rất gần. Cu Sơn nhìn ra cửa. Cửa đình mở toang, nắng sớm lấp loá như ngọn đèn soi rọi ngoài sân.
- Lý Ngà đâu!
- Dạ bẩm ngài!
- Sao chậm trễ vậy, thế trong đình đã lục soát chưa?
Tiếng quát tháo của tên quan hai, tiếng thưa bẩm run run của lý Ngà ngay ngoài cửa. Bà Thư hốt hoảng, xốc nách cu Sơn dìu lại gần điện thờ.
- Lên đi cậu, lên nấp vào sau ngai của Ngài! Nhanh lên cậu!
Cu Sơn đứng lên chiếc ghế cạnh điện thờ, vắt chân trèo. Không tài nào lên nổi bởi cánh tay bị thương đã tê dại, không thể bám vào đâu được để cho khỏi ngã. Bà Thư dùng hai tay mình, mắm môi giúp đẩy cu Sơn lên. Cu Sơn vật người nằm sõng xoài trên giường điện, nhìn chị cầu cứu bởi không thể lết tiếp vào sâu bên trong được. Bà chạy ra phía sau, nơi có những dầm gỗ đóng ngang của điện thờ, nhanh nhẹn trèo lên. Rồi thoắt như chú vượn, bà vươn người qua khám cầm tay cu Sơn kéo tuột vào trong, vén chân rèm phủ kín lên. Bà vuốt lại những mép rèm cho thẳng rồi nhẩy từ trên điện thờ xuống. Bà nhìn quanh kiểm tra lại nơi ẩn náu của cu Sơn. Chết không, còn những vũng máu! Làm sao đây? Còn sao nữa, bà cởi tuột chiếc váy thâm đất ra, lộn ngược lại rồi lau sạch những vũng máu. Có tiếng người bước va vào cánh cửa. Cánh cửa kêu kẽo kẹt như báo cho bà Thư biết có người đã bước vào trong đình. Bà mặc lại váy rồi chắp tay phủ phục trước điện thờ. Những vết máu bà chưa kịp lau thì đã được hoà lẫn vào màu nâu đỏ của gạch nền, không thể phát hiện ra được trong ánh sáng nhờ nhờ tranh tối tranh sáng. Bà chờ đợi tiếng giầy đinh lộp cộp tiến lại gần. Tiếng tên quan hai đứng sau lưng bà Thư hỏi sẵng:
- Ai đây?
Lý Ngà chạy lại cúi xuống nhìn. Bà ngửi thấy hơi thở thum thủm của lý Ngà ngay sát trên đầu. Lý Ngà bẩm:
- Dạ bẩm, đây là bà Thư, em của ông Diệc. Này bà Thư, thấy quan lớn vào sao không đứng dậy chào?
- Ngài quan lớn có lớn hơn Ngài đang ngồi trên kia không!?
Bà Thư ngước nhìn lên, ánh mắt long lanh những tia man dại, như một người điên chực xông vào cắn xé đồng loại, như thần thánh xuất hiện trong ánh mắt bà đồng cốt lúc nhập đồng, lại như có cả ánh lửa của bóng ma trơi vụt loé lên, như ánh mắt bắt sáng của con dã thú  trong đêm. Quan hai cùng lý Ngà hoảng sợ lùi lại. Lại còn lời nói nữa, bà ta nói gì thế, đau sót hay là phán tội, hay đe doạ? Con người bí ẩn của bà ta, nghe nói đã lâu bây giờ mới thấy đây, tên quan hai lúng túng muốn lui ra ngoài để tránh ánh mắt bà Thư đang nhìn xoáy vào mình. Nhưng hắn lùi lại thì vấp phải lý Ngà nấp sau lưng. Cái cô Thị xưa kia đã nhiều lần anh cu Ngà nhìn trộm, đã thầm ước được một lần thôi đụng chạm vào tấm thân mảnh mai mà chẳng dám, giờ thì có nhẽ phải quỳ xuống vái cô ta như vái thánh sống chăng. Hai đầu gồi lý Ngà run run chực gập khuỵ xuống.
Cuộc đời trận mạc của tên quan hai đã gặp phải không ít những ánh mắt trợn trừng, ma quái của những chiếc đầu lâu rơi xuống sau những nhát kiếm từ tay mình hạ xuống và cũng không ít lần bị lưỡi gươm, nòng súng của đối phương dấn sâu vào cơ thể, đã rèn đúc cho hắn ta một bản lĩnh cứng rắn, không hề run sợ trước cái chết. Hắn ta tự biện minh, đây sợ là sợ uy phong của đấng linh thiêng đang ngự trên kia, chứ người đàn bà yếu đuối kia sao doạ được ai. Tên quan hai quay lại túm áo lý Ngà kéo đứng thẳng dậy. “Phải có dũng khí chứ!” - hắn ta thầm nạt lý Ngà nhưng thực ra tự động viên mình. Khi có đủ dũng khí, tên quan hai quát người đàn bà yếu đuối đang phủ phục ngay cạnh chân mình:
- Có phải mấy anh em nhà bà, cả thằng Thư nữa trốn trong đây phải không? Mới sớm bà đã ra đây làm gì?
Bà Thư đứng dậy nhưng vẫn cúi đầu hướng lên điện thờ. Bà nói cứng:
- Gian đình trống hoác của cái làng nghèo khó này còn có chỗ nào giấu được mấy anh em nhà tôi. Ông lý, hàng ngày ông vẫn ra đình, ông có thấy nhà tôi đào hầm ngay trong đình này không. Nếu có giấu thì chính ngài Phả Cứu Đại Vương ngự trên kia giấu đấy.
Một mụ đàn bà nhỏ bé mà dám diễu cợt ngài quan hai oai phong! Không thể chịu được khi bị xúc phạm, đôi mắt càng bị kéo xếch ngược lên, vằn những tia đỏ, còn da mặt tái xanh như tàu lá, đôi môi tím lịm mím chặt, tên quan hai xua tay ra lệnh cho bọn lính:
- Bọn bay, phá nát đình cho tao!
Bọn lính đùn đẩy nhau không đứa nào chịu ra tay. Bất chợt lý Ngà quỳ xuống vái lấy vái để, miệng lắp bắp:
- Lậy Ngài! Có phải ngài ... linh ứng!
Tất cả nhìn lên điện thờ. Tấm rèm rung rung như có linh khí của thành hoàng thổi qua. Tất cả các con mắt đều trợn trừng nhìn vào những vết loang đỏ tím trên tấm rèm. Chuyện gì thế, có phải là tà ma!? Bà Thư cũng vội quỳ xuống chắp tay vái, cố tình to tiếng khấn:
- Con lạy Ngài! Xin ngài đừng nổi giận đến chảy máu mắt ra như thế. Người ta có điều gì không phải xin ngài đừng bắt tội!
Có ngọn gió lùa vào trong đình, mát lạnh.
Bà Thư xụp người xuống ôm ngực. Tim bà đang đau thắt lại.
Bọn lính hoảng sợ lùi ra, thập thò ngoài cửa.
Tên quan hai cũng thấy chờn chợn. Có điều gì đó bất ổn trong suy nghĩ, nhưng không thể để mất thanh danh của một kẻ bề trên, tên quan hai đi lại điện thờ ngó nghiêng. Điện thờ đúng là của cái làng nghèo khó, chẳng có gì ngoài chiếc khám đặt bộ triều phục bên trên làm bài vị và mấy tấm rèm treo rủ làm bình phong. Hắn với tay định vén tấm rèm lên nhưng lại sợ phạm phải tội bất kính nên chỉ dám đứng nhìn và tự đánh giá, miếng vải ngắn thế kia chẳng thể che kín được người.
Thế là Ngài đã che mắt bọn chúng để cứu nhà chúng con rồi, con tạ ơn Ngài! Bà Thư vái ba vái dài rồi thủng thẳng ra về. Bà biết, nếu còn nấn ná ở lại thể nào chúng cũng sinh nghi. Với dã tâm của con ác thú thì thằng quan hai kia có kiềng gì thần thánh mà không dám phá tan ngôi đình. Bà giao tính mạng của đứa em mình cho thành hoàng làng che chở.

*
*     *
- CÔ THƯ ƠI! - TIẾNG CU SÔNG GỌI GIẬT NGOÀI CỔNG.
- Cái thằng, biết làng đang có chuyện không mà gọi ầm ầm thế!
Bà Thư không sợ làng, không sợ bọn lính nghe thấy, thằng cu Sông gọi tên bà lên lúc này thì khác nào báo tên cho những âm binh còn đang lởn vởn quanh linh hồn bác Diệc, bác Dạ, cu Thư  để bắt bà đi theo. Nếu thế thì ai sẽ trông nom cu Sơn thay bà đây! Bà vội vàng chạy ra kéo cu Sông vào nhà, hạ giọng mắng rít:
- Thầy mày chết rồi, tao muốn khóc mà không xong đây, còn mày cứ như người dưng, nhơn nhơn cái mặt.
- Ai nói với cô thế? Mà sao cô lại run, mặt tái xanh thế kia, bọn lính thì có gì phải sợ.
Bà Thư đập hai tay xuống đùi thầm trách giời phật sao lại có đứa con vô phúc đến thế, thầy nó chết mà cứ coi như không.
Cu Sông hào hứng nói nốt ý định của mình về gặp bà Thư:
- Làng làm cỗ khao lính ở đình, cháu mổ lợn, lý Ngà bảo cháu gọi cô ra đun bếp!
- Ôi giời ...!
Bà Thư định gào lên gọi giời nhưng kịp dừng lại. Bà hốt hoảng kéo đầu cu Sông sát vào mình, than thầm:
- Chết rồi cháu ơi! Chú mày thế này thì sao mà thoát được. Ông giời chẳng tha chú mày rồi!
Cu Sông không biết chuyện gì, vùng ra khỏi tay cô ngạc nhiên hỏi:
- Cô nói gì thế? Chú nào!?
- Mày be bé cái mồm thôi! Thế tụi lính đã ra đình chưa?
- Chưa. Bây giờ mới đi bắt lợn. Chúng nó còn về tập trung ở cống Rô. Thế có việc gì?
- Chú mày đang trốn ở trong đình chứ đâu. Không thoát khỏi cái chết rồi cháu ơi! Ngài không cứu được em tôi rồi! Chú mày bị thương không đi được. - Chợt bà Thư quyết định - Cháu giúp cô được không? Cháu trèo vào cửa sau rồi cõng chú mày đang nằm ở trên điện thờ ấy, sang hầm nhà bà cụ Hướng. Phải liều thôi, nhanh chân lên!
Chưa hiểu tường tận câu chuyện nhưng nhìn vẻ mặt thất thần của cô mình, lại là việc chú Sơn bị lính truy tìm đang nấp ở đình, cu Sông cũng thấy cần phải chạy nhanh ra đình. Việc luồn lách để tránh người khác để ý và làm sao đưa được chú Sơn sang bên vườn nhà bà cụ Hướng với cu Sông không có gì khó khăn.
Viên đạn găm vào cánh tay không chịu nằm im, nghiến Cu Sơn bằng những cơn đau như muốn xé toạc cơ thể và quăng quật vào cơn sốt mê man. Cu Sơn đang thiêm thiếp sau khi trải qua một cơn đau dữ dội bỗng thấy mình nhẹ bẫng, cơ thể được nhấc bổng lên rồi trôi nổi như bơi trên ao đình. Nhưng nước ao đình hôm nay nóng rực như ngồi gần bếp rơm. Ngọn lửa táp thẳng vào mặt khiến cu Sơn giật mình bừng tỉnh. Ánh nắng chói chang ùa vào mắt, tại sao thế này? Mái tóc của ai nhụi vào mặt nhặm nhặm? Và cơ thể cu Sơn bỗng trôi tuột khỏi lưng ai kia như bị trượt trên bùn. Và buốt nhoay nhoáy bởi những vệt xước kéo dài từ đùi tới dọc hai cánh tay, cuối cùng người rơi bịch xuống đất đau điếng khiến cu Sơn tỉnh lại hẳn. Trước mắt tối om như trời đã về đêm. Bàn tay ai ấm nóng đặt lên vai hay là có con chuột đang tìm cách luồn vào trong áo? Cu Sơn định hất cái vật trên vai mình xuống nhưng không thể. Cánh tay buốt nhói, không giơ lên được. Cái vật trên vai cu Sơn lay lay, sau đó là giọng nói thào thào:
- Bác Sơn! Bác có sao không?
- Ai đấy? Có phải chú Toản không? - Cu Sơn tỉnh táo hẳn, nhận ra giọng nói của chú em con chú.
- Vâng, em đây! Bác có bị sao không mà yếu thế?
Cu Sơn chống tay ngồi tựa vào thành hầm, nhìn quanh hỏi:
- Đây là đâu, sao trời tối thế?
- Dưới hầm nhà bà cụ Hướng, hình như là bác Thư với cu Sông cõng anh sang đây. Liệu thằng cu Sông ...?!
- Chú đừng nghi ngại, nó là người nhà, rồi trước sau cũng phải cho nó biết căn hầm này để còn có người liên lạc. Tình hình thế nào rồi?
- Hình như có chỉ điểm anh ạ. Em đi sau nghe rõ có người chỉ đích tên bác Diệc với bác Trung huyện uỷ thành ra bọn lính tập trung đuổi theo hai người. Nó còn nói, vẫn còn em với bác có lẽ chưa ra khỏi làng nên chúng nó kéo nhau về đây. Xuống được đây là an toàn rồi, có nhẽ chỉ đến tối là chúng rút thôi.
- Liệu các anh ở bên Đồng Trung có bị lộ không, bao nhiêu đầu mối quan trọng bên ấy cả!?
Có tiếng lợn kêu rít ngay bên trên, những tiếng bước chân người thậm thịch hướng ra phía đình, hai anh em cu Sơn yên lặng lắng nghe, phán đoán tình hình. Chắc hẳn làng mổ lợn khao lính. Như vậy là an toàn rồi, bọn lính sẽ không lùng sục nữa. Cu Toản xốc nách anh mình dìu tới lỗ thông hơi rồi ngả lưng xuống cạnh. Cu Sơn thiêm thiếp, mê man, đôi môi khô nẻ hớp hớp muốn uống nước. Cả đêm qua thức trắng, giờ hai mí mắt kéo trĩu xuống, giấc ngủ tràn đến cu Toản không thể cưỡng lại được.
Bốn người đồng thanh hô hai ba, cùng hất chiếc đòn khênh con lợn xuống, rồi tựa lưng vào gốc đa thở dốc, xuýt xoa nhìn hai bả vai đỏ rộp. “Con lợn này phải tạ rưỡi” - Cu Sông xán tới vỗ vào mông con lợn đèn đẹt, áng chừng: - “Thịt chắc như khúc lim thế này cơ mà. Đúng là nhà lý khao làng phải khác, bữa này toái loái không hết thịt.” Không ai khác, cứ cỗ nhà thì việc chọc tiết lợn ngoài cu Sông lý Ngà không tin tưởng ai. Chỉ một nhát dao lút chuôi, từ cổ họng tiết xối ra ồng ộc, con lợn kịp thét thêm một tiếng ngỡ ngàng, sao cái chết lại đến nhanh thế rồi oằn xương sống giẫy một lần cuối cùng trước khi nằm thõng thượt. “Giống như thầy Quyết ngày xưa bị tri huyện Nghiệp chọc tiết” Đó là lời mồ ma trương Bân ngày còn sống hay đem hình ảnh ấy ra để đùa mỗi khi làng mổ lợn. Chính vì thế, nhà hôm nay có việc hệ trọng thế chứ hơn nữa cu Sông cũng không thể bỏ qua phần việc của mình ở đình, lại là có lời mời khẩn khoản từ chính lý Ngà. Cu Sông giằng phắt con dao nhọn từ tay bác phó cối, kéo từng bước chân dệnh dạng đi tới mảnh cối đá vỡ từ dạo Ngài ra tay đe doạ bọn cướp còn sót lại, mặt vênh vác thể hiện sự hãnh diện vị thế của mình ở đình. Lưỡi dao miết soàn soạt vào đá, lạnh lùng. Mọi người xúm vào vật ngửa con lợn lên chiếc chõng, đè chặt chờ cu Sông tiến hành công việc.
“Nhà ấy làm gì có ai vênh vác thế kia cơ chứ!” Cái đuôi con lợn to như cái muôi, quăng quật phất cả cứt đái lên người, những tay giữ lợn cấm cảu, mắt gườm gườm nhìn thằng Sông, giận sôi gan. Cu Sông múc bát nước dội vào cổ con lợn, thận trọng kì cọ cho sạch phân gio, lấy chỗ để thọc dao vào. Hai bàn tay ôm vào phần họng con lợn, vuột cho khô nước cũng chưa đảm bảo là thật khô, cu Sông cởi chiếc áo trên người xuống làm giẻ lau lại. Cu Veo đẩy chiếc xanh đồng xuống dưới cổ con lợn chờ hứng tiết, cái miệng tem tép tỏ vẻ thèm thuồng. Đã lâu làng mới có dịp được ăn khao. Chà chà, xuýt quên, tại nhiều chuyện quá đây mà, từng kẽ tay cu Sông được chùi kỹ vào chiếc áo là hành động quá quen thuộc để nói với mọi người điều đó và nhắc hãy chờ đợi thêm chút nữa. Lý Ngà còn hiểu hơn thế nữa, đặt sẵn bát rượu ở cửa đình, chờ cu Sông tới bưng để còn thưởng thêm mấy cái vỗ vào lưng tỏ ý thân tình. Nếu mồ ma trương Bân mà sống lại thì nhất quyết cu Sông sẽ được nhận người anh cùng cha khác mẹ.
Lại vẫn như mọi lần, bát rượu trên tay sóng sánh, hơi men bốc lên ngầy ngậy khiến hai bên mép cu Sông nhành ra, yết hầu trồi trụt lên xuống bởi phải liên tục nuốt khan nước bọt không thì lại nhểu ra giống như cha con nhà lý mỗi khi nói văng mạng. Một chân quỳ, một chân chống, tay phải túm chặt sợi thừng quấn quanh mõm con lợn, tay trái cầm con dao nhọn dí lưỡi vào cổ nó. Bát rượu để ngay cạnh. Mắt cu Sông nhìn xoáy vào đầu lưỡi dao, môi bắt đầu mím lại là lúc tiếng hực được phát ra trong cổ như nuốt nghẹn. Tiếng hực như tiếng ma thì thọp bước trên cánh đồng giữa đêm vắng, u uất và căm giận ngay chính bản thân mình. Ngay sau tiếng hực là lập tức con dao nhọn nhanh chóng chạy lút vào cơ thể con vật. Nhanh như cắt, cu Sông với bát rượu hứng dưới chuôi dao. Một dòng máu đỏ tươi tia vào bát rượu. Bát rượu chuyển màu sang màu cánh hoa đào là đạt. Cu Sông đặt bát rượu xuống cạnh rồi cầm chuôi dao kéo rộng vết đâm. Máu xối xuống chiếc xanh đồng toong toong.
- Đầy một xanh tiết! - Cu Veo bưng xanh tiết đứng dậy, hả hê: - Đánh thêm mấy bát tiết canh để các cụ uống rượu, con lợn này tiết ngọt lắm.
- Gớm, với mày tiết con lợn nào chả ngọt.
- Ông hỏi thằng cu Sông xem có phải thế không. Này, cho chú xin hớp, thử xem có phải không nào.
- Ông chỉ khéo nịnh ông lý trưởng. Dưng mà cũng ngọt thật, làm gì còn nữa mà xin. - Cu Sông cười hềnh hệch, lộn cái bát xuống cho mọi người thấy, đến màu đỏ của tiết cũng không còn đọng lại một dấu.
Từ sáng tới giờ đôn đáo chạy ngược chạy xuôi mệt đứt hơi, lại được bát rượu tiết khiến bước chân cu Sông lâng lâng như bước trên thảm cỏ dầy. “Mẹ kiếp, lũ lính này sao mà hăng thế, về đến làng là chui nhủi từng bờ tre, chân rạ tìm bắt người, có hỏi câu chuyện thôi xuýt nữa bị nện cho mấy báng súng. Hỏi xem đêm qua bọn nó có bắn trúng ai, thế thôi. Chắc là không bắn trúng ai cho nên thằng quan hai mồm thì theo lẻo thân thiện mà mắt trợn sòng tức tối thế chứ. Đằng sau nhà lý còn có người trên tổng trên huyện hậu thuẫn, lại lính tráng súng ống đầy người bảo vệ, đọ sao được mà thầy dại thế, tranh giành chức lý trưởng làm gì, sao không ra Hà Nội buôn bán như ngày xưa có phải có của ăn của để rồi không.” Nắng gì mà ghê thế, hoa hết cả mắt. Cu Sông đưa tay dụi mắt. Nắng gì lại đỏ rực như máu thế này cơ chứ. Lạ! Trước nay cu Sông chưa nhìn thấy nắng gì thế này. Khói ra sộc vào mũi khiến cu Sông ho sặc sụa. Cu Sông ôm ngực ho. Lồng ngực đau thắt khiến cu Sông phải khuỵ chân xuống.
- Mỗi lần uống say lại ho thế này mà cứ uống, có sao không? Bà Thư đỡ cho cu Sông khỏi ngã, lo lắng hỏi cháu. Bà kêu giời khi nhìn thấy bàn tay, mặt mũi cu Sông loen ngoen đầy máu: - Giời đất ơi, chọc tiết xong không rửa tay để thế này à cháu, khổ chưa!
Cu Sông không biết tiếng kêu giời đầy đau sót của cô mình thế nào mà nghĩ tới phải rửa nước là thấy rùng mình, người sởn gai ốc. Cu Sông hất tay cô ra rồi loạng choạng bước tiếp. Đến lúc đâm sầm vào đâu đấy đau điếng khiến cu Sông ôm đầu nằm xõng xoài xuống.
Cu Sông ngủ mê mệt như vừa trải qua một trận đói ngủ nay được ngủ bù. Bà Thư cố sức nhưng kéo sao nổi cháu mình vào chỗ nằm hẳn hoi. Bà dụi mắt cho khỏi cay, chỉ biết lấy cái nón úp lên mặt cháu cho khỏi nắng chứ vần ngược vần xuôi cũng chả đánh thức nó dậy được. Bà nuốt nước mắt vào trong, đi ra cùng các bà, các chị em nấu cỗ khao làng. Tay cời bếp nhưng mắt vẫn cứ phải để ý tới cháu, nó chỉ lăn mấy vòng là ngã tòm xuống ao. Cái hoạ đã ập xuống thì như cháy nhà, chả mấy chốc mà thiêu rụi đi hết cả, nó là dòng máu duy nhất còn lại của bác trưởng, nhỡ có sao thì đúng là nhà này vô phúc rồi. Nhưng sao lạ thế, lý Ngà vừa ngồi xuống cạnh là nó bừng tỉnh, ngồi bật dậy như phải vía khiến bà phải giật mình nhổm dậy chực chạy ào ra. Phải chăng cái hận thù cũng là một bóng ma, nó có mắt để nhìn cho ra mặc dù con người nhà lý có đi nhấp nhón ngón chân nhẹ nhàng thế nào chăng nữa, nó có mũi để ngửi thấy cái mùi trong hơi thở như mùi xác chết đặc biệt chỉ gia đình nhà lý mới có ấy. Cu Sông nặng nhọc dịch người ngồi dựa lưng vào gốc đa, vươn vai ngáp dài. Vậy là nó tỉnh táo hẳn rồi, bà Thư yên tâm cúi xuống thổi ngọn lửa bị bỏ quên sắp lụi cho cháy bùng lên.
Chẳng phải bóng ma có mắt nào đã đánh thức cu Sông dậy mà là đàn ruồi hoảng loạn bay đâm bổ vào mặt rát như bị vả. Cu Sông chống tay ngồi dậy dùng hai tay vuột mặt cho đỡ rát rồi nhìn ra xung quanh. Định đi vào đình ngả lưng xuống xó nào cho mát thế mà sao quay lại đúng chỗ chọc tiết lợn. Sao mà say thế, không biết tị gì! Khiếp quá! Ruồi bu vào những chỗ tiết vương chồng đống một lớp dầy như bãi phân trâu. Không biết có con ruồi nào chui được vào trong họng để tranh giành chỗ tiết trong bụng, ý nghĩ ấy khiến cu Sông thấy ram ráp cuống họng. Bụng ngay lập tức sôi lục ục như con trâu ợ cỏ nhai lại, lúc sau cuộn lên nhoi nhói như có bàn ai luồn vào khoắng cho ruột gan bện thắt vào nhau, cu Sông ôm bụng oằn oại.
- Cho miếng nước! - Cu Sông ngửa mặt lên nhìn người ngồi cạnh van xin.
Có miếng nước tuồn xuống sẽ làm tan cái nóng đang bốc hừng hực trong bụng, sẽ lại bình thường như bao lần say trước thôi. Mà sao mọi khi hai bát con gà chẳng thấm vào đâu, thế mà hôm nay có già nửa bát, rượu nhà lý là rượu gì  mà uống như uống lửa thế không biết. Cu Sông căng mắt, há miệng chờ đợi cái bóng đen nhoè như vết mực tầu đang loang lại mình chậm chạp. Những giọt nước bắn vào tay lành lạnh khiến cu Sông chồm lên. Vành nón kề vào môi, mềm và mát, cu Sông há to miệng chờ. Nhưng dòng nước mát không vào mà một dòng nước nóng từ trong bụng ồng ồng tuôn ra.
Thứ nước không sạch sẽ gì từ cái miệng há hốc như lỗ cua của thằng mất dạy phun thẳng vào ngực lý Ngà. Đồ chết dẫm! Lý Ngà hằn học chửi, túm vào mớ tóc trơn nhẫy mồ hôi dầu của cu Sông dúi xuống bãi nôn. Lý Ngà phải giật phăng chiếc áo the mới mặc lần đầu ném đi không thì không thể chịu nổi thứ xú uế của thằng cu Sông thải ra. Gọi bọn lính tới cho chúng quật nát xương cái thằng mất dạy này mới hả giận. Nhưng lý Ngà là người biết chế ngự cảm xúc của mình, dòng họ Vũ nhà lý là thế. Lý Ngà túm cổ áo cu Sông lôi xềnh xệch tới mép ao, té nước vào mặt cho tỉnh hẳn.
Cu Sông thấy mình bị vật ngửa người lại, choàng mắt ra nhìn xung quanh. Người đầu tiên nó nhìn thấy là bà Thư đang ngồi cạnh lần cởi cúc áo cho nó. Cu Sông vùng vằng:
- Cô cởi áo cháu ra làm gì?
- Mẹ cha anh, uống say nôn mửa hết ra người đây này. Kinh quá!
- Hình như ai kéo cháu ra đây chứ có phải cô đâu?
- Nhà lý chứ ai. Tôi làm sao đủ sức kéo nổi anh.
Nhà lý cho uống rượu, nhà lý lại lôi mình ra cầu ao té nước lên rửa cho, phải tìm nhà lý để có lời tạ ơn không thì nhà lý lúc nào cũng chửi mình là đồ mất dạy. Đó là ý nghĩ đầu tiên của cu Sông sau khi thay bộ quần áo sạch sẽ. Thứ rượu gì say đổ đình đổ chùa thật đấy, giờ lại thấy nâng nâng như được bay bổng chứ không đau đầu tị nào. Phải hỏi nhà lý cho biết. Ba nong thịt luộc đầy tú hụ, thịt ba chỉ phần mỡ dầy cỡ đốt tay, thịt mông sấn nạc săn như khúc giò, chưa con lợn nào thịt ngon thế này, nhà lý nuôi hơn năm rồi chứ ít à. Mọi lần chỉ nhìn thấy miếng mỡ trắng ởn, miệng đã tứa đầy nước bọt, thế nào cũng phải xà xuống bốc miếng cho vào mồm, thế mà lần này cu Sông cứ dửng dưng bước qua. Có phải nhà lý cùng ngài quan hai đang ngồi chĩnh chệ trên sập kia là gì. Những con người có cốt cách có khác, dáng ngồi cũng thấy oai.
- Chào bác lý, chào ngài quan hai! - Cu Sông chắp tay trước bụng lễ phép chào.
Lý Ngà và ngài quan hai ngừng câu chuyện. Không ngẩng lên lý Ngà lấy giọng oai phong hỏi:
- Việc gì?
- Dạ!... - Cu Sông thấy mình lúng túng, không biết nên nói gì.
- Định vào có nhời cảm ơn phải không, nếu chỉ có vậy thì đi ra đi, không ai cần nhời cảm ơn của anh.
Đúng là cốt cách của người làm quan, giọng nói càng thấy oai. Còn thầy mình thì ăn nói ậm ừ, chả quát nạt được ai, thế mà cũng tranh giành chức lý trưởng. Không biết đường biết nẻo mà đi!
- Dạ, con đâu chỉ biết trả ơn miệng, còn có chuyện khác nữa kia!
*
*     *
“GẦN TÁM MƯƠI NĂM SỐNG Ở LÀNG NÀY, GIỜ MỚI ĐƯỢC BỮA KHAO đình toái loái, lấy phần rồi mà thịt thựa vẫn còn thừa cả sề!” Cụ tiên Tí vừa cúi xuống nhặt miếng thịt lấy phần bị rơi xuống đất thổi phù phù vừa khen. “Chả thế ư! Mẹ cha anh, anh thử nhìn ra cầu ao đình xem có phải thế không!”
Có hận nhà lý đến tím mặt thì cái tâm trạng nắc nỏm như đứa trẻ được quà sau bữa cỗ cũng khiến anh cu Veo quên đi chuyện hận thù, thầm khen nhà lý sởi lởi. Cái chuyện lý Ngà cho người đánh đến dập mặt, đánh cho cái chân vốn đã tập tễnh do bị tật từ bé nay càng thậm thọt hơn cũng chỉ tại mình cả. Tại anh cu Veo không chịu trả nợ gánh thóc vay làm ma cho mẹ, chứ lý Ngà chả làm nên tội tình gì. Gớm, con lợn to thế rồi sau lại thêm con nữa. Thằng Sông định uống giành hết cả bát tiết của con sau nhưng được một hớp thấy ngắc ngứ phải buông. Lợn béo tiết ngọt như đòng đòng. Uống có bát rượu từ trưa đến giờ còn váng. Cu Veo tấp tểnh lê chân ra cầu ao đình. Chả phải ngắm nhìn lớp mỡ kết màng trên mặt ao thôi đâu, Veo này còn phải nhìn u thằng cu Vịt chổng mông rửa xanh nồi dưới ấy nữa kia. Đêm nay, gì chứ chuyện ấy phải toái loái với u nó mới đã đời.
Mà khổ cho cái nhà cô Thư, sớm ra đã cặm mặt xuống làm chẳng bắt nhời với ai câu nào, giờ ngồi đần đờ, mắt đỏ đòng đọc như máu. Hay là mặt giời chiếu vào nên thế. Mặt giời sao đỏ như miếng tiết đọng. Chả biết đó là điềm tốt hay điềm gở. Đêm qua súng nổ ầm ầm, sáng nay làng nào cũng thấy quan quân lục soát, chắc chẳng có gì tốt đẹp rồi. Mà sao nhà lý khao đình to thế?
Bà Thư dùng hai bàn tay bóp ngang bụng nén chịu cơn đau đang hành hạ. Từ đêm nghe thấy tiếng súng nổ rộ lên là cơn đau đã ập tới, như một mũi lao xuyên thấu cơ thể, như những nhát dao rạch ngang rạch dọc khắp vùng bụng khiến cho mắt mũi xây xẩm, trước mặt bà như có hàng ngàn bong bóng  nước vỡ bung ra chói loà sắc xanh đỏ, gan bàn chân, bàn tay như có hàng đàn kiến bò bên trong, gại gại đau. Bà muốn quỵ xuống. Và có một người mong bà quỵ xuống lúc này đây. Hắn vẫn đi ngang qua chỗ bà, liếc mắt vào chờ đợi. Bà quỵ xuống là hắn sẽ nhảy dựng lên reo mừng, sẽ hét toáng lên, thế là gia đình bà đã chịu khuất phục, việc mà từ đời ông đời cha hắn không làm được thì nay hắn đã thành công! Bữa khao đình thì cả làng phải xúm lại làm, bà không thể không ra, mà ra thì có khác nào mình tự chôn mình xuống mồ. Không ra không được bởi thằng cu Sơn  còn đang nằm trong vòng kiểm soát của chúng, phải để mắt tới chứ ngồi không ở nhà sao yên tâm được. Mà sao khi sáng nhìn thằng cu Sông cầm cái dao, khệnh khạng đi lại con lợn chướng mắt thế. Sao hắn lại giống lý Ngang ngày xưa thế, giống hơn cả lý Ngà, cái lưng còng còng chúi đầu về trước, bước chân lươn lẹo như muốn luổn vào nách người ta. Hắn đâu rồi? Kia rồi. Giờ này vẫn còn ngồi bí tỉ ở góc đình, không ra mà canh chừng chú mày.
- Chết người ta không! - Bà Thư thốt lên thành tiếng thất thanh khi nhìn về nhà bà cụ Hướng.
Tiếng thốt của bà Thư khiến đĩ Vịt buông rơi chiếc xanh xuống ao.
- Có gì đâu, bọn lính chắc nốc rượu say chưa chịu đi, còn tụ vạ lại đống ấy cho mát chứ gì mà cô hoảng hốt thế.
- Các bà nhìn kìa, chúng nó đạp đổ bờ rào nhà bà cụ Hướng làm gì thế kia!?
Bà Thư ào chạy về nhà bà cụ Hướng, đâm bổ vào đám lính. Nhưng sức bà đâu có gạt được bọn chúng ra để chạy vào với em mình. Bà nhướn chân nhìn vào vườn nhà bà cụ Hướng. Lý Ngà cầm gậy chỉ đến đâu lập tức hai tên lính dùng cuốc ra sức lật đất ở đó lên. Mới chỉ một loáng mà mảnh vườn đã bị xới lộn như ruộng cày. Cửa hầm ở gốc cam. Gốc cam đã bị cuốc bằm xuống mà chưa bị bật lên. “Cầu giời, cầu đức thành hoàng là ngài Phả Cứu phù hộ đừng để chúng phát hiện ra cửa hầm!” Bà Thư nhắm mắt, ngửa mặt lên giời thầm cầu khấn. Bỗng tiếng rú hét đau đớn của bà cụ Hướng làm bà Thư choàng mở mắt nhìn ra. Thằng quan hai chỉ bằng tuổi con tuổi cháu bà cụ thôi sao dã man, túm vặn xoắn tóc bà cụ lô xềnh xệch thế, hắn còn giang thẳng cánh tát vào mặt bà cụ nữa. “Đồ ác tâm! Bà cụ Hướng ơi, con cầu xin bà đừng chỉ hầm em con, nhà con chỉ còn có mình nó thôi, bà ơi!”
- Cửa hầm đây rồi!
- Tất cả tránh ra, nằm xuống!
Bà Thư cũng đổ vật người xuống, ngực bà nhói đau, bụng bà quặn thắt lại. Không thể ngã xuống thế này được. “Em ơi, chị đây!” Bà Thư nhổm dậy nhao vào vườn. Nhưng tên lính nào đó kéo chân bà lại. Bà ngã sấp mặt xuống, đau điếng. Bà lại vùng dậy. Nhưng không thoát khỏi tay tên lính. Bà giơ hai tay lên giời gào:
- Cu Sơn ơi! Giời ơi! Sao lại ra nông nỗi này cơ chứ, thầy ơi!
Tiếng hét của bọn lính:
- Lựu đạn, nằm xuống!
Tất cả rơi vào im lặng chờ đợi một khoảnh khắc dữ dội ập đến. Không có tiếng nổ nào bùng lên. Tiếng tên quan hai hô:
- Xông vào, chúng không có súng đâu!
Cả tên lính giữ chân bà Thư cũng buông tay để xông lên theo lệnh chỉ huy. Được tự do, bà Thư nhào lên. Bỗng một loạt tiếng nổ chát chúa vang lên. Bà không sợ tiếng nổ nào cả, cố sức bươn lên. Bỗng một tên lính đổ vật vào bà, kéo bà ngã xoài xuống theo. Bà ngóc đầu lên nhìn về cửa hầm. “Thằng cu Toản kia nữa sao! Loay hoay làm gì thế, không nhẩy lên mà chạy đi!” Những tên lính ào lên, giẫm đạp cả lên người bà. Bà Thư úp mặt xuống đất bất lực, phó mặc tất cả cho giời định đoạt.
- Chạy đi em ơi ... chạy ...!
Tiếng gào giục em của bà Thư bị tắt lịm ngay bởi một báng súng thúc thẳng vào mặt. Trước mắt bà sầm lại màn đen. Bà ôm mặt gục xuống. Nhưng ngay lập tức bà lại bị xốc nách đứng lên. Chỉ có lý Ngà chỉ hầm thôi! Quân ác nhân trốn đâu rồi! Bà phải đối mặt với hắn. Bà Thư vùng tay tự mình đứng thẳng dậy. Ánh sáng dần rạn ra, người đầu tiên bà nhìn thấy là tên quan hai. Cái bộ mặt trông hiền lành thế mà sao ác nhân. Hắn nhếch miệng cười với bà, nói bằng thứ giọng nhẹ nhàng nhưng thâm hiểm:
- Còn trẻ đã mất chồng, nay cả nhà tan nát, tội nghiệp. Nhưng cái tội che dấu Việt Minh của mày với con mụ Hướng không thể tha.
Thứ giọng lươn lẹo cất lên sau lưng bà. Không cần quay lại bà cũng biết là ai
- Dạ bẩm quan ngài, tội thế đáng trừng phạt lắm, nhưng xin ngài thương cho tình cảnh nhà người ta, vả lại cũng là để cảm tấm thịnh tình của ngài của con dân làng Trằm, mong ngài ban cho chữ đại xá!
- Thôi được, nhân ngày vui của làng tôi tha cho, nhớ lấy. Nhớ cả tấm lòng của thầy lý mà mang ơn. Giờ thì mang cái tình cảm ấy ra khuyên nhủ em nó khai ra thì gia đình lại đoàn tụ.
Bà Thư im lặng. Tên quan hai có lạ gì tính khí của người đàn bà chỉ biết sống âm thầm, có dụ dỗ thế chứ mang vàng ra mua chuộc chắc cũng chẳng xong. Có giả ân giả nghĩa với bà ta cũng chỉ vì phải che dấu việc lý Ngà chỉ hầm, giữ cho hắn cái bộ mặt được sạch sẽ với làng với nước còn dễ bề cai trị. Tên quan hai hất hàm ra lệnh. Hai tên lính xốc nách bà Thư lôi ra cầu ao nhà bà Hướng.
Cu Sơn và cu Toản bị chúng treo giặt cánh khỉ ngược lên cành ổi cạnh bờ ao. Vết thương mất nhiều máu làm cu Sơn đuối sức đứng không vững thỉnh thoảng khuỵ chân xuống, cánh tay lại bị giật ngược lên. Hai bả vai như bị xé toạc ra, buốt nhói tới tận óc cu Sơn cắn răng chịu đau, cố đứng dậy. “Hắn càng đau càng tốt, đau đến khi mặt thâm tím vào thì mới chịu khai.” Tên quan hai gật gù thoả mãn về trò tra tấn không cần phải động chân động tay của mình và nhìn bà Thư chờ đợi. Chả nhẽ bà ta không sót xa. Hắn chờ tiếng gào thảm thiết của bà cất lên. Hắn chờ những giọt nước mắt của bà nhỏ xuống. Khi ấy hai kẻ chống đối cứng đầu kia sẽ mềm lòng, sẽ khai ra để rồi hắn sẽ ra lệnh cho lính truy quét tận gốc cơ sở cách mạng, rồi vùng này sẽ là vùng an toàn và rồi hắn sẽ không chỉ là quan hai bốt trưởng bốt cầu Bà Sinh mà chỗ của hắn sẽ là đồn Cẩm Giang. Hắn hy vọng mình sẽ là người ngoài đầu tiên nhìn thấy giọt nước mắt của người đàn bà này trào ra.
Hắn càng chờ đợi thì hắn lại càng thất vọng. Cơn đau dường như chỉ đến đỉnh điểm rồi dừng lại giúp cu Sơn đứng vững. Cu Toản điềm nhiên nhìn giời. Tia mắt của bà Thư  chỉ có một điểm dừng, đó là bộ mặt của hắn. Tia mắt thần bí đã xuyên thủng niềm hy vọng của hắn. Bà cụ Hướng thôi không còn rên rỉ, mà hình như lại còn đang ngủ ngon dưới gốc rơm nhà mình, cứ như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Bỗng bà cụ Hướng ngồi bật dậy, ánh mắt long lên như người phát rồ, chỉ tay vào mặt lý Ngà đang đi tới:
- Mày, chính mày chỉ hầm! Mấy mươi đời nhà mày sống làm thằng người, chết làm con ma ở làng này rồi mà khốn nạn, mạt kiếp!
Lý Ngà chối phăng:
- Bà cụ lẩm cẩm rồi, bà nhìn thấy tôi chỉ khi nào, mà tôi biết có hầm ở vườn nhà bà bao giờ!
- Chính mày, khi tao ôm nắm rơm đi qua, mày thì thụt với thằng quan hai này, chỉ vào vườn nhà tao làm gì!
Đôi mắt bà cụ Hướng sọng đỏ như có ngọn lửa bùng cháy trong đó. Và ngọn lửa đó lao vào để thiêu cháy lý Ngà cho xả lòng uất hận một kẻ bội bạc tình làng nghĩa xóm. Một tiếng súng đanh gọn, lẻ loi vang lên. Tiếng súng đã nhấn chìm cả cái làng Trằm nhỏ bé xuống bờ vực im lặng. Không ai dám bước ra khỏi nhà hỏi xem có chuyện gì xảy ra thế. Ngọn lửa trong mắt bà cụ Hướng dụi vào đống rơm, tắt lịm. Dòng máu đỏ từ ngực bà cụ Hướng lan ra, nhuốm đỏ chân rơm như một ngọn lửa đang nhen.
 Chữa lại thành đình Tên quan hai vung vẩy khẩu súng vừa nhả đạn, hất hàm hỏi cu Toản:
- Sao, chúng mày có khai không hay muốn được như mụ già kia!?
Tên quan hai gí nòng súng vào cằm cu Toản. Cu Toản nhìn vào đôi mắt vằn những tia máu của hắn, thách thức:
- Đồ hèn! Bà cụ có khác nào u mày ở nhà mà nỡ lòng nào, hay mày là đồ không cha không mẹ cho nên không ai dạy mày làm người!
Như con thú say máu, lại bị chạm đến vết thương, tên quan hai hộc lên một tiếng man dại, ngón tay xiết mạnh cò súng. Một tiếng súng đanh gọn, lẻ loi lần nữa vọng qua các bờ tre của làng Trằm âm âm như tiếng sấm chuyển.
Cu Toản không còn được làm người nữa, thân xác treo đung đưa trên cành đa như chiếc bầu đựng máu rưới thẫm đỏ đất làng Trằm.
*
*     *
SUỐT BA THÁNG KHÔNG CÓ LẤY MỘT GIỌT MƯA. AO ĐÌNH SÂU NGẬP CON SÀO, nay trẻ con lội ra gần giữa chưa ngập đầu. Nước từng vũng đỏ như máu, có mùi tanh tanh. Ngoài sông Vàng cũng vậy. Không ai dám bước xuống rửa chân. Cũng còn may là các ao khác trong làng nước vẫn trong như nước mưa, không thì đã có người tính chuyện bỏ làng. Mấy mươi đời người sinh cơ lập nghiệp ở mảnh đất này, chưa bao giờ thấy có chuyện thế này.
Tại bà cụ Hướng với cu Toản chết oan, chết thảm thương, máu cũng không thấm nổi xuống đất, đến lão lái đò cũng sợ không dám chở hồn qua sông, thành ra còn vương vất với làng với xã. Khổ thế, chết rồi cũng không được thanh thản! Phải cúng bái thế nào chứ, để vong đi cho nhẹ.
Nắng chói chang từ mờ sớm tới khi tắt mặt giời. Nóng như đổ lửa. Nửa đêm rồi mà nóng vẫn hầm hập, cứ như ở ngay cạnh lò nung gạch của nhà lý dạo nào. Những búi tre ngày nào cũng rũ lá tơi bời, mấy chốc chỉ còn trơ thân ngỏng lên giời như mũi chông. Cụ tiên Tí lội ra giữa ao nhà vã nước cho mát, vào ngồi dựa cửa ngáp một cái rõ dài, con cháu nhìn mãi không thấy ngậm miệng lại, đến gần thấy trên người mồ hôi tứa ra như dội nước. “Cụ toát dương rồi!” - Anh con cả lẩm bẩm - “Trùng bắt, không khéo rồi chết cả làng, mới có ba tháng mà chục nhà có đám rồi!”
Nhà lý lập đàn cúng tế để vong linh bà cụ Hướng cùng cu Toản đi cho nhẹ, cho trùng đỡ bắt thêm người làng. Tội cho lý Ngà, hôm ấy dập đầu đến chảy máu mà thằng quan hai vẫn không tha cho cu Toản, nay lại hầu thầy tế lễ suốt đêm, ngày thì ngồi chắp tay bái giữa sân đình đến hết ba tuần nhang mới chịu đứng dậy, vào trong đình chắp tay thành kính trước khán cho tới tận tối, chẳng chịu nghỉ ngơi, ăn uống gì. Mới có ba ngày hầu lễ mà lý Ngà gầy khô như gộc tre, bộ mặt hốc hác, đen cháy chỉ thấy tinh hàm răng trắng hởn chìa dài ra như cái đầu lâu chết thui.
“Đại diện mỗi nhà một hoặc hai người vào ngồi lễ thôi, chứ ra cả chật chội nóng bức lắm!” Anh cu Veo đứng chặn cửa đình đuổi bớt người về. “Còn để chỗ cho Bác lý Ngà thở nữa chứ!” Anh cu Veo xúc động, đưa bàn tay khoằm khoè lên dụi mắt. “Không phải vì bát rượu tiết ngọt như đòng đòng mà thằng cu Veo cảm được tấm lòng của lý Ngà mà bỏ qua chuyện xưa đâu đấy nhá! Các ông, các bà thấy cả rồi đấy, nhà lý có xứng là người cai trị anh minh và nhân nghĩa của làng mình không!” Khi hạ lễ trên ban xuống để mọi người thụ lộc, anh cu Veo tức tưởi nói với mọi người.
“Tội gì! Tội chết đâm chết chém thì có! Ông mà nói ra thì ...!” Thì sao thì có nói cu Sông  cũng chỉ dám lụng bụng trong mồm đủ mình nghe thấy nữa là nói hết nhời nhỡ ai biết. Bởi vì ..., chẳng phải có buổi tế lễ cu Sông mới được thụ lộc của nhà lý. “Mẹ cha quân đểu cáng nhá! Ông đáng tuổi cha chú tôi (nhẽ ra chỉ gọi bằng anh, nhưng đời chẳng cho thằng Sông biết chuyện đó) mà giở mặt như giở bàn tay thế à! Ông bảo chỉ hầm chú Sơn để khuyên bảo chú ấy vài câu rồi muốn đi đâu thì đi, thế mà báo cho quan đồn bắt, lại xúi nó bắn chú ấy, nhưng phúc đức nhà tôi còn dầy nhá, nên nó mới bắn nhầm người. Đây biết cả đấy, lúc húi thằng quan hai may mà tôi đứng đằng sau nên biết bụng dạ nhà ông, không thì ông lại lừa dối tôi như lừa dối cả làng à!” Bụng dạ nhà lý thế nào chả lạ gì, hắn sẵn sàng thủ tiêu mình ngay, cho nên có được chai rượu nào, miếng thịt nào của nhà lý đưa cho cu Sông cũng phải hít ngửi thật cẩn thận, dằn chó cho uống thử vài ngụm, ăn thử vài miếng nếu không lăn ra chết lúc ấy mới đến lượt mình đụng vào.
Lý Ngà chiều lòng nó, những lần sau có cái gì mang sang cũng tự mình ăn uống trước để cho cái thằng ma ranh yên tâm. Nó mà lu loa cái chuyện ấy ra thì khốn nạn. Mà sao nó uống nhiều thế, như cái thùng không đáy, chỉ có nếm rượu cho nó thôi mà rát bỏng cả họng, sao nó không cháy ruột cháy gan chết đi cho nhẹ nợ. Nó còn hạch sách, ngày nào cũng phải chui nhủi qua bờ tre đưa rượu cùng thức nhắm vào tận giường nó .Còn phải cung phụng nó đến thế nào nữa đây? Chẳng nhẽ cứ mãi thế này? Hết cách rồi sao?
Bóng nắng vừa xoe tròn dưới chân thì cũng là lúc bát hương trên ban thờ cúng vong đặt bên gốc đa bùng cháy. Anh cu Veo u ú gọi không thành tiếng:
- Cháy ... ú ú, cháy ú ú... kìa!
Tất cả mọi người vội chạy lại, quỳ xụp xuống trước ban thờ, chắp tay, dập đầu vái lia lịa. Thế là bà cụ Hướng với cu Toản đi nhẹ nhàng rồi! Thầy cao tay quá! Nắm hương trên tay ông thầy cúng đảo lên, lộn xuống theo điệu tế, vòng đi, vòng lại quanh ban thờ theo nhịp bước chân của ông cũng bùng cháy thành ngọn lửa, giống như cánh bướm vàng đang vùng vẫy cố thoát khỏi những tiếng rú rùng rợn, bí ẩn từ miệng ông phát ra. Miệng hô tay múa được ba vòng thì ông thầy đứng thở dốc, mặt tái mét, mồ hôi chảy thành dòng như dội nước.
- Thầy mệt rồi, đỡ thầy vào trong đình nghỉ ngơi, chúng mày! - Lý Ngà ra lệnh.
Mấy thanh niên vội xúm lại chắp tay thành kiệu để thầy ngồi lên rước vào đình. Nếu không được âm binh phù trợ thì thầy già yếu thế sao chịu nổi ba ngày hành lễ vừa rồi! Dân làng nhìn nhau xuýt xoa mừng vì gặp được thầy cao tay. Cả bác lý nữa chứ! Người ta không quên nhắc tới công lao của lý Ngà.
- Các cụ vái tạ đi rồi tôi dọn ban! - Cu Veo sốt sắng giục mọi người.
Cốc, cốc, cốc..., tiếng mõ dồn dập như lời tiễn biệt bà cụ Hướng, tiễn biệt anh cu Toản.
Tiếng nam mô phật lầm rầm như ngọn gió thổi trên cánh đồng, tiếng sót thương của con dân làng Trằm với người quá cố.
Bỗng nhiên những tấm thân đang phủ phục thành kính bật ngồi thẳng dậy. Tiếng tụng kinh niệm phật im bặt. Những đôi mắt mệt mỏi, trũng sâu như lòng giếng cạn ngác ngơ nhìn quanh tìm kiếm. Có tiếng rên rẩm quanh quất đâu đây. Chẳng hẳn tiếng người! Lạ lắm! Hay từ cõi âm có câu giả nhời lòng khẩn cầu của con dân làng Trằm?
- Anh cu Veo, có nghe thấy tiếng gì không? - Mọi người trông đợi vào sự tỉnh táo của anh cu Veo.
- Có tiếng gì đâu. Các cụ lễ tạ nhanh lên rồi vào trong đình uống rượu, để con còn hạ ban, nắng bửa đầu rồi đây này. - Anh cu cấm cảu
Anh cu Veo lăng xăng dọn dẹp chắc không bị nhập, nên không nghe thấy chăng? Nhưng tiếng cõi âm nghe sao rõ mồn một thế? Hay ngồi nắng suốt nãy nên đầu óc bị ong? Mọi người nghi ngờ hỏi lại:
- Anh dừng tay lại lắng nghe xem nào!
Anh cu Veo bực bội buông chiếc mâm đồng xuống chân, ngánh tai nghe. Tiếng rên là có thật, anh cu nghe thấy rồi, tiếng ư ử ma quái phát ra từ phía ban thờ. Nhưng sao lại ở nơi ấy?! Trong lòng thấy rờn rợn nhưng anh tỏ ra là người được mọi người trông đợi nhất trong ngày hôm nay, dò dẫm lê chân lại gần ban thờ để xác định cho rõ tiếng rên ấy là gì.
- Có chuyện gì đấy? -  Nhìn những bước chân thậm thọt nhưng thận trọng của anh cu tiến lại gần nơi linh thiêng, mọi người lo lắng hỏi.
Lại gần, tiếng rên rõ mồn một, phát ra từ gậm ban thờ. Quái quỷ gì thế, sao lại như tiếng người ngáy! Anh cu Veo rón rén vén góc tấm rèm phủ ban.
- Mẹ cha mày! - Anh cu Veo buông tấm rèm đứng dậy, mặt hằm hằm tức tối.
- Gì thế? - Mọi người nhổm dậy hỏi
- Mẹ cha cái thằng cu Sông, uống rượu say chui vào đây ngủ! Thằng mất dạy, mày có dậy ngay không!
Không có động tĩnh gì dưới gậm ban thờ. Anh cu Veo hất hẳn tấm rèm lên. Cu Sông vẫn còn ngủ ngon lành, tiếng ngáy khậm khọt giật cục lên từng chập. Con chó xồm nằm gác mõm lên bụng cu Sông cũng say ngủ, tiếng ngáy rít hư hứ như người hen lên cơn.
- Lôi dậy, cho nó một trận! Ai đời dám làm cái chuyện bất kính thế cơ chứ! Nhà này lại có đứa đổ đốn!
Phải gọi thêm người mới lôi được thằng cu Sông ra khỏi gậm ban thờ, chứ sức mình anh cu Veo sao nổi. Anh cu túm gáy con chó xồm lẳng ra ngoài xa, rơi bịch xuống đất như bị giẻ rách. Con chó không hề cựa mình. Nó đã say mềm vì bị cu Sông đổ cho một bát rượu của nhà lý vào bụng để thử.
- Đánh cho nó tỉnh, đánh cho nó chừa rượu để khỏi ô uế làng mình! - Lý Ngà chỉ tay ra lệnh.
Trước khi quay vào đình, lý Ngà hích thằng cu cháu, nói thầm:
- Đánh chết càng tốt, nếu không bắt nó phải vào lậy van tao!
Có căm tức thật đấy nhưng đánh vào cu Sông là đánh vào gia đình nhà cụ tổng, làm thế sao đành, tấm lòng của cụ để lại với làng sao đã phai nhạt được. Cu Sông được hưởng phúc ấm ấy của ông mình để lại, chứ cái thân nó có là gì với đám trai đinh. Cái thằng ba hoa chích choè, dám lên mặt hăm doạ trai làng bao lần rồi, nay có dịp trả thù sao không thẳng tay cho hả.
Biết ai vào ai, hàng chục nắm tay, hàng chục cú đạp tới tấp dáng xuống người, cu Sông muốn mở mắt ra nhìn cũng không xong. Không đau nhưng nhục. Uống được hớp rượu mà chát. Lần đầu tiên thằng Sông biết ôm mặt tránh ánh mắt mọi người. Thằng Sông nằm co quắp, run cầm cập như con chó chờ đòn roi tiếp theo dáng xuống. Không còn cú đánh nào giáng xuống, cu Sông cố chống tay đứng dậy. Nhưng bất ngờ, thằng cu Hiên, cháu lý Ngà đạp thẳng bàn chân vào mặt cu Sông. Cu Sông ngã bật ngửa ra sau, đầu đập vào gốc đa. Mặt mũi xây xẩm như có bức màn đen che phủ, óc như bị vỡ bung ra, đau buốt, cu Sông ôm đầu lăn lộn.
- Mày đánh nó thế à! Nó chết ra đấy thì cả họ nhà mày ăn mừng chắc.
- Cho nó chừa cái thói rượu.
- Cả làng này uống rượu chứ mình nó, cả mày cũng say ỉa vãi ra quần chứ đẹp lắm đấy!
- Mẹ cha nó, cho nó chết!
Lý Ngà xuất hiện trước đám trai đinh, bạt tai cu Hiên:
- Thằng này về! Làng nước với nhau mà không biết bảo ban nhau thì còn ra thể thống gì nữa không. Chúng mày khênh thằng Sông vào đình cho mát, nằm đây phơi khô à!
Cu Sông đã hết choáng, ngồi dậy ôm đầu, những giọt nước mắt trào ra. Nó hiểu ra, thế là nhà lý đã lấy được lòng dân làng này rồi, bây giờ có lu loa lên cũng chẳng ai tin. Giá như còn thầy, còn chú Diệc, còn chú Sơn thì gia đình nó lại yên ấm như những ngày hai u con còn ở trên Hà Nội. Loạn Tây gia đình chỉ mất nhà, còn loạn ta gia đình tan nát cả rồi. U ơi! Cô Thư ơi! Cô Xoan ơi! Đâu cả rồi sao không ra đình cầu siêu cho bà cụ Hướng, cho chú Toản để mình cháu cho chúng nó đánh đập. Nhà ta sao khổ thế cơ chứ!
*
*     *
LÀNG CÓ VIỆC GÌ MÀ KÉO NHAU RA ĐÌNH ĐÔNG THẾ. LẠI CHẾT TRÙNG HAY CÓ KHI bắn giết nữa cũng nên! Đĩ Xoan dừng lại nhìn về đình thở dốc. Bụng ngâm ngẩm đau, đĩ Xoan mắn môi chịu đựng, không để cho các chị biết. Có nhẽ không sao, ngày bác Dạ mang thai thằng Sông chả đi bộ mấy chục cây, về nhà lại phân gio cấy gặt đến khi đẻ có sao đâu. Các bác ấy mà biết đau thế này lại bắt ở nhà chứ chẳng cho đi. Bọn lính đồn sao ác nhân, ba tháng nay năm lần bảy lượt chầu chực, van nài được gặp chồng, gặp em một lúc thôi cũng không cho. Đồ ăn thức uống gửi vào chẳng biết có đến tay. Không khéo chúng nó thủ tiêu rồi nên chối quanh chăng. Chắc không phải, mình cứ nghĩ quẩn, bác Thư bảo rõ ràng nhìn thấy bóng anh ấy im trên vách. Bác ấy không thể nhìn nhầm được.
Nhìn vẻ mặt buồn bã của cô em dâu, bà Thư thấy chán nản khi phải quay về nhà mà chưa được gặp em, kéo tay bà Sông dừng lại. Mấy chị em thở dài ngồi xuống bên cống Rô, không ai nói với nhau câu nào.
Mặt giời như chiếc mâm lửa bốc cháy đùng đùng dưới chân rặng xà cừ bên bờ sông Vàng. Những tán lá vàng ánh, chốc chốc lại trút xuống tơi bời. Cánh đồng Đỗ đen thâm như miếng tiết luộc. Đã ba tháng không được giọt nước nào tưới lên, đến ngọn cỏ cũng xoăn lại, những tở đất nứt toác như cái miệng há ra ngáp thở.
- Mọi năm vào tháng này lo chạy lụt, thế mà năm nay lại ra nông nỗi này, chả biết giời đất ra sao nữa. - Bà Sông vừa xoa hai bàn chân cho đỡ rát vừa nói.
- Tại bà cụ Hướng với cu Toản nhà mình chết oan quá, giời cũng phải tức giận nữa là. - Bà Thư nhấm nhẳn, bực tức.
- Thế sao giời lại không bắt tội cái thằng quan hai ấy, lại giáng hoạ lên làng mình.
Đĩ Xoan nhìn hai chị, rụt rè đề nghị:
- Hay mình nhờ lý Ngà nói giúp, nhà ấy có người nhà ở đồn Cẩm Giang...!
Bà Thư đứng bật dậy, mắng té tát:
- Tôi nói cô thế nào rồi, đừng nhắc tới cái ngữ ấy cơ mà! Cái quân đểu giả ấy, không chừng nó xui bọn đồn không cho mình gặp chứ à!
Bà Sông kéo em ngồi xuống.
- Không có nó thì thằng quan hai đã bắn em mình rồi, sao cô lại cứ cay ca mãi thế. Đời bố nó đểu giả chứ đến nó phải thế đâu.
Bà Thư chắp tay vái hướng về bãi tha ma bên đường, than:
- Ới vong linh vạn kiếp ơi, sao chị em tôi lại mụ mị thế! Ngữ ấy mà tử tế với nhà mình thì giời chẳng đày làng này đến chết khô chết héo. Chị ơi là chị, em ơi là em sống nửa đời ở làng này rồi mà vẫn không tỏ tường mọi nhẽ ư! Ngày mai, ngày mai tôi đi thăm em tôi một mình, tôi nằm chầu chực đến khi nào gặp được nó một lần mới được.
Chưa khi nào bà Sông thấy cô em chồng mất bình tĩnh như lần này. Có nhẽ cô ấy sót anh sót em, lại mệt nhọc, nên dàn hoà:
- Thôi, tôi với thím Xoan sót ruột sót gan thì nói vậy, chứ thật lý Ngà cứu em mình thì tôi có chết cũng chẳng bao giờ bước chân vào nhà ấy chứ nói gì đến nhờ vả.
Tiếng hò reo bên đình làng dội sang. Có chuyện gì mà nhốn nháo lên thế, nghe nói nhà lý cúng vong. Tiếng ồn ào bên ấy tắt lịm cùng bóng mặt giời. Nhưng ánh nắng vẫn vương vãi từng vạt chói loá trên cánh đồng bên Thuận như ông giời còn day dứt chưa muốn buông tha trần thế. Ba chị em không ai bảo ai, lặng lẽ đứng dậy đi về. Lá khô vỡ rào rạo dưới những bước chân mệt mỏi. Khi cu Sơn bị dong đi, đĩ Xoan như phát cuồng, chạy theo kêu gào thảm thiết. Cụ Bá nhìn con cũng không cầm được nước mắt. Mọi ngày hiền lành thế mà khi ấy không kìm được cơn phẫn uất, đĩ Xoan cầm đòn gánh quật túi bụi vào bọn lính đòi thả chồng mình ra. Có nhẽ bắn giết đã ghê tay, chứ không khi bị dính nhát đòn gánh quật ngang lưng của người đàn bà, tên quan hai chẳng ngại ngần gì mà không nổ thêm vài phát súng. Nhìn mắt tên quan hai vằn những tia đỏ ác thú, cụ bá giục mọi người giữ con gái lại.
Sớm hôm sau, gà mới gáy canh tư, đĩ Xoan đã giục các chị đi. “Ngộ nhỡ chúng nó chuyển anh ấy đi đâu thì sao!” Ba người đàn bà lo lắng, vội vã đi ra khỏi làng. Những con chó xồ ra sủa, nhưng chỉ ông ổng vài tiếng rồi đứng ngơ ngác nhìn, bởi những bóng người lướt qua trước mắt chúng như ngọn gió đêm, đến tiếng động cũng thậm thịch thoáng qua những tiếng từ lòng đất dội về. Chỉ có bầu trời sao nhấp nháy, long lanh như ngấn nước mắt sót thương cho thân phận những người đàn bà đang dấn bước dưới hạ giới.
Lần thứ hai trong đời bà Sông đi vội vã trong đêm. Lần trước, đôi chân bà cuống cuồng bước díu vào nhau, tâm trạng bà hoảng loạn, người bà phát run lên vì sợ nhà quan cho người đuổi theo bắt mất thằng Sông. Nhưng khi ấy, bà xác định được cái đích của cuộc chạy trốn. Còn lần này, trước khi ra khỏi cổng bỗng nhiên bà lại vương vào ý nghĩ, liệu có phải do thằng Sông chỉ hầm? Lúc chiều bà đã nghĩ tới việc này. Bà sợ đó lại do nghiệt chướng chỉ mình bà biết và luôn phải đối đầu với những lo lắng thất thường. Bà không ra đình, đến khi cô Thư về nói không phải do thằng Sông bà mới thở dài trút được nỗi lo. Có bóng người phía trước gọi, bà cố dấn bước thật nhanh để đuổi theo. Bà cứ cố bươn lên cho thật nhanh mà không tài nào kịp. Đôi lúc cái bóng ấy lại dừng lại đợi bà. Bà đi như lao vào vực sâu hun hút của bóng đêm, càng đi càng thấy thăm thẳm, không biết rồi sẽ tới đâu. Bà đi như chạy trốn cái ý nghĩ do thằng Sông chỉ hầm đang ám ảnh.
- Bác đi vội thế, đâm quáng đâm quàng như ma đuổi!
Bị bà Thư níu tay lại bà Sông mới giật mình choàng tỉnh thoát khỏi cơn mộng mị. Chẳng nhẽ là ma ám, là vong hồn ông ấy gọi mình đi. Thế thì mình sẽ đi chịu tội, để giải cái nghiệt chướng do mình gây ra, có thế thằng Sông mới sống làm người họ Nguyễn được. Mình sẽ đi, ông ấy đang đợi mình đấy. Đúng rồi, vong của ông ấy còn vương vất ở ngoài bãi cỏ lăn Đồng Chung ấy, chưa thể đi xa được. Bà Sông dứt tay khỏi bà Thư, cắm đầu đi như lao mình vào bóng đêm.
Bà Thư phải cố sức chạy thật nhanh mới đuổi kịp chị dâu. Bà níu chặt tay bà Sông lại đi cùng mình. Bác ấy làm sao rồi, lên cơn rồ dại lúc này thì khổ, bà Thư nhìn vào mắt chị dâu thấy long lanh những tia sáng man dại. Bác ấy luôn miệng lấm bẩm, liệu có phải thằng Sông chỉ hầm, nước dãi chảy ra bên mép như người phát rồ. Chẳng nhẽ đã bảo là không phải thằng Sông rồi mà bác ấy vẫn không tin sao. Thằng Sông có điều gì đáng ngờ? Chỉ có ba người biết cửa hầm, bà cụ Hướng thì hẳn không rồi, bà có nói hở ra điều gì đâu, vậy còn thằng cu Sông. Bà theo nó từng bước, nó say bí tỉ như vậy có nói ra điều gì đâu. Thế thì còn ai? Sao lại khổ thế này hả giời, lúc này còn nghi ngờ cho người nhà mình nữa sao! Lại cô em dâu bụng mang dạ chửa lê lết chân đằng sau nữa chứ. Quỵ xuống lúc này mà xảy thai thì đúng là gia đình mình tận số rồi. Thôi về đi, cái vận cái hạn giời đã giáng rồi có lên gặp đồn cũng phỏng ích gì. Bà Thư buông tay chị dâu, đứng lại chán nản. Cả bà nữa, ngày cụ tổng khuyên bà đi lấy chồng, bà không chịu nên nói thác, bà sinh ra là để làm bà tổ cô trông coi gia đình đẻ mình. Thế mà bà đã không dứt khoát, lấy chồng để rồi gia đình chồng cũng phải mắc oan, để rồi bây giờ phải khổ. Thư ơi! Cái tính săm xắn vơ lấy việc là giống thầy con. Con còn trẻ dại, muốn được theo chú theo bác làm những việc hệ trọng thì tránh sao được những sơ sót, để thiệt vào thân.
- Đi đi chị ơi! Giời sáng rõ rồi, không khéo bọn nó lại giải đi đâu không biết!
Thế là giời đã sáng bảnh từ lúc nào bà cũng không hay. Chị dâu ngồi bệt xuống đường thở nấc lên từng chập. Em dâu đứng vịn cành duối, ôm ngực ho rát như tiếng cuốc kêu. Hai gương mặt vàng bệch như nghệ nhìn bà khẩn cầu, chỉ còn bà là chỗ dựa duy nhất của họ. Thằng cu Sơn là em bà, là người bà đã thay u chăm bẵm từ lúc mới ra đời và cũng từ ngày ấy cu Sơn đã coi trọng bà không chỉ bằng tình cảm chị em mà như người mẹ nữa, thế mà bà lại có ý nghĩ buông xuôi cho số phận xoay vần sao!
- Đến Đồng Trung rồi cơ à? Kia, bốt nó kia rồi, nghỉ ăn nắm cơm đã, từ hôm qua bác Sông đã ăn tí gì đâu - Bà Thư nói để tránh ánh mắt của cô em dâu.
- Tôi không đói. Cứ vào bốt xem sao đã, tôi thấy nóng ruột thế nào ấy, không khéo...!
Đoàn tầu hoả sầm sập chạy qua cầu. Mặt đất rung chuyển. Đàn vịt giời đang kiếm ăn ở những vũng nước còn sót lại trong bạt cỏ lăn vội bay toá lên, tiếng kêu the thé hoảng loạn. Những tên lính tuần đêm mệt mỏi lê chân về bốt. Chiếc lô cốt bên đầu cầu vừa xây xong còn xanh màu đá, trông như nấm mồ khổng lồ. Những ụ súng lùm lùm chất bằng bao cát bao quanh dãy nhà lợp tôn là những nấm mồ con.
- Thằng quan hai kia kìa!
Bà Thư chỉ vào một bóng người đang từ trong dãy nhà ngang đi ra. Hắn có vẻ mệt mỏi sau một ngày càn quét căng thẳng, đứng giữa sân vươn vai ngáp dài.
- Vào đi!
Ba chị em giục nhau. Vừa bước ra khoảng cánh đồng trống thì một loạt súng vang lên, những viên đạn găm chiu chíu xuống trước mặt, ba chị em giật mình đứng sựng lại.
- Chúng nó bắn doạ đấy, cứ đi vào đi! - Bà Thư giục rồi mạnh dạn đi vượt lên trước.
Ba chị em vượt qua những thửa ruộng khô nẻ, cạnh đất sắc như dao cứa vào lòng bàn chân tứa máu. Lên đến đường tầu, những viên đá răm thúc vào chân buốt nhói, ba chị em vẫn dấn bước cho thật nhanh.
- Đứng lại! Mấy mụ này đi đâu!
Trước mặt ba chị em là sắc áo vàng của ba tên lính như ba đống đất chặn lại:
- Các ông làm ơn cho tôi vào gặp ngài quan hai! - Bà Sông nói van nài
- Đi đứng thế hả! Tại sao đường cái không đi, chạy ngang cánh đồng thế, phải thằng khác gác thì nó bắn chết rồi.
Thế là gặp may rồi, mấy tên lính này chắc không phải là loại người xấu, nhờ hắn nói với tên quan hai có khi được việc, ba chị em mừng thầm. Đĩ Xoan khoanh tay lễ phép nói với bọn lính:
- Dạ, chúng tôi là dân làng Trằm, có mấy khi ra khỏi làng đâu mà biết đồn bốt, đi đứng thế nào. Vả lại chồng tôi bị bắt về đồn chiều qua, sót xa quá cho nên không để ý đường đi lối lại.
- Thế là người nhà ông Sơn hả? Hình như mấy anh em đều bị bắn chết đêm vừa rồi phải không? Sao lại mạt vận thế!
Bà Sông đập hai tay vào đùi khóc rống lên:
- Khổ thế đấy ông ơi! Ai lại nhà tôi một lúc chết mấy anh em, còn thằng cu Sơn bị bắt về đồn giờ chẳng biết sống chết ra sao!
- Bà đừng khóc nữa, ông ấy còn sống. - Người lính hạ giọng nói nhỏ - Nhẽ ra phải giải đi rồi nhưng ngài quan hai giữ lại để khai thác, còn những ai là Việt Minh ở vùng này để ngài lập công.
- Thế ông ta đánh đập em tôi có đau không?
- Tôi gác ngoài này không biết. Nhưng còn sống.
- Làm ơn nói giùm để cho chúng tôi gặp em tôi một lát, được không?
- Không được đâu.... Nhưng cứ để tôi hỏi thử xem sao.
Người lính đi vào bốt, lúc sau trở ra cùng tên quan hai. Ba chị em khấp khởi mừng, hắn đích thân ra chắc là đồng ý. Tên quan hai dệnh dạng đi tới trước mặt ba chị em, mắt gườm gườm. Trong mắt hắn vẫn còn vằn những tia máu đỏ.
- Thằng Sơn không chịu khai tao bắn chết rồi.
Giời sập trước mặt, ba chị em ngồi sụp xuống hai tay hết đập đất lại vái giời, miệng gào khóc thảm thiết:
- Ới giời cao đất dầy ơi, ới cụ kị tổ tiên ơi, tưởng rằng nhà này còn lại thằng Sơn, thế mà em tôi cũng lại bỏ các chị, các cháu, bỏ lại vợ con bơ vơ mà đi thế, em ơi!
- Ới anh ơi, sao anh không cố ở lại nhìn mặt con anh lấy một lần rồi hãy đi, anh ơi!
Nhìn ba người đàn bà lăn lộn, gào khóc, tên quan hai đứng ghếch chân lên đường ray ngạo nghễ, cười hềnh hệch khoái trá.
- Thế nào, tận hưởng hết mọi sự đau khổ chưa. Muốn được tin mừng không? Nếu gặp mà khuyên nó khai ra thì cuộc đời của cả nhà chúng mày sẽ sung sướng, còn hơn hẳn nhà lý Ngà kia.
Tiếng khóc của ba người đàn bà nín bặt. Những ánh mắt mở to, ngước lên nhìn tên quan hai nghi ngờ. Đĩ Xoan lết đầu gối tới bám vào tay áo tên quan hai, cầu khẩn:
- Có thật nhà con còn sống không!? Con xin ông cho con gặp nhà con lấy một lần!
- Chúng mày có cam đoan, gặp nó phải khuyên nó khai ra thì tao mới cho gặp.
Bà Thư đứng dậy, dụi đôi mắt còn khô nguyên, giọng cương quyết:
- Thằng cu Sơn biết làm thế nào cho phải, chúng tôi phận đàn bà con gái khuyên bảo sao được. Ngài là người có lòng vị tha, vì tình cảnh gia đình chúng tôi gặp tai ương mà giúp đỡ thì chúng tôi đội ơn lắm.
- Ăn nói khẩu khí, sắc xảo lắm, đúng là con gái ông đồ, nghe nói đã lâu mà bây giờ mới tường. Còn cô Xoan, xinh xắn thế này mà mất chồng sớm thì lạnh buồng the, liệu có đành lòng theo gương của chị cô đây mà ở vậy thờ chồng? Nếu không thuyết phục được thì cứ chờ đấy, nhá!
Hắn đi vào bốt và không một lần trở ra.
Ba ngày đã qua, những hạt cơm nắm mang theo đã hết, lòng vị tha của tên quan hai không hề hé mở, giống như cánh cửa buồng giam mà người lính tốt bụng chỉ cho vẫn đóng im ỉm, đến tiếng động bên trong ấy cũng không hề lọt ra ngoài, ba chị em đến lúc phải tính chuyện về mang lương thực theo để ăn chực nằm chờ tiếp, nhất định có ngày bọn chúng phải giải cu Sơn nộp cho cấp trên. Khi ấy sẽ được, dù chỉ nhìn thấy mặt cu Sơn một lát thôi cũng yên lòng. Mới sớm mai, mặt đất đã chao đảo bởi những bánh xe tầu hoả lăn sầm sập tiến về phía cầu. Tên lính gác như thường lệ ra đứng cạnh đường ray, phất cờ báo hiệu đường thông. Nhưng lần này khác với những lần trước, chiếc đầu máy đến gần đầu cầu bỗng đứng khựng lại giây lát, hộc ra đụn khói đen ngòm như con mãnh thú thở dốc để chuẩn bị lao vào cuộc tử chiến. Nó từ từ lăn bánh chậm chạp tiến vào cầu như con rắn đã nuốt được con mồi no, nặng nề không muốn bò đi. Đến khi qua hết đoạn cầu, chiếc đầu máy như giật mình nhớ tới công việc hàng ngày, những bánh xe lồng lên quay tít tại vài vòng để khởi động cho cuộc chạy nước rút bắt đầu.
Ba chị em còn chưa kịp vuột hết bụi từ đoàn tầu thổi thốc vào mặt thì người lính tốt bụng đã hốt hoảng chạy ra thông báo:
- Ông Sơn vừa bị đưa lên tầu xuôi rồi!
- Sao cơ!? Sao lên lúc nào nhanh thế, chúng tôi không thấy gì!?
- Đi đâu hả bác?
- Tôi cũng không biết, có nhẽ xuống Cẩm Giang.
“Sơn ơi!” Ba chị em gào khóc chạy theo đoàn tàu. Chỉ loáng cái, đoàn tàu chỉ còn như chiếc đuôi con rắn ve vẩy giễu cợt ba người đàn bà trước khi mất hút vào hang sâu.
- Thôi, các bác về đi, còn phải lo làm ma cho các bác, cho thằng cu Thư nữa, để em đi một mình xuống Cẩm Giang xem sao cũng được!
- Người sống không lo, lo gì cho người chết, việc ấy cô Dạ ở nhà lo cả rồi, phải gặp thằng cu Sơn cho bằng được, phải biết nó sống chết thế nào!
Ba người đàn bà tháo khăn lau những dòng mồ hôi chảy thõng thượt trên mặt. Trước mắt là hai thanh đường ray như hai sợi bấc dài tít tắp đang bốc cháy ngùn ngụt dưới bóng nắng lấp loá và họ lao vào đó với đôi bàn chân xẻ tướp vì đá răm. Thương cho đĩ Xoan, lần đầu tiên phải đi xa nhà tới chục cây số, lại bụng mang dạ chửa liệu có xảy ra việc gì thì lại khổ. Và cái nắng đã hút cạn những giọt nước mắt đau khổ, hút kiệt những giọt nước trên cơ thể, để cho đôi môi khô nẻ, đôi bắp chân quấn thêm bụi đường trông như những gộc tre cháy dở. Bóng ba người đàn bà như ba vết bôi thâm trên nền vàng gắt gao của đất trời.
Đến lúc mặt giời đứng bóng thì đồn Cẩm Giang cũng hiện ra trước mắt ba chị em. Hai chiếc lô cốt to lù lù như đầu hai con ác thú khổng lồ, với những lỗ châu mai là những con mắt đen ngòm, trợn trừng đe doạ ba người đàn bà đang đến gần. Những dãy nhà lợp tôn ở phía sau như đàn con của con ác thú nằm rúc vào nhau để tránh cái nắng nóng hầm hập như thiêu như đốt trên lưng chúng. Ba người đàn bà yếu đuối chẳng làm những con ác thú bận tâm, chúng để cho họ đến gần nhìn ngó bằng những con mắt đau khổ, để cho những bàn tay khô như cành tre rong rờ lên lớp da cóc cáy lấy làm thích thú. Chúng cố tình để cho ba người đàn bà cất tiếng gọi khàn khô, rin rít như những thanh nứa cọ vào nhau mới chịu cựa mình.
- Các ông ơi, cho tôi hỏi thăm dùm!
Mấy thân hình lòng khòng trong bộ ka ki màu vàng đất chui ra từ miệng con ác thú, gắt gỏng hỏi:
- Khiếp, ba mụ trông như ba con ma, có việc gì mà đến quấy quả vào giờ này?
Bà Sông chắp hai tay trước ngực kính cẩn:
- Đội ơn các ông đã cất công ra ngoài giời nắng thế này. Chả là, em tôi là thằng cu Sơn bị bốt bà Sinh bắt hôm nọ, nghe nói sáng nay chở về đây.
- Phải rồi, muốn gặp hả? Thế thì phải chờ ngài quan ba dậy đã, ra ngoài làng nghỉ tạm, cứ lởn vởn ở đây không khéo lại ăn đạn.
Lại tưởng gặp may, thế nhưng gần ba tháng, năm lần bảy lượt đi về là năm lần bảy lượt thằng quan ba gọi vào phòng giở giọng ngọt nhạt, ỡm ờ chòng gẹo, rồi hứa lần sau sẽ cho gặp, vậy mà đã lần nào được gặp.

Thằng cu Sông nằm chúi vào góc giường tấm tức khóc. Thật là chuyện lạ, từ ngày có nó trên đời đến hôm nay mới thấy, nhưng ruột gan còn rối bời bà Sông cũng chẳng để tâm tới việc hỏi han nó có sao, chiều nay ở đình làng có việc gì. Nó lớn rồi, bà chặc lưỡi, thở dài, nó biết phải làm gì để mà sống cho nên người, cũng may việc tan cửa nát nhà này không phải nó gây ra. Bà cời bếp cháy to lên để nồi cơm mau sôi. Nồi cơm sôi ình ịch, đám bọt trắng lốp đẩy nắp vung trào ra ngoài. Bà mở vung, lấy đũa cả gạt lớp váng bên trên. Từ hạt gạo rắn đanh, qua nước và lửa sẽ thành hạt cơm thơm dẻo, thằng cu Sông biết khóc hẳn nó đã biết suy nghĩ, thế là cái phúc của nhà này còn dầy. Bà chắp tay thành kính trước ngực tỏ lòng thành kính và biết ơn tổ tiên nhà ông Diệc đã không bắt tội bà, bắt tội thằng cu Sông, để cho cái nghiệt chướng ấy sống làm con người.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét